Thuốc Lizolid-600 là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Lizolid-600 (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Linezolid
Phân loại: Thuốc kháng sinh nhóm Oxazolidinone .
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J01XX08.
Biệt dược gốc: Zyvox
Biệt dược: Lizolid
Hãng sản xuất : Glenmark Pharmaceuticals Ltd.
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén bao phim 600 mg.
Thuốc tham khảo:
| LIZOLID-600 | ||
| Mỗi viên nén bao phim có chứa: | ||
| Linezolid | …………………………. | 600 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Viêm phổi bệnh viện
Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng
LIZOLID được chỉ định để điều trị viêm phổi mắc phải tại cộng đồng và viêm phổi tại bệnh viện ở người lớn trong các trường hợp biết rõ hoặc nghi ngờ do các vi khuẩn Gram dương nhạy cảm gây ra. Khi xác định liệu LIZOLID có phải là thuốc điều trị thích hợp hay không, cần xem xét kết quả xét nghiệm vi sinh hoặc các thông tin về tỷ lệ kháng thuốc ở các vi khuẩn Gram dương (xem phần Dược lực học).
Linezolid không có hoạt tính trên vi khuẩn Gram âm. cần các liệu pháp điều trị riêng vi khuẩn Gram âm nếu ghi nhận hoặc nghi ngờ tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Gram âm.
Nhiễm khuẩn da và mô mềm có biến chứng
Linezolid được chỉ định điều trị nhiễm trùng ở da và mô mềm có biến chứng nếu test vi sinh đã xác định nhiễm trùng gây ra bởi vi khuẩn Gram dương nhạy cảm.
Linezolid không có tác dụng đối với vi khuẩn Gram âm. Vì vậy thuốc chỉ nên được dùng điều trị cho bệnh nhân nhiễm trùng da và mô mềm có biến chứng khi xác định hoặc có thể đồng nhiễm với vi khuẩn Gram âm nếu không có sẵn phương pháp điều trị thay thế. Trong trường hợp này, điều trị vi khuẩn Gram âm phải được tiến hành đồng thời.
Linezolid chỉ nên được bắt đầu điều trị ở trong bệnh viên sau khi tư vấn ý kiến chuyển gia như nhà vi khuẩn học hoặc chuyển gia về bệnh truyền nhiễm
LIZOLID được chỉ định để điều trị các nhiễm khuẩn da và mô mềm biến chứng ở người lớn chỉ khi thực hiện các xét nghiệm vi sinh cho thấy nhiễm khuẩn do vi khuẩn Gram dương nhạy cảm gây ra.
Linezolid không có hoạt tính trên vi khuẩn Gram âm. Linezolid chỉ được sử dụng ở những bệnh nhân có các nhiễm khuẩn da và mô mềm biến chứng đã biết hoặc có thể nhiễm đồng thời vi khuẩn Gram âm, nếu không có sẵn phương pháp điều trị thay thế. Trong những trường hợp này, điều trị kháng vi khuẩn Gram âm cần phải được bắt đầu cùng lúc.
Linezolid chỉ nên bắt đầu sử dụng ở bệnh viện. sau khi tham khảo ý kiến chuyển gia trong lĩnh vực vi sinh hoặc các bệnh truyền nhiễm.
Cần xem xét các hướng dẫn chính thức về việc sử dụng kháng sinh hợp lý.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Khuyến cáo dùng đường uống 2 lần mỗi ngày.
Viên nén bao phim LIZOLID có thể sử dụng đồng thời với thức ăn hoặc không.
Liều dùng:
Viên nén bao phim LIZOLID có thể sử dụng như thuốc điều trị ban đầu. Bệnh nhân có chỉ định dùng thuốc tiêm có thể được chuyển sang chế phẩm uống khi có chỉ định lâm sàng. Trong trường hợp này, không cần điều chỉnh liều vi linezolid có sinh khả dụng đường uống xấp xỉ 100%.
Liều khuyến cáo và thời gian điều trị ở người lớn:
Thời gian điều trị phụ thuộc vào tác nhân gây bệnh, vị trí nhiễm khuẩn, mức độ nghiêm trọng, và đáp ứng lâm sàng của bệnh nhân.
Các khuyến cáo về thời gian điều trị sau đây được rút ra từ các thử nghiệm lâm sàng. Phác đồ điều trị ngắn hơn có thể thích hợp cho một số loại nhiễm khuẩn nhưng chưa được đánh giá trong các thử nghiệm lâm sàng.
Thời gian điều trị tối đa là 28 ngày. Chưa xác định an toàn và hiệu quả của Linezolid khi dùng trong thời gian lâu hơn 28 ngày.
Không tăng liều khuyến cáo hoặc thời gian điều trị trong các bệnh nhiễm khuẩn liên quan đồng thời với nhiễm khuẩn huyết.
Liều khuyến cáo như sau:
| Loại Nhiễm khuẩn | Liều dùng | Thời gian điều trị |
| Viêm phổi tại bệnh viện | 600mg – 2 lần/ ngày | 10-14 ngày liên tiếp |
| Viêm phổi mắc phải cộng đồng | ||
| Nhiễm trùng da và mô mềm có biến chứng | 600mg – 2 lần/ ngày |
Trẻ em:
Chưa xác định an toàn và hiệu quả của linezolid ở trẻ em (< 18 tuổi). Các dữ liệu hiện có được đề cập trong phần Tác dụng không mong muốn và Dược động học nhưng không có khuyến cáo về liều dùng
Người lớn tuổi: Không cần điều chỉnh liều
Suy thận: Không cần điều chỉnh liều
Suy thận nặng: (Clcr< 30 ml/phút):
Không cần điều chỉnh liều. Chưa biết rõ ý nghĩa lâm sàng của việc tăng cao (lên đến 10 lần) nồng độ hai chất chuyển hóa chính của Linezolid ở bệnh nhân suy thận nặng, nên sử dụng Linezolid thận trọng ở những bệnh nhân này và chỉ khi lợi ích vượt trội nguy cơ.
Khoảng 30% liều Linezolid được loại bỏ trong suốt 3 giờ chạy thận nhân tạo. nên sử dụng Linezolid sau khi lọc máu ở những bệnh nhân này. Các chất chuyển hóa chính của Linezolid bị loại bỏ lượng lớn sau khi thẩm phân máu, tuy nhiên nồng độ của các chất chuyển hóa này sau khi thẩm phân máu vẫn còn cao hơn đáng kể so với bệnh nhân có chức năng thận bình thường hoặc suy thận nhẹ đến trung bình.
Do đó cần thận trọng khi sử dụng Linezolid ở bệnh nhân suy thận nặng đang chạy thận nhân tạo và chỉ khi lợi ích vượt trội nguy cơ.
Cho đến nay chưa có kinh nghiệm sử dụng Linezolid ở bệnh nhân trải qua thẩm phân màng bụng di động liên tục (CAPD) hoặc phương pháp điều trị thay thế cho bệnh nhân suy thận (khác với chạy thận nhân tạo).
Suy gan
Không cần điều chỉnh liều. Tuy nhiên, với những dữ liệu lâm sàng còn hạn chế. khuyến cáo chỉ nên sử dụng thuốc ở những bệnh nhân này khi lợi ích vượt trội nguy cơ..
4.3. Chống chỉ định:
Bệnh nhân mẫn cảm với linezolid hay bất cứ thành phần nào của thuốc.
Linezolid không được sử dụng cho bệnh nhân dùng bất cứ một thuốc ức chế monoamin oxidase A hoặc B (ví dụ phenelzine, isocarboxazid, selegiline, moclobemide) hoặc trong vòng 2 tuần sau khi dùng các thuốc này.
Nếu không có các phương tiện để theo dõi huyết áp, linezolid không nên dùng cho các bệnh nhân với các điều kiện lâm sàng cơ bản hoặc dùng đồng thời với các thuốc sau:
Bệnh nhân tăng huyết áp không kiểm soát được, u tế bào da crom, carcinoid, nhiễm độc giáp, bệnh trầm cảm lưỡng cực, rối loạn phân liệt cảm xúc, trạng thái lú lẫn cấp tính.
Bệnh nhân đang dùng bất kỳ loại thuốc sau: các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin, thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc đồng vận thụ thể serotonin 5-HT1 (triptans), các tác nhân giao cảm trực tiếp và gián tiếp (bao gồm các thuốc giãn phế quản adrenergic, pseudoephedrin và phenylpropanolamin), các tác nhân vận mạch (epinephrin, norepinephrin), tác nhân dopaminergic (ví dụ như dopamin, dobutamin), pethidin hoặc buspiron.
Các tài liệu nghiên cứu trên động vật cho thấy linezolid và các chất chuyển hóa của nó có thể đi vào sữa mẹ do đó, nên ngưng cho con bú trước khi và trong suốt quá trình dùng thuốc.
Quá mẫn với Linezolid hoặc bất kỳ thành phần tá dược nào của thuốc.
Linezolid không nên sử dụng ở bệnh nhân đang dùng hoặc đã dùng trong vòng 2 tuần gần đây các thuốc ức chế Monoamine Oxidase A hoặc B (như Phenelzin, Isocarboxazid, Selegilin, Moclobemid). Trừ khi có các phương tiện để theo dõi huyết áp, linezolid không nên dùng cho các bệnh nhân với các điều kiện lâm sàng cơ bản hoặc dùng đồng thời với các thuốc sau:
Bệnh nhân tăng huyết áp không kiểm soát được, u tủy thượng thận, ung thư, nhiễm độc giáp, rối loạn lưỡng cực, rối loạn tâm thần phân liệt, trạng thái lú lẫn cấp tính.
Bệnh nhân đang dùng bất kỳ loại thuốc nào sau đây: thuốc ức chế tái hấp thu Serotonin, thuốc chống trầm cảm ba vòng, các thuốc đồng vận thụ thể Serotonin 5- HTI (các Triptan), các thuốc có hoạt tính giống giao cảm trực tiếp và gián tiếp (bao gồm các thuốc giãn phế quản nhóm Adrenergic, Pseudoephedrin và Phenylpropanolamin), các thuốc vận mạch (Epinephrin, Norepinephrin), các Dopaminergic (Dopamin, Dobutamin), Pethidin hoặc Buspiron.
Các dữ liệu trên động vật cho thấy linezolid và các chất chuyển hóa của nó có thể qua sữa mẹ, vì vậy nên ngưng cho con bú trước và trong khi điều trị
4.4 Thận trọng:
Suy tủy:
Suy tủy (bao gồm thiếu máu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu và giảm toàn thể huyết cầu) đã được báo cáo ở bệnh nhân sử dụng linezolid.
Trong trường hợp đã xác định suy tủy, sau khi ngưng sử dụng linezolid các thông số huyết học tăng về mức bình thường như trước khi điều trị.
Nguy cơ xuất hiện các triệu chứng này có liên quan đến thời gian điều trị. Bệnh nhân lớn tuổi được điều trị với linezolid tăng nguy cơ rối loạn chức năng tạo máu hơn so với bệnh nhân trẻ. Giảm tiểu cầu có thể xuất hiện phổ biến hơn ở bệnh nhân suy thận nặng. có lọc máu hoặc không. Vì vậy, khuyến cáo theo dõi chặt chẽ công thức máu ở những bệnh nhân: thiếu máu từ trước, giảm bạch cầu hạt hoặc giảm tiểu cầu, sử dụng đồng thời với các thuốc có thể làm giảm nồng độ hemoglobin, làm giảm số lượng tế bào máu hoặc ảnh hưởng đến số lượng hoặc chức năng tiểu cầu, bệnh nhân suy thận nặng. bệnh nhân sử dụng thuốc nhiều hơn 10-14 ngày. Chỉ nên dùng linezolid cho những bệnh nhân này khi theo dõi chật chẽ nồng độ hemoglobin, công thức máu và số lượng tiểu cầu.
Nếu suy tay nghiêm trọng xảy ra trong khi điều trị với linezolid, cân ngưng điều trị trừ khi thật cần thiết phải tiếp tục điều trị. lúc đó cần thực hiện theo dõi công thức máu và có kế hoạch kiểm soát thích hợp.
Ngoài ra. khuyến cáo theo đõi công thức máu toàn bộ (bao gồm nồng độ hemoglobin, số lượng tiểu cầu, tổng số lượng bạch cầu và số lượng từng loại bạch cầu) hàng tuần ở bệnh nhân điều trị bằng linezolid bất kể công thức máu ban đầu như thế nào,
Trong các nghiên cứu tiếp cận mơ rộng, đã ghi nhận tỷ lệ cao bệnh thiếu máu nghiêm trọng ở những bệnh nhân dùng linezolid lâu hơn thời gian khuyến cáo là 28 ngày. Cần thường xuyên truyền máu ở những bệnh nhân này. Các trường hợp thiếu máu cần truyền máu cũng đã được báo cáo sau khi đưa thuốc ra thị trường, với nhiều trường hợp xảy ra ở những bệnh nhân được điều trị linezolid trong hơn 28 ngày.
Các trường hợp thiếu máu nguyên hồng cầu đã được báo cáo sau khi đưa thuốc ra thị trường. Ở các trường hợp có biết thời gian khởi phát, hầu hết bệnh nhân đã được điều trị linezolid trong hơn 28 ngày. Hầu hết bệnh nhân hồi phục hoàn toàn hoặc một phần sau khi ngưng sử đụng linezolid cùng với việc điều trị hoặc không điều trị thiếu máu.
Mất cân bằng tỷ lệ tử vong trong một thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Gram dương liên quan đến đặt ống thông
Đã ghi nhận tỷ lệ tử vong cao ở bệnh nhân điều trị bằng linezolid, so với vancomycin/dicloxacilin/oxacilin. trong một nghiên cứu nhãn mở ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng liên quan đến đặt ống thông nội mạch (78/363 (21.5%) so với 58/363 (16.0%)), Các yếu tố chính ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong là tình trạng nhiễm khuẩn Gram dương ban đầu. Tỷ lệ tử vong cũng tương tự như ở các bệnh nhân bị nhiễm khuẩn hoàn toàn do vi khuẩn Gram dương gây ra (tỉ số chênh 0,96; khoảng tin cậy 95%: 0.58-1,59) nhưng cao hơn đáng kể (p = 0.0162) ở nhóm bệnh nhân sử dụng linezolid có tác nhân gây bệnh khác hoặc không có tác nhân gây bệnh lúc ban đầu (tỉ số chênh 2,48; khoảng tín cậy 95%: 1,38-4.46). Sự mất cân bằng lớn nhất xảy ra trong khi điều trị và trong vòng 7 ngày sau khi ngừng thuốc nghiên cứu. Nhiều bệnh nhân ở nhóm sử dụng linezolid nhiễm vi khuẩn Gram âm trong qua trình nghiên cứu và đã chết vì nhiễm khuẩn do các vi khuẩn Gram âm và đa nhiễm. Vì vậy, trong các nhiễm khuẩn da và mô mềm biến chứng, chỉ nên sử dụng linezolid ở bệnh nhân đã biết hoặc có thể do đồng nhiềm vi khuẩn Gram âm, nếu không có sẵn phương pháp điều trị thay thể. Trong những trường hợp này, điều trị các vi khuẩn Gram âm phải được bắt đầu đồng thời.
Tiêu chảy và viêm đại tràng liên quan đến kháng sinh
Tiêu chảy liên quan kháng sinh và viêm đại tràng liên quan kháng sinh, bao gồm viêm đại tràng giả mạc và tiêu chẩy do Clostridium difficile, đã được báo cáo khi sử dụng hầu như tất cả các kháng sinh bao gồm linezolid và có thể dao động về mức độ nghiêm trọng từ tiêu chảy nhẹ đến viêm đại tràng gây tử vong. Vì vậy, cần phải xem xét chẩn đoán bệnh ở những bệnh nhân bị tiêu chảy nặng trong hoặc sau khi sử dụng linezolid.
Nếu nghi ngờ hoặc đã xác định tiêu chảy hoặc viêm đại tràng do sử dụng kháng sinh, cần ngưng sử dụng kháng sinh bao gồm linezolid và cần bắt đầu ngay liệu pháp điều trị thích hợp. Chống chỉ định sử dụng các thuốc ức chế nhu động ruột trong những trường hợp này.
Nhiễm toan lactic
Đã có báo cáo về các trường hợp nhiễm toan lactic ở bệnh nhân dùng linezolid. Các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm toan chuyển hóa bao gồm buồn nôn liên tục, nôn mửa, đau bụng, giảm nồng độ bicarbonat, hoặc tăng thông khí phổi trong khi sử dụng linezolid cần được chăm sóc ngay lập tức tại cơ sở y tế. Nếu nhiễm toan lactic xảy ra, cần phải cân nhắc lợi ích nguy cơ khi tiếp tục sử dụng thuốc.
Rối loạn chức năng ty thể
Linezolid ức chế tổng hợp protein của ty thể, Kết quả của sự ức chế này là các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra, như nhiễm toan lactic, thiếu máu và bệnh thần kinh (thần kinh thị giác và thần kinh ngoại biên), điều này phổ biến hơn khi sử dụng thuốc lâu hơn 28 ngày.
Hội chứng serotonin
Các báo cáo tự phát của hội chứng serotonin có liên quan với việc sử dụng đồng thời linezolid và các serotonin. bao gồm thuốc chống trầm cảm như thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI). Vì vậy chống chỉ định phối hợp thuốc này (xem phần chống chỉ định), trừ trường hợp sự phối hợp này thật cần thiết. Trong những trường hợp này, cần theo đõi chặt chẽ các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng serotonin ở bệnh nhân, bao gồm rối loạn nhận thức, sốt cao, tăng phản xạ quá mức và mất phối hợp. Nếu các dấu hiệu hoặc triệu chứng này xảy ra, nên xem xét ngừng một trong hai hoặc cả hai thuốc, nếu ngưng sử dụng các serotonin. các triệu chứng ngừng thuốc có thể xảy ra.
Bệnh thần kinh ngoại biên và bệnh thần kinh thị giác
Bệnh lý thần kinh ngoại biên, thần kinh thị giác và viêm dây thần kinh thị giác đôi khi tiến triển đến mất thị lực, đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị bằng linezolid, các báo cáo này chủ yếu là ở những bệnh nhân điều trị trong thời gian lâu hơn so với thời gian khuyến cáo tối đa là 28 ngày.
Cần tư vấn bệnh nhân thông báo các triệu chứng suy giảm thị lực, như những thay đổi về thị lực, thay đổi tầm nhìn màu sắc, mờ mắt, hoặc giảm tầm nhìn. Trong trường hợp này, bệnh nhân cần được thăm khám ngay bởi bác sĩ chuyên khoa mắt. Cần theo dõi chức năng thị giác thường xuyên ở bệnh nhân dùng thuốc lâu hơn thời gian khuyến cáo là 28 ngày.
Nếu bệnh thần kinh ngoại biên hay thần kinh thị giác xuất hiện, cần cân nhắc việc có tiếp tục sử dụng thuốc hay không với những nguy cơ tiềm ẩn có thể xảy ra.
Bệnh lý thần kinh có thể tăng lên khi sử dụng linezolid ở bệnh nhân đang dùng hoặc gần đây có dùng các thuốc kháng lao.
Co giật
Đã có báo cáo về tình trạng co giật ở bệnh nhân sử dụng thuốc. Trong hầu hết các trường hợp này, đã ghi nhận tiền sử động kinh hoặc các yếu tố nguy cơ của động kinh ở bệnh nhân. Bệnh nhân cần thông báo cho bác sĩ điều trị nếu có tiền sử động kinh.
Các thuốc ức chế monoamin oxidase
Linezolid ức chế có hồi phục và không chọn lọc monoamine oxidase (MAOI). Tuy nhiên, ở liều sử dụng cho điều trị kháng khuẩn không gây tác dụng chống trầm cảm. Có rất ít dữ liệu từ các nghiên cứu tương tác thuốc và an toàn của thuốc khi dùng cho bệnh nhân ở những tình trạng lâm sàng và/hoặc dùng đồng thời các thuốc mà có thể đặt họ vào nguy cơ từ sự ức chế MAO. Do đó, không khuyến cáo sử dụng linezolid trong những trường hợp này trừ khi được theo dõi chặt chẽ (xem phần Chống chỉ định và Tương tác thuốc)
Sử dụng với thực phẩm giàu tyramin
Cần khuyên bệnh nhân không nên sử dụng lượng lớn các thực phẩm giàu tyramin (Xem phần Tương tác thuốc).
Bội nhiễm
Ảnh hưởng của linezolid trên hệ vi sinh vật bình thường của cơ thể chưa được đánh giá trong các thử nghiệm lâm sàng.
Việc sử dụng kháng sinh đôi khi có thể gây ra sự phát triển quá mức các vi sinh vật không nhạy cảm.
Ví dụ, có khoảng 3% bệnh nhân sử dụng linezolid ở liều khuyến cáo nhiễm nấm candida liên quan đến sử dụng thuốc trong các thử nghiệm lâm sàng. Nếu bội nhiễm xảy ra trong khi điều trị, cần thực hiện các biện pháp thích hợp.
Đối tượng đặc biệt
Linezolid cần sử dụng thận trọng ở bệnh nhân suy thận nặng và chỉ khi lợi ích vượt trội nguy cơ. (Xem phần Liều dùng và cách dùng, Dược động học).
Chỉ sử dụng linezolid ở bệnh nhân suy gan nặng khi lợi ích vượt trội nguy cơ (Xem phần Liều dùng và cách dùng, Dược động học).
Suy giảm khả năng sinh sản
Linezolid làm giảm khả năng sinh sản và gây ra bất thường trong hình thái tinh trùng ở chuột đực trường thành ở nồng độ phơi nhiễm xấp xỉ ở người, tác động có thể có của linezolid trên hệ thông sinh sản ở nam giới chưa được biết đến (xem phần Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng).
Thử nghiệm lâm sàng
Chưa xác định an toàn và hiệu quả của linezolid khi sử dụng trên 28 ngày. Các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát không bao gồm tổn thương bàn chân do đái tháo đường, các tổn thương do loét hoặc thiếu máu cục bộ, bỏng nặng hoặc hoại tử. Vì vậy, kinh nghiệm sử dụng thuốc ở những trường hợp này bị giới hạn.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Khi dùng linezolid có thể gây chóng mặt hoặc các triệu chứng suy giảm thị lực do đó không nên lái xe hoặc vận hành máy móc nếu các triệu chứng này xảy ra.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B3
US FDA pregnancy category: C
Thời kỳ mang thai:
Ít có dữ liệu về việc sử dụng linezolid ở phụ nữ có thai. Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy có độc tính đối với sinh sản (xem phần Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng). Có nguy cơ tiềm ẩn về độc tính đối với sinh sản ở người. Không nên sử dụng linezolid cho phụ nữ có thai trừ khi biết rõ lợi ích mang lại vượt trội nguy cơ có thể xảy ra.
Khả năng sinh sản
Trong các nghiên cứu trên động vật, linezolid gây giảm khả năng sinh sản.
Thời kỳ cho con bú:
Dữ liệu nghiên cứu trên động vật cho thấy linezolid và các chất chuyển hóa của nó có thể qua sữa mẹ, do đó nên ngừng cho con bú trong suốt quá trình dùng thuốc.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Bảng dưới đây liệt kê các phản ứng bất lợi của thuốc với tần suất dựa vào dữ liệu nhân quả từ các nghiên cứu lâm sàng ghi nhận trên 2.000 bệnh nhân trưởng thành với liều điều trị khuyến cáo của linezolid lên đến 28 ngày.
Những trường hợp được báo cáo nhiều nhất là tiêu chảy (8.4%), nhức đầu (6.5%), buồn nôn (6.3%) và nôn mửa (4.0%).
Các tác dụng không mong muốn liên quan đến thuốc dẫn đến ngưng điều trị được báo cáo phổ biến nhất là đau đầu, tiêu chảy, buồn nôn và nôn. Khoảng 3% bệnh nhân ngưng điều trị vì họ đã trải qua một sự kiện bất lợi liên quan đến thuốc.
Các phản ứng phụ khác được báo cáo sau khi lưu hành được đưa vào bảng với tần suất ‘Không biết, vì tần số thực tế không thể ước lượng được từ dữ liệu có sẵn.
Các phản ứng không mong muốn sau đây đã được quan sát và báo cáo trong quá trình điều trị với linezolid kèm theo các tần số sau: Rất phổ bién (≥ 1/10); phố biến ≥ 1/100 đến < 1/10); không phổ biến ≥ 1/1.000 đến <1/100); hiếm (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000); rất hiếm (< 1/10.000); Không biết (không thể ước lượng từ dữ liệu có sẵn)
| Hệ thống các cơ quan | Phổ biến (>1/100 to <1/10) | Không phổ biến (>1/1,000 to <1/100) | Hiếm (>1/10,000 to <1/1,000) | Rất hiếm (<1/10,000) | Không biết (không thể ước lượng từ dữ liệu có sẵn) |
| Nhiễm trùng và lây nhiễm | Nấm candida, nấm candida vùng miệng, nhiễm nấm candida âm đạo, nhiễm nấm | Nhiễm nấm âm đạo | Viêm đại tràng kháng sinh liên quan, bao gồm viêm đại tràng giả mạc * | ||
| Máu và rối loạn hệ bạch huyết | Thiếu máu* | Giảm bạch cầu*, giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu*, tăng bạch cầu ái toan | Thiếu máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu)* | ức chế tuỷ xương*, Thiểu máu hồng cầu to* | |
| Rối loạn hệ miễn dịch | Sốc phản vệ | ||||
| Rối loạn chuyển hoá và dinh dưỡng | Hạ Natri máu | Nhiễm toan lactic* | |||
| Rối loạn tâm thần | Mất ngủ | ||||
| Rối loạn hệ thần kinh | Nhức đầu, rối loạn vị giác (vị kim loại), chóng mặt | Co giật*, hạ huyết áp | Hội chứng serotonin**, bệnh lý thần kinh ngoại biên* | ||
| Rối loạn về mắt | Mờ mắt* | Thay đổi vùng khuyết thị trường* | Bệnh thần kinh thị giác, viêm thần kinh thị giác, mất thị giác, thay đổi thị lực, thay đổi khả năng nhìn màu sắc* | ||
| Rối loạn về thính lực | Ù tai | ||||
| Rối loạn tim mạch | Loạn nhịp tim (nhịp tim nhanh) | ||||
| Rối loạn hệ mạch máu | cao huyết áp | các cơn thiểu máu cục bộ thoáng qua, viêm tĩnh mạch huyết khối | |||
| Rối loạn tiêu hoá | tiêu chảy, buồn nôn, nôn mửa, đau cục bộ hoặc đau bụng cục bộ, táo bón, chứng khó tiêu | viêm tụy, viêm dạ dày, đau bụng, khô miệng, viêm da liễu, phân lỏng, viêm miệng, thay đổi màu sắc lưỡi | Thay đổi màu men răng | ||
| Rối loạn gan mật | xét nghiệm chức năng gan bất thường; tăng AST, ALT hoặc phosphat kiềm | tăng bilirubin tổng cộng | |||
| Rối loạn da và mô dưới da | ngứa phát ban | mày đay, viêm da, mày đậm | các chứng rối loạn nhịp nhâng như những triệu chứng như hội chứng Stevens-Johnson và hoại từ biểu bì độc, phù mạch, rụng tóc | ||
| Rối loạn về thận và tiết niệu | tăng BUN | suy thận, tăng creatinine, đa niệu | |||
| Rối loạn hệ thống sinh sản và vú | rối loạn âm đạo | ||||
| Rối loạn tổng quát và điều kiện điều trị | sốt, đau cục bộ | ớn lạnh, mệt mòi, đau vùng chích, tăng sự khát | |||
| Kiểm soát các chỉ số xét nghiêm | Hoá học Tăng LDH. kinase creatine, lipase, amylase hoặc không ăn kiêng glucose. Giảm tổng protein, albumin, natri hoặc canxi. Tăng hoặc giảm kali hoặc bicarbonate.Huyết học Tăng bạch cẩu trung tính hoặc bạch cầu ái toan. Giảm hemoglobin, hematocrit hoặc hồng cầu. Tăng hay giảm lượng tiểu cầu hoặc bạch cầu. |
Hoá học
Tăng natri hoặc canxi. Giảm glucose không ăn kiêng. Tăng hoặc giảm clorua. Huyết học Tăng số tế bào võng mạc. Giảm bạch cầu trung tính. |
* Xem phần Cảnh báo đặc biệt và các biện pháp phòng ngừa để sử dụng
** Xem phần Chống chỉ định và Tương tác thuốc
+ xem thông tin bên dưới
Hiếm gặp các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng sau đây do linezolid: đau bụng cục bộ. Cơn thiếu máu não thoáng qua và tăng huyết ap.
+ Trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát dùng linezolid trong thời gian lên đến 28 ngày. Báo cáo thấy có 2,0% số bệnh nhân bị thiếu máu. Trong một nghiên cứu tiếp cận mở rộng, dùng linezolid cho những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn đe dọa tính mạng và kèm theo một bệnh khác tiềm ẩn, tỷ lệ bệnh nhân bị thiếu máu khi dùng linezolid < 28 ngày là 2,5% (33/1326) so với 12,3% (53/430) khi điều trị > 28 ngày. Tỷ lệ các trường hợp báo cáo thiếu máu nghiêm trọng liên quan đến thuốc và đòi hỏi phải truyền máu là 9% (3/33) ở những bệnh nhân được điều trị < 28 ngay và 15% (8/53) ở những người điều trị > 28 ngày.
Dùng cho trẻ em
Dữ liệu về độ an toàn từ các nghiên cứu lâm sàng trên hơn 500 bệnh nhi (từ sơ sinh đến 17 tuổi) cho thấy không có sự khác biệt về an toàn của linezolid đối với bệnh nhi và người lớn.
Báo cáo các tác dụng không mong muốn nghi ngờ
Báo cáo các tác dụng không mong muốn nghi ngờ sau khi đưa thuốc ra thị trường là rất quan trọng. Nó cho phép tiếp tục theo dõi sự cân bằng lợi ích/nguy cơ của các sản phẩm thuốc. Các chuyên gia y tế được yêu cầu báo cáo bất kỳ tác dụng không mong muốn nghi ngờ nào nếu xảy ra
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Các thuốc ức chế monoamin oxidase
Linezolid là một chất ức chế monoamin oxidase (IMAO) không chọn lọc và có hồi phục. Có rất ít dữ liệu từ các nghiên cứu về tương tác thuốc và về độ an toàn của linezolid đối với bệnh nhân khi dùng đồng thời với các thuốc có khả năng ức chế MAO.
Do đó, không khuyến cáo dùng linezolid trong những trường hợp này trừ khi có sự giám sát chặt chẽ đặc biệt (xem phần Chống chỉ định và Cảnh báo và thận trọng).
Tương tác có khả năng làm tăng huyết áp
Ở người tình nguyện khỏe mạnh có huyết áp bình thường, linezolid làm tăng tác dụng làm tăng huyết áp gây ra bởi pseudoephedrin và phenylpropanolamin hydroclorid. Dùng đồng thời linezolid với pseudoephedrin hoặc phenylpropanolamin làm tăng huyết áp tâm thu trung bình từ 30 – 40 mmHg, so với khi sử dụng riêng lẻ linezolid làm tăng huyết áp tâm thu 11-15 mmHg hoặc so với khi sử dụng riêng lẻ pseudoephedrin hoặc phenylpropanolamin gây tăng 14-18 mmHg và giả dược gây tăng 8 – 11mmHg. Nghiên cứu tương tự ở các đối tượng tăng huyết áp chưa được thực hiện. Khuyến cáo nên xác định liều dùng của các thuốc vận mạch một cách cẩn thận, bao gồm cả các dopaminergic, để đạt được đáp ứng mong muốn khi điều trị phối hợp với linezolid.
Tương tác với nhóm serotonergic
Khả năng tương tác giữa linezolid với dextromethorphan đã được nghiên cứu ở người tình nguyện khỏe mạnh. Các đối tượng được dùng dextromethorphan (hai liều 20 mg trong 4 giờ đồng hồ) dùng cùng hoặc không cùng với linezolid. Không thấy xuất hiện hội chứng serotonin (lú lẫn, mê sáng, bền chỗn, run đỏ mặt, toát mồ hôi và sốt cao) ở người bình thường dùng linezolid và dextromethorphan.
Tương tác ghi nhận sau khi đưa thuốc ra thị trường: đã có một báo cáo về trường hợp bệnh nhân gặp hội chứng serotonin khi dùng đồng thời linezolid và dextromethorphan mà phải xử trí bằng cách ngưng sử dụng cả hai thuốc.
Trong quá trình sử dụng, đã có báo cáo về trường hợp gặp hội chứng serotonin khi dùng đồng thời linezolid với các serotonin, bao gồm thuốc chống trầm cảm như thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc. Vì vậy, chống chỉ định dùng đồng thời linezolid và serotonin (xem phần Chống chỉ định).
Nếu phải dùng đồng thời hai thuốc linezolid và serotonin cần phải theo dõi bệnh nhân chặt chẽ (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Sử dụng với các loại thực phẩm giàu tyramin
Không quan sát thấy phản ứng tăng huyết áp đáng kể khi dùng đồng thời linezolid và ít hơn 100 mg tyramin. Điều này cho thấy chỉ cần tránh dùng quá nhiều thực phẩm và đồ uống có hàm lượng tyramin cao (ví dụ như phô mai, chiết xuất men bia, đồ uống có cồn chưa chưng cất và các sản phẩm đậu nành lên men như nước tương).
Các thuốc được chuyển hóa bởi cytochrom P450
Không phát hiện thấy linezolid bị chuyển hóa bởi hệ thống enzym cytochrom P450 (CYP) và về mặt ý nghĩa lâm sàng, nó không ức chế các đồng dạng CYP ở người (1A2, 2C9, 2C19, 2D6, 2E1, 3A4). Tương tự như vậy, linezolid không gây cảm ứng với các isoenzym P450 ở chuột. Vì vậy, không có tương tác thuốc nào do cảm ứng CYP450 được dự đoán với linezolid.
Rifampicin
Tác động của rifampicin lên được động học của linezolid đã được nghiên cứu trên 16 tình nguyện viên người lớn là nam giới khỏe mạnh dùng linezolid 600 mg x 2 lần/ngày trong 2,5 ngày cùng và không cùng với rifampicin 600 mg x 1 lần/ngày trong 8 ngày. Kết quả cho thấy: rifampicin làm giảm Cmax và AUC trung bình của linezolid tương ứng là 21% (90% CI, 15, 27) và 32% (90% CI, 27, 37).
Cơ chế của tương tác này và ý nghĩa lâm sàng của nó là chưa được biết.
Warfarin
Khi warfarin được dùng xen vào quá trình điều trị bằng linezolid ở trạng thái ổn định. có sự giảm trung bình 10% INR tối đa và giảm 5% AUC INR. Không đủ dữ liệu từ các bệnh nhân đã dùng warfarin và linezolid để đánh giá ý nghĩa lâm sàng (nếu có) của những phát hiện này.
4.9 Quá liều và xử trí:
Không có thuốc giải độc đặc hiệu khi dùng quá liều.
Chưa có báo cáo trường hợp quá liều. Tuy nhiên, các thông tin sau có thể hữu ích: nên chăm sóc hỗ trợ bệnh nhân cùng với duy trì lọc cầu thận. Khoảng 30% liều dùng linezolid được loại bỏ trong khoảng 3 giờ chạy thận nhân tạo, nhưng không có số liệu cho việc loại bỏ linezolid bằng thẩm phân phúc mạc hoặc hấp phụ máu. Hai chất chuyển hóa chính của linezolid cũng bị loại bỏ phần nào bằng thẩm phân máu.
Dấu hiệu của ngộ độc ở chuột liều 3000 mg/kg/ngày linezolid là giảm hoạt động và mất điều hòa trong khi chó được dùng liều 2000 mg/kg/ngày là nôn và run.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Nhóm dược lý: thuốc kháng khuẩn.
Mã ATC: J01XX08
Linezolid là một thuốc kháng khuẩn tổng hợp thuộc nhóm Oxazolidinon. Linezolid có hoạt tính in Vitro trên vi khuẩn Gram dương hiếu khí và các vi khuẩn kỵ khí.
Cơ chế tác dụng
Linezolid ức chế chọn lọc quá trình tổng hợp protein vi khuẩn thông qua một cơ chế đặc biệt. Cụ thể, nó gắn vào một vị trí trên ribosom của vi khuẩn (23S của tiểu đơn vị 50S) và ngăn chặn sự hình thành phức hợp ban đầu 70S – một thành phần quan trọng của quá trình dịch mã.
Hoạt tính kháng khuẩn
Tác dụng hậu kháng sinh in vitro của linezolid trên Staphylococcus aureus khoảng 2 giờ. Ở động vật, tác dụng hậu kháng sinh in vivo ghi nhận được lần lượt là 3,6 giờ và 3,9 giờ đối với Staphylococcus aureus và Streptococcus pneumoniae. Trong các nghiên cứu trên động vật, thông số dược lực học quan trọng cho tính hiệu quả của thuốc là thời gian mà nồng độ linezolid trong huyết tương vượt mức nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) trên vi khuẩn gây bệnh.
Các giá trị ngưỡng
Ủy ban châu Âu về Thử nghiệm độ nhạy cảm của kháng sinh (EUCAST) đã xác định các giá trị ngưỡng của nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) đối với tụ cầu và cầu khuẩn ruột là nhạy cảm khi MIC < 4 mg/l và đề kháng khi MIC > 4 mg/l. Đối với liên cầu (bao gồm Streptococcus pneumoniae), các giá trị ngưỡng là nhạy cảm khi MIC < 2 mg/l và đề kháng khi MIC > 4 mg/L.
Giá trị ngưỡng MIC không phụ thuộc loài được xác định là nhạy cảm khi MIC < 2 mg/l và đề kháng khi MIC > 4 mg/l. Giá trị này được xác định chủ yếu dựa trên dữ liệu dược động học -dược lực học và độc lập với phân bố MIC của các loài cụ thể. Nó chỉ được áp dụng đối với các vi khuẩn chưa xác định được giá trị ngưỡng và không áp dụng cho các loài không khuyến cáo thử nghiệm tính nhạy cảm.
Tính nhạy cảm
Tỉ lệ đề kháng thu nhận thay đổi theo vùng địa lý và theo thời gian trên các loài đã chọn và thông tin về sự đề kháng là cần thiết, đặc biệt trong điều trị các nhiễm khuẩn nặng. Khi cần, nên hỏi ý kiến chuyên gia khi tỉ lệ đề kháng tại địa phương ở mức mà tính hiệu quả của thuốc trên ít nhất một vài chủng là không chắc chắn.
Phân loại
Vi khuẩn nhạy cảm
Vi khuẩn Gram dương hiếu khí: Enterococcus faecalis, Enterococcus fuecium*, Staphylococcus aureus*, tụ cầu không có men coagulase, Streptococcus agalactiae*, Streptococcus pneumoniae *, Streptococcus pyogenes*, liên cầu nhóm C, liên cầu nhóm G.
Vi khuẩn Gram dương kỵ khí: Clostridium perfringens, Peptostreptococcus anaerobius, Peptostreptococcus species.
Vi khuẩn đề kháng: Haemophilus influenzae, Moraxella catarrhalis, Neisseria species, Enterobacteriaceae, Pseudomonas species.
* Hiệu quả lâm sàng đã được chứng minh trên các chủng phân lập nhạy cảm trong những chỉ định lâm sàng được phê duyệt.
Trong khi linezolid thể hiện hoạt tính in vitro trên Legionella, Chlamydia pneumoniae và Mycoplasma pneumoniae, vẫn chưa có dữ liệu đầy đủ để chứng minh hiệu quả lâm sàng.
Đề kháng
Để kháng chéo
Cơ chế tác dụng của linezolid khác với các nhóm kháng sinh khác. Nghiên cứu in vitro trên các chủng phân lập lâm sàng (bao gồm tụ cầu kháng methicillin (Methicillin-resistant staphylococci: MRSA), cầu khuẩn ruột kháng vancomycin (Vancomycin-resistant enterococci: VRE) và liên cầu kháng penicillin và erythromycin) cho thấy linezolid có hoạt tính trên các vi khuẩn đề kháng với một hoặc nhiều nhóm kháng sinh khác.
Đề kháng linezolid liên quan đến đột biến điểm trên r-RNA 23S.
Giống như các tài liệu đã ghi nhận ở các loại kháng sinh khác khi dùng ở bệnh nhân với bệnh nhiễm khuẩn khó chữa và/hoặc khi sử dụng trong thời gian dài, việc giảm tính nhạy cảm mới xuất hiện đã được ghi nhận ở linezolid. Đề kháng linezolid đã được báo cáo ở cầu khuẩn ruột, Staphylococcus aureus và tụ cầu không có men coagulase. Sự dễ kháng này thường liên quan-đến thời gian điều trị kéo dài và sự hiện điện của bộ phận giả dược lắp vào cơ thể hoặc áp-xe không được dẫn lưu. Khi xuất hiện vi khuẩn đề kháng kháng sinh trong bệnh viện, điều quan trọng là thực hiện kế hoạch kiểm soát nhiễm khuẩn.
Cơ chế tác dụng:
Linezolid là một thuốc kháng sinh tổng hợp thuộc nhóm kháng sinh mới oxazolidinon. In vitro, thuốc có tác dụng trên các vi khuẩn hiếu khí Gram (+), một số vi khuẩn Gram (-) và vi khuẩn kỵ khí. Linezolid ức chế chọn lọc quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn theo một cơ chế duy nhất. Cụ thể, thuốc gắn vào một vị trí trên ribosom của vi khuẩn (23s của tiểu đơn vị 50S) và ngăn cản sự hình thành phức hợp khơi đầu 70S chức năng, là thành phần quan trọng trong quá trình dịch mã.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
LIZOLID chứa linezolid, là chất có hoạt tính sinh học và được chuyển hóa thành dẫn xuất không có hoạt tính.
Hấp thu
Linezolid hấp thu nhanh chóng và rộng rãi bằng đường uống. Nồng độ tối đa trong huyết tương đạt được trong vòng 2 giờ sau khi uống, Sinh khả dụng tuyệt đối đường uống của linezolid là xấp xỉ 100%. Để hấp thu không bị ảnh hưởng đáng kể bởi thức ăn và độ hấp thu của dạng bào chế hỗn dịch uống là tương đương với độ hấp thu của dạng bào chế viên nén bao phim.
Nồng độ tối đa Cmax và tối thiểu Cmin (trung bình và [SD]) ở trạng thái ổn định sau khi tiêm tĩnh mạch 600 mg x 2 lần/ngày lần lượt là 15,1 [2,5] mg/l và 3,68 [2.68] mg/l.
Trong một nghiên cứu khác sau khi dùng liều uống 600 mg x 2 lần/ngày, Cmax và Cmin ở trạng thái ổn định lần lượt là 21,2 [5,8] mg/1 và 6,15 [2,94] mg/l. Trạng thái ổn định đạt được ở ngày thứ hai của liệu trình điều trị.
Phân bố
Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định vào khoảng 40-50 lít ở người trưởng thành khỏe mạnh và xấp xỉ tổng lượng nước trong cơ thể. Tỉ lệ gắn protein huyết tương khoảng 31% và không phụ thuộc vào nồng độ.
Nồng độ linezolid trong dịch cơ thể được xác định trong các nghiên cứu trên số lượng giới hạn người tình nguyện sử dụng nhiều liều linezolid. Tỉ lệ linezolid trong nước bọt và mồ hôi so với trong huyết tương lần lượt là 1.2:1.0 và 0.55:1.0. Tỉ lệ này đối với dịch lót biểu mô và phế nang lần lượt là 4,5:1,0 0 khi đo ở trạng thái Cmax ổn định. Trong một nghiên cứu nhỏ ở những người đặt shunt bụng và không viêm màng não, tỉ lệ linezolid trong dịch não tủy so với trong huyết tương ở trạng thái Cmax là 0.7:1.0 sau khi dùng đa liều linezolid.
Chuyển hóa
Linezolid chủ yếu được chuyển hóa bằng con đường oxy hóa vòng morpholin dẫn đến sự hình thành chủ yếu hai dẫn xuất acid carboxylic vòng mở không có hoạt tính; chất chuyển hóa acid amino ethoxyacetic (PNU-142300) và hydroxyethyl glycin (PNU-142586). Hydroxyethyl glycin là chất chuyển hóa chủ đạo của linezolid ở người và được cho là hình thành thông qua quá trình không có mặt enzym. Acid aminoethoxyacetic thì ít hơn. Các chất chuyển hóa phụ không có hoạt tính khác cũng đã được xác định.
Thải trừ
Ở những bệnh nhân có chức năng thận bình thường hoặc suy thận nhẹ đến trung bình, linezolid ở trạng thái ổn định chủ yếu đào thải qua nước tiểu dưới dạng PNU-142586 (40%), dạng chưa chuyển hóa (30%) và PNU-142300 (10%). Hầu như không tìm thấy dạng chưa chuyển hoá trong phân. Trong khi có khoảng 6% và 3% liều dùng xuất hiện qua đường này lần lượt dưới dạng PNU-142586 và PNU-142300. Thời gian bán thải trung bình của linezolid vào khoảng 5-7 giờ.
Thải trừ không qua thận chiếm xấp xỉ 65% tổng thanh thải của linezolid. Một mức độ nhỏ của thải trừ không tuyến tính được ghi nhận với liều cao linezolid. Điều này có thể do thải trừ qua thận và không qua thận giảm đi khi nồng độ linezolid tăng lên. Tuy nhiên, sự khác nhau trong thải trừ là nhỏ và không được phản ánh qua nửa đời thải trừ biểu kiến.
Đối tượng đặc biệt
Bệnh nhân suy thận
Sau khi dùng liều đơn 600 mg ở người suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 30 ml/phút), nồng độ hai chất chuyển hóa chính của linezolid trong huyết tương tăng đến 7-8 lần. Tuy nhiên, không thấy tăng diện tích dưới đường cong (AUC) của linezolid. Mặc dù có thể loại bỏ các chất chuyển hóa chính của linezolid thông qua thẩm phân máu, nồng độ chất chuyển hóa trong huyết tương sau thẩm phân máu khi dùng liều đơn 600 mg vẫn cao hơn đáng kể so với nồng độ đo được ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường hoặc suy thận nhẹ tới trung bình.
Nghiên cứu ở 24 bệnh nhân suy thận nặng (21 người trong số họ được thẩm phân máu thường xuyên), nồng độ đỉnh trong huyết tương của hai chất chuyển hóa chính sau vài ngày điều trị cao hơn 10 lần so với nồng độ đỉnh đo được ở người có chức năng thận bình thường. Nồng độ đỉnh của linezolid trong huyết tương không bị ảnh hưởng.
Ý nghĩa lâm sàng của những quan sát trên chưa được thiết lập do dữ liệu an toàn có sẵn còn hạn chế. (Xem phần Liều dùng và cách dùng, Cảnh báo và thận trọng)
Bệnh nhân suy gan
Dữ liệu hạn chế chỉ ra rằng dược động học cia linezolid, PNU-142586 và PNU-142300 là không thay đổi ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình (Child-Pugh A hoặc B). Dược động học của linezolid ở bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh C) chưa được đánh giá. Tuy nhiên, do linezolid chuyển hóa không qua enzym nên tình trạng suy gan không được kì vọng sẽ làm thay đổi đáng kể sự chuyển hóa của linezolid. (Xem phần Liều dùng và cách dùng, Cảnh báo và thận trọng)
Bệnh nhi dưới 18 tuổi
Chưa có đữ liệu đầy đủ về an toàn và hiệu quả của linezolid trên trẻ em vả trẻ vị thành niên (dưới 18 tuổi), do đó linezolid không được khuyến cáo dùng cho các đối tượng này (xem phần Liều dùng và cách dùng). Cần tiến hành các nghiên cứu sâu hơn để thiết lập các khuyến cáo liều dùng an toàn và hiệu quả. Các nghiên cứu dược động học cho thấy sau khi dùng một hoặc nhiều liều trên trẻ em (1 tuần đến 12 tuổi), thanh thải linezolid (dựa trên khối lượng cơ thể) ở trẻ em là cao hơn sơ với người lớn nhưng giảm dẫn theo độ tuổi.
Ở trẻ em từ 1 tuần đến 12 tuổi, sử dụng liều 10 mg/kg mỗi 8 giờ hàng ngày cho các thông số tương đương với thông số đạt được khi dùng liều 600 mg x 2 lần/ngày ở người lớn.
Ở trẻ sơ sinh dưới 1 tuần tuổi, thanh thải linezolid trên toàn cơ thể (tính trên khối lượng cơ thể) tăng nhanh chóng trong 1 tuần đầu đời. Do đó, ở trẻ sơ sinh, dùng liều 10 mg/kg mỗi 8 giờ hàng ngày sẽ cho nồng độ toàn thân cao nhất vào ngày đầu tiên điều trị. Tuy nhiên, không có sự tích tụ quá nhiều của thuốc ở chế độ liều này trong suốt tuần đầu tiên của trẻ sơ sinh do độ thanh thải tăng lên nhanh chóng trong suốt thời gian này.
Ở bệnh nhi vị thành niên (12-17 tuổi), dược động học của linezolid là tương đương ở người lớn sau khi dùng liều 600 mg. Do đó. sử dụng liều 600 mg mỗi 12 giờ hàng ngày ở đối tượng này sẽ cho các kết quả tương đương với kết quả quan sát được ở người lớn dùng liều tương tự.
Ở bệnh nhi đặt shunt não thất-ổ bụng dùng liều linezolid 10 mg/kg mỗi 12 giờ hoặc mỗi 8 giờ, nồng độ linezolid trong dịch não tủy được ghi nhận là biến thiên bất kể dùng một hay nhiều liều linezolid. Nồng độ trị liệu không đạt được hoặc duy trì một cách liên tục trong dịch não tủy. Do đó, không khuyến cáo sử dụng linezolid trong điều trị theo kinh nghiệm cho bệnh nhi có bệnh nhiễm khuẩn ở hệ thần kinh trung ương.
Bệnh nhân lớn tuổi
Dược động học của linezolid không thay đổi đáng kể ở bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên.
Bệnh nhân là phụ nữ
Thể tích phân bố ở nữ giới hơi thấp hơn so với nam giới và độ thanh thải trung bình thấp hơn khoảng 20% tính theo khối lượng cơ thể, Nồng độ thuốc trong huyết tương ở nữ giới cao hơn và điều này có thể lý giải một phần đo sự khác nhau về khối lượng cơ thể, Tuy nhiên, do nửa đời thải trừ của linezolid không khác nhau rõ rệt giữa nam và nữ, nồng độ thuốc trong huyết tương ở nữ giới không tăng đáng kể ở nhũng người dung nạp tốt, và do đó không cần phải điều chỉnh liều.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược: Microcrystallin Cellulose (Avicel pH 101), tinh bột ngô, Povidon (Kollidon 30), Natri Starch Glycolat (Primojel), Magnesi Stearat, Hydroxypropyl Methylcellulose-50 CPS (H.P.M.C), PEG 6000/Macrogol 6000, Dibutyl Phthalat, Talc, Titan Dioxyd.
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM