Thuốc Lignopad là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Lignopad (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Lidocaine (Xylocain , Lignocaine)
Phân loại: Thuốc tê, thuốc chống loạn nhịp nhóm 1B.
Nhóm pháp lý: Dạng dùng ngoài là thuốc không kê đơn OTC (Over the counter drugs), dạng bào chế khác là thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): C01BB01, C05AD01, D04AB01, N01BB02, R02AD02, S01HA07, S02DA01.
Biệt dược gốc: Xylocaine Jelly
Biệt dược: Lignopad
Hãng sản xuất : Teikoku Seiyaku Co., Ltd
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Miếng dán 5%
Thuốc tham khảo:
| LIGNOPAD | ||
| Mỗi miếng dán có chứa: | ||
| Lidocaine | …………………………. | 5% |
| Tá dược | …………………………. | Vừa đủ |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Miếng dán Lignopad được chỉ định trong giảm các triệu chứng đau thần kinh sau khi nhiễm herpes zoster (đau dây thần kinh sau nhiễm herpes).
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Miếng dán phải được dán ngay sau khi lấy ra khỏi túi đựng và bóc miếng phim dán. Tóc/ lông trên vùng đau phải cắt bằng kéo (không cạo) trước khi dán miếng dán.
Sau khi sử dụng, miếng dán vẫn còn hoạt chất nên sau khi bóc, nên gập đôi miếng dán đã được sử dụng, mặt dính gấp vào trong và bỏ vào nơi đề rác.
Bất cứ sản phẩm không sử dụng hoặc rác thải nên được xử lý tuân thủ theo các qui định của nơi sử dụng.
Liều dùng:
Người lớn và người già:
Dán miếng dán lên vùng bị đau một lần trong tối đa 12 giờ trong mỗi 24 giờ. Chỉ nên sử dụng miếng dán khi cần. Nếu vùng bị đau nhỏ hơn kích thước miếng dán, dùng kéo cắt miếng dán thành các miếng nhỏ hơn trước khi bóc miếng phim dán. Không dán quá 3 miếng dán kích thước 10cm x 14cm cùng một lúc.
Miếng dán phải được dán lên vùng da khô, không bị tồn thương, không bị kích ứng (sau khi các bọng nước do herpes zoster đã lành). Không dán miếng dán quá 12 giờ. Khoảng cách giữa 2 lần dán ít nhất là 12 giờ. Có thể dán miếng dán vào ban ngày hoặc ban đêm.
Miếng dán phải được dán ngay sau khi lấy ra khỏi túi đựng và bóc miếng phim dán. Tóc/ lông trên vùng đau phải cắt bằng kéo (không cạo) trước khi dán miếng dán.
Nên đánh giá hiệu quả điều trị sau 2-4 tuần sử dụng. Nếu không có đáp ứng với miếng dán Lignopad* sau khoảng thời gian này hoặc các dấu hiệu thuyên giảm chỉ do tính năng bảo vệ da của miếng dán, phải ngừng điều trị vì nguy cơ tiềm tàng vượt quá lợi ích (xem phần Chú ý và thận trọng khi dùng thuốc). Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy khi sử dụng kéo dài miếng dán Lignopad số lượng miếng dán sử dụng giảm dần theo thời gian. Do đó, việc điều trị nên được đánh giá lại định kỳ để quyết định có thế giảm số lượng miếng dán bao phủ vùng đau không hoặc có thể kéo dài thời gian giữa 2 lần dán.
Suy thận:
Đối với bệnh nhân suy thận nhẹ hoặc trung bình, không cần điều chỉnh liều. Nên sử dụng thận trọng miếng dán Lignopad với bệnh nhận suy thận nặng
Suy gan:
Đối với bệnh nhân suy gan nhẹ hoặc trung bình, không cần điều chỉnh liều. Nên sử dụng thận trọng miếng dán Lignopad với bệnh nhân suy gan nặng
Trẻ em
Độ an toàn và hiệu quả của miếng dán Lignopad cho trẻ em dưới 18 tuổi chưa được xác định. Không có số liệu
4.3. Chống chỉ định:
Quá mẫn với hoạt chất hoặc với bất cứ thành phần nào của thuốc. Thuốc cũng chông chỉ định với bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với các thuốc gây tê tại chỗ thuộc nhóm amide ví dụ: bupivacaine, etidocaine, mepivacaine va prilocaine.
Không dán miếng dán lên vùng da bị tốn thương hoặc bị viêm như tổn thương do herpes zoster, viêm da cơ địa hoặc vết thương.
4.4 Thận trọng:
Không nên dán lên niêm mạc. Tránh để mắt tiếp xúc với miếng dán.
Miếng dán có chứa propylene glycol nên có thể gây kích ứng da. Miếng dán cũng chứa methyl parahydroxybenzoate và propyl parahydroxybenzoate có thể gây phản ứng dị ứng (có thể đến chậm).
Nên sử dụng thận trọng với bệnh nhân suy tim nặng, suy thận nặng hoặc suy gan nặng.
Một trong các chất chuyển hóa của lidocaine, 2,6 xylidine, cho thấy có khả năng gây đột biến tế bào và gây ung thư trên chuột. Các chất chuyến hóa thứ cấp của lidocaine cũng cho thây có khả năng gây đột biến gen. Ý nghĩa lâm sàng của kết quả này chưa được rõ. Do đó, chỉ sử dụng kéo dài miếng dán Lignopad nếu có lượi ích điều trị cho bệnh nhân.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Ít có khả năng xảy ra ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc vì sự hấp thu hệ thống của thuốc là rất ít.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: A
US FDA pregnancy category: B
Thời kỳ mang thai:
Lidocaine qua nhau thai. Tuy nhiên, không có đủ dữ liệu về việc sử dung lidocaine cho phụ nữ có thai.
Các nghiên cứu trên động vật không cho thấy ảnh hưởng gây quái thai của lidocaine
Các nguy cơ cho người chưa được biết rõ. Do đó, không nên sử dụng miếng dán Lignopad trong thai kỳ trừ khi thật cần thiết.
Thời kỳ cho con bú:
Lidocaine bài tiết vào sữa mẹ. Tuy nhiên, không có nghiên cứu về sử dụng miếng dán với phụ nữ cho con bú. Vì lidocaine chuyển hóa khá nhanh và hầu như hoàn toàn ở gan, chỉ lượng rất ít lidocaine được cho là bài tiết vào sữa mẹ.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Trong mỗi nhóm tần xuất thường gặp, các tác dụng không mong muốn được liệt kê theo mức độ trầm trọng giảm dần.
Khoảng 16% bệnh nhận gặp phải các tác dụng phụ. Các tác dụng này là các phản ứng tại chỗ do bản chất của thuốc.
Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất là các phản ứng tại chỗ (ví dụ như nóng đỏ, viêm da, ban đỏ, ngứa, kích ứng da và vết giộp da).
Bảng dưới đây liệt kê các tác dụng không mong muốn đã được báo cáo trong các nghiên cứu với các bệnh nhân sau khi bị đau dây thần kinh do herpes sử dụng miếng dán. Các tác dụng không mong muốn được liệt kê theo hệ thống cơ quan trong cơ thể và theo tần xuất mức độ thường gặp. Tần xuất này được quy ước như sau: Rất thường gặp: ≥ 1/10; Thường gặp: ≥ 1/100 đến < 1/10; Không thường gặp: ≥ 1/1.000 đến < 1/100; Hiếm gặp: ≥ 1/10.000 đến < 1/1.000; Rất hiếm gặp: < 1/10.000; không biết (không ước lượng được từ các số liệu hiện có).
| Cơ thể | Tác dụng phụ |
| Các rối loạn mô niêm mạc và da | |
| Ít gặp | Tổn thương da |
| Tổn thương, nhiễm độc và các biến chứng | |
| Ít gặp | Tổn thương da |
| Các rối loạn nói chung và các tình trạng tại chỗ | |
| Rất thường gặp | Phản ứng tại chỗ |
Các tác dụng phụ sau đã quan sát được ở những bệnh nhân sử dụng miếng dán trên thị trường:
| Cơ thể | Tác dụng phụ |
| Chấn thương, nhiễm độc, biến chứng | |
| Rất hiếm gặp | Vết thương hở |
| Rối loạn hệ miễn dịch | |
| Rất hiếm gặp | Phản ứng phản vệ, mẫn cảm. |
Phần lớn các tác dụng phụ là nhẹ và trung bình. Khoảng 5% các trường hợp gặp tác dụng phụ phải ngừng thuốc.
Các tác dụng phụ toàn thân sau khi sử dụng miếng dán ít có khả năng xảy ra vì nông độ toàn thân của lidocaine rất thấp (xem phần Đặc tính dược động hoc). Các tác dụng phụ toàn thân của lidocaine tương tự như các tác dụng phụ quan sát được với các thuốc gây tê tại chỗ nhóm amide khác (xem phần Quá liều).
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ðối với phản ứng toàn thân do hấp thu quá mức: Duy trì thông khí, cho 100% oxygen, và thực hiện hô hấp hỗ trợ hoặc chỉ huy, khi cần. Ở một số người bệnh, có thể cần phải đặt ống nội khí quản.
Ðối với suy tuần hoàn: Dùng một thuốc co mạch và truyền dịch tĩnh mạch.
Ðối với chứng methemoglobin huyết: Cho xanh methylen (1 – 2 mg/kg thể trọng tiêm tĩnh mạch).
Ðối với co giật: Cho một thuốc chống co giật benzodiazepin; cần nhớ là benzodiazepin tiêm tĩnh mạch có thể gây ức chế hô hấp và tuần hoàn, đặc biệt khi tiêm nhanh.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Chưa có nghiên cứu nào về tương tác thuốc được tiến hành. Không có tương tác thuốc có liên quan được quan sát trong các nghiên cứu lâm sàng với miêng dán này.
Vì nồng độ huyết tương tối đa của lidocaine quan sát được trong các thử nghiệm lâm sàng với miếng dán thấp (xem phần Đặc tính được động học), các tương tác có ý nghĩa trên lâm sàng ít có khả năng xảy ra.
Mặc dù thông thường khả năng hấp thu của lidocaine từ da thấp, cần thận trọng khi sử dụng miếng dán với bệnh nhân sử dụng thuốc chống loạn nhịp tim nhóm I (ví dụ tocainide, mexiletine) và các thuốc gây tê tại chỗ khác vì không thể loại trừ nguy cơ gây ra tác dụng toàn thân do cộng hưởng thuốc.
4.9 Quá liều và xử trí:
Ít có khả năng xảy ra sử dụng quá liều nhưng không thể loại trừ trường hợp sử dụng không đúng như sử dụng nhiều miếng dán cùng một lúc, trong thời gian kéo dài hoặc sử dụng miếng dán trên da tổn thương có thể gây ra nồng độ huyết thanh cao hơn bình thường. Các dấu hiệu nhiễm độc toàn thân tương tự như các triệu chứng quá liều khi sử dụng lidocaine gây tê tại chỗ như:
Chóng mặt, nôn, lơ mơ, co giật, giãn đồng tử, nhịp tim chậm, rồi loạn nhịp tim và sốc phản vệ.
Thêm vào đó, Tương tác thuốc liên quan đến nồng độ lidocaine toàn thân với các thuốc chẹn beta, thuốc ức chế CYP3A4 (ví dụ dẫn xuất imidazole, macrolides) và các thuốc chống loạn nhịp tim có thể gặp phải khi quá liều.
Nếu nghi ngờ quá liều, bóc miếng dán và áp dụng các biện pháp hỗ trợ lâm sàng cần thiết.
Không có thuốc giải độc cho lidocaine.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Nhóm dược lý: gây tê tại chỗ, nhóm amide
Mã ATC: N01 BB02
Cơ chế tác dụng
Miếng dánLignopad® có hai cơ chế tác dụng: tác dụng dược lý của lidocaine sau khi khuếch tán và tác dụng bảo vệ vùng da nhạy cảm của miếng đán hydrogel.
Lidocaine có trong miếng dán Lignopad khuếch tán liên tục vào da và gaây ra tác dụng gây tê tại chỗ. Tác dụng này là do cơ chế ổn định màng tế bào thần kinh, do đó giảm hoạt động của kênh natri nên có tác dụng giảm đau.
Hiệu quả lâm sàng
Việc kiểm soát đau trong đau thần kinh sau nhiễm herpes là không dễ dàng. Có bằng chứng về hiệu quả của miếng dán Lignopad® trong việc giảm triệu chứng dị giác trong đau thần kinh sau nhiễm herpes (xem phần Liều dùng và cách dùng)
Các nghiên cứu trên đau thần kinh sau nhiễm herpes đã cho thấy hiệu quả của miếng dán Lignopad.
Hai nghiên cứu có kiểm soát đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của miếng dán lidocaine 5%.
Trong nghiên cứu đầu tiên, bệnh nhân được lựa chọn từ nhóm người đã từng có đáp ứng với sản phẩm. Đây là nghiên cứu hoán đổi chéo, trong đó bệnh nhân được điều trị trong 14 ngày với miếng dán lidocaine 5%, sau đó sử dụng giả dược hoặc ngược lại.
Tiêu chí nghiên cứu chính là khoảng thời gian bệnh nhân ngừng tham gia nghiên cứu vì mức độ giảm đau chỉ 2 điểm thấp hơn mức đáp ứng thông thường trên thang 6 điểm (từ đau hơn cho đến hoàn toàn giảm đau). Có 32 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, trong đó 30 người hoàn thành nghiên cứu.
Thời gian trung bình ngừng điều trị là 4 ngày đối với nhóm dùng giả dược và 14 ngày đối với nhóm dùng miếng dán lidocaine 5%; không bệnh nhân nào ngừng sử dụng miếng dán lidocaine trong 2 tuần điều trị.
Trong nghiên cứu thứ hai, 265 bệnh nhân đau thần kinh sau nhiễm herpes được sử dụng miếng dán lidocaine 5% trong 8 tuần. Trong nghiên cứu không đối chứng này, khoảng 50% bệnh nhân đáp ứng với thuốc nghĩa là bệnh nhân đánh giá 4 điểm trở lên trên thang 6 điểm (từ đau hơn cho đến hoàn toàn giảm đau). Có 71 bệnh nhân ngẫu nhiên sử dụng giả dược hoặc miếng đán lidocaine 5% trong vòng 2-14 ngày. Tiêu chí nghiên cứu chính là khi thuốc không có hiệu quả trong 2 ngày liên tiếp vì mức độ giảm đau chỉ đạt 2 điểm thấp hơn mức đáp ứng thông thường của thang 6 điểm (từ đau hơn cho đến hoàn toàn giảm đau). Và khi đó bệnh nhân ngừng điều trị. Có 9/36 bệnh nhân sử dụng miếng dán lidocaine 5% và 16/35 bệnh nhân sử dụng giả dược ngừng điều trị vì không thấy tác dụng.
Các phân tích về sự tương quan ngẫu nhiên của nghiên cứu thứ hai cho thấy đáp ứng ban đầu không phụ thuộc vào thời gian đau thần kinh sau nhiễm herpes trước đó. Tuy nhiên, việc bệnh nhân được lợi ích điều trị khi sử dụng miếng đán lidocaine 5% thời gian dài hơn (>12 tháng) được củng cố bởi phát hiện răng nhóm bệnh nhân này dễ bỏ dở điều trị hơn do ít hiệu quả khi chuyển sang dùng giả dược trong giai đoạn mù đôi của nghiên cứu này.
Trong một nghiên cứu mở có đối chứng trên 98 bệnh nhân miếng dán Lignopad™ có hiệu quả và an toàn tương đương với pregabalin.
Cơ chế tác dụng:
Lidocaine là một thuốc gây tê tại chỗ thuộc loại amide, trong nhóm I/b có tính làm ổn định màng tế bào và chống loạn nhịp như đã được Vaughan William xếp loại. Thuốc gây tê bằng cách ngăn sự hình thành và dẫn truyền của xung động thần kinh. Các thuốc gây tê tại chỗ – bao gồm lidocaine – tác dụng bằng cách làm ổn định tính thấm của màng bào tế bào thần kinh đối với ion natri. Ngưỡng kích thích điện tăng dần và do đó ức chế sự dẫn truyền.
Khi dùng tại chỗ trên niêm mạc, lidocaine được hấp thu nhiều hay ít tùy thuộc vào liều lượng và vị trí áp dụng. Lưu lượng tuần hoàn ở niêm mạc ảnh hưởng đến sự hấp thu. Tác dụng của thuốc phun mù Lidocain xảy ra trong vòng 1 phút và kéo dài trong 5-6 phút. Cảm giác tê dại từ từ biến mất trong vòng 15 phút. Với các liều điều trị, thuốc không ảnh hưởng đến nhịp tim và không làm giảm lực co cơ tim (ức chế tim).
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Hấp thu
Khi sử dụng miếng dán lidocaine 5% ở liều khuyến cáo tối đa (3 miếng dán cùng lúc trong vòng 12 giờ), khoảng 3 + 2% tổng liều lidocaine hấp thu vào hệ thống tương tự như khi dùng liều đơn hoặc dùng nhiều liều.
Một nghiên cứu lâm sàng với bệnh nhân đau thần kinh sau nhiễm herpes cho thấy nồng độ huyết thanh tối đa trung bình của lidocaine đạt 45ng/ml sau khi dán 3 miếng dán cùng một lúc trong vòng 12 giờ hàng ngày trong thời gian một năm. Kết quả này tương tự với kết quả của các nghiên cứu dược động học ở bệnh nhân đau thần kinh sau nhiễm herpes (52ng/ml) và trên người tình nguyện khỏe mạnh (85ng/ml và 125 ng/ml).
Lidocaine và các chất chuyển hóa MEGX, GX và 2,6-xylidine không có xu hướng tích lũy, nồng độ huyết thanh đạt mức độ ổn định trong vòng 4 ngày đầu sử dụng.
Một nghiên cứu động học trên cộng đồng cho thấy khi tăng số lượng miếng đán sử dụng đồng thời, nồng độ huyết thanh tăng lên ít hơn và không tỉ lệ với số lượng miếng dán sử dụng.
Phân bố
Sau khi tiêm tĩnh mạch lidocaine cho người tình nguyện khỏe mạnh, thể tích phân bố đạt 1,3 ± 0,4 l/kg (trung bình ± độ lệch chuẩn, n = 15). Thể tích phân bố của lidocaine không ảnh hưởng bởi tuổi tác, giảm trên bệnh nhân suy tim sung huyết và tăng trên bệnh nhân có bệnh gan. Ở nông độ huyết tương khi dùng miếng dán khoảng 70% lidocaine kết hợp với protein huyết tương. Lidocaine qua rau thai và hàng rào máu não theo cơ chế khuếch tán thụ động.
Chuyển hóa
Lidocaine được chuyển hóa nhanh ở gan thành một số chất chuyển hóa. Con đường chuyển hóa chính của lidocaine là nhóm N-alkyl thành monoethylglycinexylidide (MEGX) và glycinexylidide (GX), 2 chat chuyển hóa này ít hoạt tính hơn lidocaine và có nông độ thấp.
Hai chất này được thủy phân thành 2,6-xylidine, rồi được chuyển thành 4-hydroxy-2,6- xylidine kết hợp. Tác dụng dược lý của 2,6-xylidine chưa được biết, tuy nhiên chất chuyển hóa này cho thấy có khả năng gây ung thư trên chuột (xem phần Dữ !iệu an toàn tiền lâm sàng).
Một nghiên cứu động học cho thấy nồng độ huyết thanh trung bình tối đa của 2,6-xylidine là 9ng/ml sau khi dán miếng dán hàng ngày trong thời gian lên đến 1 năm. Các nghiên cứu được động học giai đoạn I cũng cho kết quả tương tự. Chưa có dữ liệu về chuyển hóa của lidocaine
Thải trừ
Lidocaine và các chất chuyển hóa được đào thải qua thận. Hơn 85% liều dùng được tìm thấy trong nước tiểu dưới dạng các chất chuyển hóa hoặc hoạt chất chưa chuyển hóa. Dưới 10% liều dùng lidocaine được thải trừ nguyên dạng. Chất chuyển hóa chính chiếm 70-80% liều dùng thải trừ trong nước tiêu là 4-hydroxy-2,6-xylidine. 2,6-xylidine được thải trừ trong nước tiểu người ở nồng độ thấp hơn 1% liều dùng. Thời gian bán thải của lidocaine sau khi sử dụng miếng dán trên người tình nguyện khỏe mạnh là 7,6 giờ. Thời gian thải trừ của lidocaine và các chất chuyển hóa có thể bị kéo dài trong trường hợp suy tim, suy thận hoặc suy gan.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Nước cất pha tiêm.
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Bảo quản dưới 30°C, không để tủ lạnh hoặc đông lạnh.
Sau khi mở gói: các miếng dán nên được sử dụng trong vòng 14 ngày..
6.4. Thông tin khác :
Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Các độc tính quan sát được trong các nghiên cứu độc tính tiền lâm sàng chỉ được tiến hành ở liều vượt quá liều tối đa trên người nên ít có liên quan đến việc sử dụng trên lâm sàng. Lidocaine HCl không gây đột biến gen trong các nghiên cứu in vitro hoặc in vivo. Chất chuyển hóa và thủy phân, 2,6-xylidine, gây đột biến gen trong một số thí nghiệm đặc biệt sau khi hoạt hóa quá trình chuyển hóa.
Chưa có các nghiên cứu về khả năng gây ung thư của lidocaine. Các nghiên cứu trên chuột đực và chuột cái cho thấy chất chuyển hóa 2,6-xylidine gây độc tính tế bào, tăng sản biểu mô mũi, ung thư biêu mô và u tuyến trong khoang mũi. Tình trạng phát sinh u cũng được tìm thấy ở gan và mô mỡ dưới da. Vì nguy cơ cho người không rõ ràng, nên tránh sử dụng liều cao lidocaine trong thời gian kéo dài.
Khi nghiên cứu trên chuột ở nồng độ huyết thanh cao gấp 50 lần liều quan sát trên bệnh nhân, Lidocaine không có ảnh hưởng lên khả năng sinh sản, sự phát triển của bào thai hay gây quái thai.
Các nghiên cứu trên súc vật chưa có kết luận vê sinh sản của giống đực, sinh con hoặc phát triển sau sinh..
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM