Levobupivacaine

Thuốc Levobupivacaine là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Levobupivacaine (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…).

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Levobupivacaine

Phân loại: Thuốc gây tê.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N01BB10.

Brandname: Chirocaine

Generic: Levobupi-BFS

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch tiêm 0.625 mg/ml; 1.25 mg/ml; 2.5 mg/ml; 5 mg/ml; 7,5 mg/ml

Thuốc tham khảo:

LEVOBUPI-BFS 50 mg
Mỗi ml dung dịch tiêm có chứa:
Levobupivacaine …………………………. 5 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Người lớn:

Levobupivacain được chỉ định dùng cho người lớn để:

Gây tê trong phẫu thuật

Phẫu thuật lớn: gây tê ngoài màng cứng (kể cả mổ đẻ), gây tê nội tủy, phong bế thần kinh ngoại biên.

Tiểu phẫu: gây tê thẩm thấu khu vực, phong bế quanh nhãn cầu trong phẫu thuật mắt.

Giảm đau

Gây tê ngoài màng cứng liên tục, dùng một hay nhiều lần tiêm để giảm đau sau phẫu thuật, đau đẻ hay đau kinh niên.

Để giảm đau bằng gây tê ngoài màng cứng liên tục, có thể phối hợp Levobupivacain với các thuốc khác như Fentanyl, Morphin hay Clonidin.

Trẻ em

Levobupivacain được chỉ định để làm giảm đau cho trẻ em bằng cách gây tê thẩm thấu (phong bế vùng chậu-bẹn/chậu-hạ vị).

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng tiêm hoặc truyền.

Phải tránh tiêm nhanh một lượng lớn dung dịch thuốc gây tê cục bộ và nên chia nhỏ (tăng dần) liều thuốc. Nên dùng liều và hàm lượng nhỏ nhất đạt được kết quả phù hợp với yêu cầu dự tính. Liều của bất kỳ thuốc gây tê cục bộ nào đều phụ thuộc vào quy trình gây tê, diện tích gây tê, mật độ mạch máu trong mô, số lượng vùng tế bào thần kinh sẽ bị phong bế, mức độ phong bế, mức giãn cơ cần thiết, độ dài thời gian cần gây tê, sức dung nạp cá nhân và thể trạng của bệnh nhân. Cần đặc biệt chú ý đến các bệnh nhân trong tình trạng ốm nặng do tuổi cao hay do các yếu tố khác như suy chức năng tim mạch, bệnh gan tiến triển, suy chức năng thận nặng.

Để giảm nguy cơ các phản ứng bất lợi nghiêm trọng, phải cố gắng xác định tình trạng của bệnh nhân trước khi thực hiện phong bế chính và phải điều chỉnh liều cho phù hợp. Dùng một liều thử phù hợp (3-5mL) dung dịch gây tê tại chỗ tác dụng ngắn chứa Epinephrine trước khi phong bế hoàn toàn thần kinh. Cần phải nhắc lại liều thử này nếu bệnh nhân chuyển sang dùng gây tê cục bộ ngoài màng cứng bằng catheter. Phải có đủ thời gian để quan sát hiệu ứng gây tê sau mỗi lần thử.

Không được dùng các thuốc sát khuẩn chứa kim loại nặng giải phóng các ion như thủy ngân, kẽm, đồng, v.v,.. để làm sạch da hay niêm mạc do chúng liên quan đến gây sưng và phù.

Khi định sát trùng bề mặt ống đựng bằng hóa chất, nên dùng cồn isopropyl (91%) hoặc Ethanol 70%. Nên sát trùng hóa chất ống tiêm bằng cách lau khô bằng bông hay gạc có tẩm các cồn trên đây trước khi dùng.

Các sản phẩm này được dùng cho liều đơn và không chứa chất bảo quản, bất kỳ dung dịch nào trong ống đã mở cũng phải vứt bỏ.

Tham khảo sách hướng dẫn để biết về các kỹ thuật và quy trình chuyên dụng.

Liều dùng:

Liều tối đa

Liều tối đa phải được xác định trên sự đánh giá về cân nặng và thể trạng của bệnh nhân, cùng với nồng độ của thuốc, diện tích và đường dùng thuốc. Liều tấn công và duy trì phong bế thay đổi thay đôi vào từng trường hợp cụ thể. Kinh nghiệm từ các nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng, liều tấn công phong bế hoàn toàn cảm giác để phẫu thuật trong gây tê ngoài màng cứng là 10-15 phút, thời gian hồi phục khoảng 6-9 giờ.

Khuyến cáo liều đơn tối đa là 150 mg. Tại các vị trí cần duy trì sự phong bế vận động và cảm giác trong thời gian dài, có thể bổ sung liều. Liều tối đa trong 24 giờ được khuyến cáo là 400 mg. Để kiểm soát đau sau phẫu thuật, liều không nên vượt quá 18,75 mg/giờ.

Sản khoa

Trong mổ đẻ, không khuyến cáo sử dụng dung dịch nồng độ cao hơn 5,0 mg/ml. Liều tối đa là 150 mg.

Truyền gây tê ngoài màng cứng để giảm đau đẻ, liều không nên quá 12,5 mg/giờ.

Trẻ em

Ở trẻ em, liều tối đa để giảm đau (phong bế vùng chậu-bẹn/ chậu-hạ vị) là 1,25 mg/kg/vị trí. Liều tối đa nên được điều chỉnh theo độ lớn, cấu tạo cơ thể và thể trạng của bệnh nhân/trẻ em.

Hiệu quả và tính an toàn của levobupivacain ở trẻ em cho các chỉ định khác chưa được thiết lập.

Bệnh nhân đặc biệt

Nên giảm liều levobupivacain ở bệnh nhân bị suy nhược, người già, người ốm cho phù hợp với thể trạng của họ.

Trong kiểm soát đau sau phẫu thuật, liều sử dụng trong quá trình phẫu thuật phải được tính toán.

Chưa có dữ liệu liên quan đến bệnh nhân suy gan.

Liều chỉ định
Gây tê phẫu thuật Hàm lượng (mg/ml)1 Liều Mức độ phong bế vận động
Gây tê ngoài màng cứng (chậm) lượng lớn2 để phẫu thuật
Người lớn
5,0-7,5 10-20 ml (50-150 mg) Vừa phải đến hoàn toàn
Gây tê ngoài màng cứng tiêm chậm3 cho mổ đẻ 5 15-30 ml (75-150 mg) Vừa phải đến hoàn toàn
Nội tủy 5 3 ml (15 mg) Vừa phải đến hoàn toàn
Thần kinh ngoại vi 2,5-5,0 1-40 ml (2,5-tối đa 150 mg) Vừa phải đến hoàn toàn
Gây tê thẩm thấu vùng chậu-bẹn hoặc chậu-hạ vị ở trẻ em <12 tuổi4 2,5 0,5mg/kg/vị trí (1,25ml/kg/vị trí) Không
5 0,25mg/kg/vị trí (1,25ml/kg/vị trí) Không
Mắt (phong bế quanh cầu mắt) 7,5 5-15 ml (37,5-112,5 mg) Vừa phải đến hoàn toàn
Thẩm thấu cục bộ (người lớn) 2,5 1-60 ml (2,5-tối đa 150mg) Không
Giảm đau5 khi đẻ (tiên lượng lớn gây tê ngoài màng cứng6) 2,5 6-10 ml(15-25 mg) Tối thiểu đến vừa phải
Giảm đau khi đẻ (truyền ngoài màng cứng) 1,257 4-10 ml/giờ Tối thiểu đến vừa phải
(5-12,5 mg/giờ)
Đau sau phẫu thuật 1,257 10-15 ml/giờ Tối thiểu đến vừa phải
(12,5-18,75mg/giờ)
2,5 5-7,5 ml/giờ
(12,5-18,75 mg/giờ)
1Dung dịch levobupivacain dùng tiêm hoặc tiêm truyền có các mức nồng độ 2,5; 5,0 và 7,5 mg/ml.
2Kéo dài trên 5 phút.
3Tiêm trong thời gian quá 15-20 phút.
4Chưa có dữ liệu ở bệnh nhi dưới 6 tháng tuổi.
5Trong trường hợp dùng levobupivacain với các thuốc khác như opioid để giảm đau, nên giảm liều dùng levobupivacain và dùng với nồng độ thấp hơn (ví dụ 1,25mg/ml).
6Khoảng cách giữa các lần tiêm ít nhất là 15 phút.
7Xem thông tin về sự pha loãng trong phần Cảnh báo đặc biệt cho các phần loại bỏ và cách xử lý.

4.3. Chống chỉ định:

Bao gồm các chống chỉ định chung liên quan đến gây tê vùng, khi sử dụng bất kì loại thuốc nào để gây tê cục bộ.

Dung dịch levobupivacain chống chỉ định ở bệnh nhân đã biết mẫn cảm với thành phần hoạt chất, thuốc gây tê cục bộ nhóm amid hoặc bất kì thành phần tá dược nào của thuốc.

Dung dịch levobupivacain chống chỉ định trong gây tê tĩnh mạch vùng (phong bế Bier).

Không dùng levobupivacain cho bệnh nhân giảm huyết áp trầm trọng như shock do bệnh lí tim mạch hay do giảm oxy huyết.

Chống chỉ định dùng dung dịch levobupivacain để phong bế quanh vùng chậu trong sản khoa.

4.4 Thận trọng:

Tất cả các hình thức gây tê cục bộ và gây tê vùng với levobupivacain nên tiến hành trong điều kiện trang thiết bị tốt và được thực hiện bởi nhân viên được đào tạo, có kinh nghiệm trong kĩ thuật gây tê và có khả năng chuẩn đoán, xử lí bất kì phản ứng không mong muốn nào xuất hiện.

Levobupivacain có thể gây phản ứng dị ứng cấp, tác động lên tim mạch và hệ thần kinh.

Levobupivacain nên được sử dụng thận trọng trong gây tê vùng ở bệnh nhân suy giảm chức năng tim mạch như rối loạn nhịp tim nặng.

Đã có báo cáo hậu mãi về trường hợp tiêu sụn ở bệnh nhân được tiêm gây tê trong khớp sau phẫu thuật. Phần lớn các trường hợp báo cáo liên quan đến tiêu sụn là ở khớp vai. Theo các yếu tố và sự mâu thuẫn trong các tài liệu khoa học liên quan đến cơ chế tác dụng, quan hệ nhân quả của trường hợp này chưa được thiết lập. Do đó, tiêm trong khớp không được chỉ định với levobupivacain.

Sử dụng thuốc gây tê cục bộ ở hệ thống thần kinh trung ương bằng gây tê nội tủy hoặc gây tê ngoài màng cứng cho bệnh nhân đã có tiền sử bị bệnh ở hệ thống thần kinh trung ương có thể tiềm ẩn tăng tình trạng bệnh. Vì vậy, nên thực hiện các đánh giá lâm sàng khi dự định gây tê nội tủy hoặc gây tê ngoài màng cứng ở các bệnh nhân này.

Gây tê ngoài màng cứng

Trong khi gây tê ngoài màng cứng bằng levobupivacain, dung dịch đậm đặc (0,5-0,7%) phải được dùng theo lượng tăng dần từ 3 đến 5 ml với thời gian vừa đủ giữa các liều để phát hiện các dấu hiệu ngộ độc do vô ý tiêm nhầm vào mạch hay nội tủy. Đã có báo cáo về giảm nhịp tim, hạ huyết áp nặng, suy hô hấp kèm theo ngừng tim (một số trường hợp có thể tử vong) khi dùng các thuốc gây tê cục bộ, bao gồm cả levobupivacain. Khi cần tiêm lượng lớn thuốc gây tê, như trong phong bế ngoài màng cứng, khuyên dùng một liều thử 3-5 ml lidocaine với adrenalin.

Vô tình tiêm thuốc vào mạch máu sau đó có thể phát hiện bằng việc tăng nhịp tim tạm thời và vô tình tiêm thuốc vào nội tủy sẽ xuất hiện dấu hiệu phong bế tủy sống.

Cũng cần hút thử bơm tiêm trước và trong mỗi lần tiêm thuốc bằng kỹ thuật catheter liên tục. Tiêm nhầm vào mạch máu vẫn có thể xảy ra ngay cả khi hút thử không thấy máu. Trong khi dùng thuốc gây tê ngoài màng cứng, khuyên bắt đầu dùng một liều thử và theo dõi tác dụng trước khi dùng đủ liều.

Gây tê ngoài màng cứng với bất kì thuốc gây tê cục bộ nào cũng có thể gây ra hạ huyết áp, giảm nhịp tim. Tất cả các bệnh nhân phải được thiết lập sẵn đường truyền tĩnh mạch. Đảm bảo việc sẵn có đủ lượng dịch truyền, thuốc vận mạch, thuốc mê có đặc tính chống co giật, thuốc giãn cơ, atropine, trang thiết bị và chuyên gia cho việc hồi sức.

Giảm đau ngoài màng cứng

Đã có báo cáo sau khi đưa thuốc ra thị trường về hội chứng đuôi ngựa và các sự kiện chỉ ra độc tính thần kinh liên quan tới thời gian sử dụng levobupivacain để giảm đau ngoài màng cứng trong thời gian lớn hơn hoặc bằng 24 giờ. Các hiện tượng này nghiêm trọng hơn và trong một số trường hợp dẫn tới di chứng lâu dài khi sử dụng levobupivacain trên 24 giờ. Do vậy, sử dụng levobupivacain nhiều hơn 24 giờ cần phải cân nhắc thận trọng và chỉ sử dụng khi lợi ích đem lại cho bệnh nhân lớn hơn nguy cơ.

Điều quan trọng là phải hút thử máu hoặc dịch não tủy (nơi có thể) trước khi tiêm bất kì thuốc tê cục bộ nào, cả trước khi cho dùng liều đầu tiên và các liều tiếp theo để tránh tiêm và mạch máu hay tiêm trong tủy sống. cần thận trọng khi dùng levobupivacain cho các bệnh nhân đang dùng các thuốc gây tê cục bộ khác có cấu trúc liên quan đến các thuốc gây tê cục bộ nhóm amid, do tác dụng gây độc của các thuốc đó có thể bị tăng thêm.

Phong bế thần kinh vùng rộng

Bệnh nhân nên có đường truyền tĩnh mạch qua catheter để đảm bảo chức năng của tĩnh mạch. Nên sử dụng liều thấp nhất có tác dụng để tránh nồng độ cao trong huyết tương và các phản ứng phụ nghiêm trọng. Nên tránh tiêm nhanh một lượng lớn dung dịch thuốc gây tê cục bộ và nên chia liều (tăng dần liều) khi có thể.

Dùng cho vùng đầu-cổ

Các liều nhỏ thuốc gây tê cục bộ được tiêm vào vùng cổ hay đầu, kể cả sau cầu mắt, răng, các khối hạch hình sao cũng có thể gây ra phản ứng bất lợi tương tự như ngộ độc toàn thân quan sát thấy khi vô tình tiêm liều lớn hơn vào mạch máu. Vì thế, tiêm cho vùng này đòi hỏi phải thật cẩn thận. Các phản ứng này có thể là do thuốc gây tê cục bộ tiêm vào động mạch và chảy ngược vào tuần hoàn máu não. Cũng có thể là do thủng vỏ bao màng cứng của thần kinh thị giác trong quá trình phong bế sau cầu mắt dẫn đến sự khuếch tán của thuốc gây tê cục bộ dọc theo phía dưới màng cứng vào não giữa. Các bệnh nhân bị tiêm vào khu vực này phải được theo dõi liên tục hoạt động của hệ hô hấp và tim mạch. Các phương tiện và nhân lực hồi sức cấp cứu phải luôn sẵn sàng để xử lý ngay tức khắc các phản ứng bất lợi.

Dùng trong phẫu thuật mắt

Các thầy thuốc lâm sàng, người mà thực hiện kỹ thuật phong bế sau nhãn cầu nên biết rằng đã có báo cáo về việc ngừng thở thở trong gây tê cục bộ. Trước khi thực hiện phong bế sau nhãn cầu, cũng như các phương pháp gây tê vùng khác, các phương tiện, thuốc, nhân lực phải sẵn có ngay lập tức để kiểm soát tình trạng ngừng hô hấp hoặc suy hô hấp, co giật, và loạn nhịp tim hoặc suy tim. Cũng như với các phương pháp gây tê khác, bệnh nhân nên được theo dõi thường xuyên các dấu hiệu của phản ứng có hại khi phong bế mắt.

Bệnh nhân đặc biệt

Người suy nhược, người cao tuổi hoặc bệnh nhân vừa khỏi bệnh: levobupivacain nên sử dụng thận trọng ở bệnh nhân bị suy nhược, người cao tuổi, người vừa khỏi bệnh.

Bệnh nhân suy gan: levobupivacain được chuyển hóa qua gan, vì vậy nên thận trọng khi sử dụng cho bệnh nhân bị bệnh gan hoặc giảm lưu lượng máu qua gan như người nghiện rượu hoặc xơ gan.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Levobupivacain ảnh hưởng lớn đến khả năng lái xe hoặc sử dụng máy móc. Bệnh nhân nên được bảo là không lái xe, hoặc vận hành máy móc cho đến khi tất cả các tác động của thuốc gây tê và tác động trực tiếp của cuộc phẫu thuật đã hết.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B3

US FDA pregnancy category: B

Thời kỳ mang thai:

Dung dịch levobupivacain chống chỉ định sử dụng phong bế vùng chậu trong sản khoa. Dựa trên kinh nghiệm với bupivacaine có thể làm chậm nhịp tim của bào thai khi dùng để phong bế vùng chậu.

Chưa có nghiên cứu lâm sàng với levobupivacain ở ba tháng đầu của thai kỳ. Nghiên cứu ở động vật không cho thấy tác động gây quái thai nhưng có độc tính trên bào thai ở mức độ phơi nhiễm toàn thân trong khoảng tương tự với sử dụng trên lâm sàng (xem phần Dữ liệu tiền lâm sàng). Nguy cơ tiềm ẩn trên người chưa được biết. Levobupivacain không nên sử dụng trong giai đoạn sớm của thai kì trừ khi thực sự cần thiết. Tuy nhiên, đến nay, đã có nhiều kinh nghiệm lâm sàng về việc sử dụng bupivacaine trong phẫu thuật sản khoa (ở thời kỳ mang thai hoặc sinh nở) và thuốc gây ra độc tính trên bào thai.

Chuyển dạ và sinh nở:

Các thuốc gây tê cục bộ, kể cả Levobupivacain, nhanh chóng đi qua nhau thai và khi dùng gây tê ngoài màng cứng có thể gây ra các mức độ ngộ độc khác nhau lên người mẹ, thai nhi và trẻ sơ sinh. Tỷ lệ và mức độ ngộ độc phụ thuộc vào thủ thuật thực hiện, loại và số lượng thuốc được dùng và kỹ thuật dùng thuốc. Các phản ứng bất lợi trong lúc sắp sinh, lên thai nhi và trẻ sơ sinh bao gồm các ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, trương lực mạch ngoại biên, chức năng tim. Đã thấy hạ huyết áp ở mẹ, nhịp tim thai nhi chậm và giảm hoạt động thai nhi khi dùng Levobupivacain gây tê cục bộ để giảm đau trong sản khoa. Các thuốc gây tê cục bộ gây ra giãn mạch bằng cách phong bế các dây thần kinh giao cảm. Truyền dịch tĩnh mạch, nâng cao chân của bệnh nhân và dịch chuyển tử cung sang trái sẽ giúp tránh giảm huyết áp. Cần phải thường xuyên theo dõi nhịp tim của thai nhi và tốt nhất nên dùng điện tim để theo dõi.

Không dùng dung dịch Levobupivacain 7,5 mg/mL trong sản khoa vì làm tăng nguy cơ ngộ độc tim trên cơ sở các kinh nghiệm đã có với Bupivacain. Chưa có kinh nghiệm dùng Levobupivacain 7,5 mg/mL trong phẫu thuật sản khoa.

Thời kỳ cho con bú:

Chưa biết chất chuyển hóa của levobupivacain có bài tiết qua sữa mẹ hay không. Giống với bupivacaine, levobupivacain có lẽ rất ít qua sữa mẹ. Như vậy, có thể cho con bú sau khi dùng thuốc gây tê cục bộ.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Các phản ứng bất lợi với levobupivacain bao gồm các phản ứng bất lợi đã biết của các thuốc trong nhóm. Các phản ứng bất lợi chủ yếu được báo cáo là hạ huyết áp, buồn nôn, thiếu máu, nôn, hoa mắt, đau đầu, sốt, đau do tiêm, đau lưng và các hội chứng bất lợi cho thai nhi khi sử dụng trong sản khoa (xem bảng dưới).

Các phản ứng bất lợi hoặc là tự phát hoặc quan sát được trên lâm sàng được mô tả trong bảng dưới. Với mỗi hệ cơ quan, các phản ứng bất lợi được sắp xếp theo tần suất xuất hiện, theo quy ước sau: hay gặp (≥1/10), thường gặp (≥1/100 đến < 1/10), ít gặp (≥1/1000 đến <1/100) và không rõ (không thể ước lượng được từ các dữ liệu sẵn có).

Hệ cơ quan Tần suất Phản ứng có hại
Rối loạn máu và hệ bạch huyết Hay gặp Thiếu máu
Rối loạn hệ miễn dịch Không rõ Phản ứng dị ứng (sốc phản vệ nghiêm trọng)
Tăng huyết áp
Không rõ
Rối loạn hệ thần kinh Thường gặp Hoa mắt
Thường gặp Đau đầu
Không rõ Co giật
Không rõ Mất ý thức
Không rõ Ngủ gà
Không rõ Ngất
Không rõ Dị cảm
Không rõ Liệt chi dưới
Không rõ Liệt1
Rối loạn mắt Không rõ Nhìn mờ
Không rõ Sa mi mắt2
Không rõ Đồng tử thu hẹp2
Không rõ Lõm mắt2
Rối loạn tim mạch Không rõ Block nhĩ thất
Không rõ Ngừng tim
Không rõ Loạn nhịp nhanh thất
Không rõ Nhịp tim nhanh
Không rõ Nhịp tim chậm
Rối loạn mách máu Hay gặp Hạ huyết áp
Không rõ Chứng đỏ bừng mặt2
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất Không rõ Suy hô hấp
Không rõ Phù thanh quản
Không rõ Ngừng thở
Không rõ Hắt hơi
Rối loạn đường tiêu hóa Hay gặp Buồn nôn
Thường gặp Nôn
Không rõ Mất cảm giác ở miệng
Không rõ Mất kiểm soát cơ thắt1
Rối loạn da và tổ chức dưới da Không rõ Phù mạch
Không rõ Mày đay
Không rõ Ngứa
Không rõ Tăng tiết mồ hôi
Không rõ Giảm tiết mồ hôi2
Không rõ Ban đỏ
 Rối loạn cơ xương và mô liên kết Thường gặp Đau lưng
Không rõ Co cơ
Không rõ Yếu cơ
Rối loạn thận và tiết niệu Không rõ Rối loạn chức năng bàng quang
Ảnh hưởng trên thai kỳ và giai đoạn chu sinh Thường gặp Hội chứng bất lợi cho thai nhi
Rối loạn hệ sinh sản và tuyến vú Không rõ Cương dương1
Rối loạn chung và tình trạng của vị trí đưa thuốc Thường gặp Sốt
Quan sát Không rõ Giảm cung lượng tim
Không rõ Thay đổi điện tâm đồ
Tổn thương, biến chứng tại vị trí và phương pháp dùng thuốc Thường gặp Đau do tiêm

1Đây có thể là dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng đuôi ngựa.

2Đây có thể là dấu hiệu hoặc triệu chứng của hội chứng Horner thoáng qua.

Các phản ứng bất lợi của thuốc gây tê cục bộ nhóm amid là hiếm gặp, nhưng chúng có thể xuất hiện và trở nên nghiêm trọng do dùng thuốc quá liều hoặc vô tình tiêm vào tĩnh mạch.

Đã có báo cáo về sự quá mẫn chéo giữa các thuốc gây tê cục bộ nhóm amid.

Vô tình tiêm thuốc gây tê cục bộ vào nội tủy có thể dẫn đến tình trạng gây tê rất mạnh tủy sống.

Ảnh hưởng lên tim mạch liên quan đến giảm tính dẫn truyền của tim, giảm sự kích thích và co bóp của cơ tim. Thông thường sự ảnh hưởng này sẽ được biết trước bằng dấu hiệu ngộ độc trên hệ thần kinh như co giật, nhưng rất hiếm, ngừng tim có thể xảy ra mà không có dấu hiệu báo trước nào.

Các phản ứng bất lợi về thần kinh rấ hiếm nhưng cũng đã có báo cáo khi gây tê vùng, gây tê ngoài màng cứng và gây tê nội tủy.

Đã có báo cáo về tình trạng yếu mệt hoặc cảm giác lo âu kéo dài, đôi khi xảy ra thường xuyên liên quan tới điều trị bằng levobupivacain. Khó xác định rằng tác dụng kéo dài này là do ngộ độc thuốc hay do tổn thương không xác định được trong quá trình phẫu thuật hoặc do các yếu tố về cơ học khác nhau như đặt catheter và kỹ thuật thực hiện.

Đã có báo cáo về hội chứng đuôi ngựa, dấu hiệu và triệu chứng của tổn thương tiềm tàng tủy sống hoặc rễ thần kinh cột sống (bao gồm dị cảm, yếu hoặc liệt chi dưới, mất kiểm soát ruột và/hoặc mất kiểm soát bàng quang và dương vật) liên quan tới sử dụng levobupivacain nhiều hơn 24 giờ (xem phần Cảnh báo và thận trọng). Tuy nhiên, không thể xác định  các hiện tượng trên là do tác dụng của levobupivacain, tổn thương cơ học tới cột sống hoặc rễ thần kinh cột sống, hoặc tụ máu tại vùng dưới của cột sống.

Cũng hiếm có báo cáo về hội chứng Horner thoáng qua (sa mi mắt, đồng tử thu hẹp, lõm mắt, mồ hôi bên và/hoặc đỏ bừng) liên quan tới sử dụng thuốc gây tê vùng, kể cả levobupivacain. Những tác dụng này sẽ hết khi ngừng điều trị.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Các nghiên cứu invitro cho thấy CYP3A4 isoform và CYP1A2 isoform làm trung gian cho chuyển hóa levobupivacain. Mặc dù chưa có nghiên cứu lâm sàng nào được tiến hành, nhưng việc chuyển hóa của levobupivacain có thể bị ảnh hưởng bởi các chất đã biết là gây ức chế CYP3A4 như ketoconazole và các chất ức chế CYP1A2 như methylxanthin.

Cần thận trọng khi dùng levobupivacain cho các bệnh nhân đang dùng các thuốc chống loạn nhịp  có tác dụng gây tê cục bộ, ví dụ như mexilitin hay các thuốc chống loạn nhịp nhóm III do khả năng tác dụng hiệp đồng.

Chưa có nghiên cứu lâm sàng nào được hoàn thành về sự kết hợp levobupivacain và adrenalin.

4.9 Quá liều và xử trí:

Vô tình tiêm thuốc vào tĩnh mạch khi gây tê cục bộ có thể xảy ra phản ứng ngộ độc ngay lập tức. Trong trường hợp dùng quá liều, nồng độ đỉnh trong huyết tương có thể không tìm thấy sau 2 giờ, phụ thuộc vào vị trí tiêm thuốc, do đó, triệu chứng ngộ độc có thể bị trì hoãn. Có thể kéo dài tác dụng của thuốc.

Các triệu chứng khi dùng quá liều hoặc vô tình tiêm vào tĩnh mạch khi gây tê cục bộ kéo dài đã được báo cáo có ảnh hưởng đến cả hệ thần kinh và tim mạch.

Ảnh hưởng lên hệ thống thần kinh trung ương

Triệu chứng co giật nên được điều trị ngay lập tức bằng tiêm tĩnh mạch thiopenton hoặc truyền diazepam khi cần thiết. Thiopenton và diazepam cũng làm suy yếu chức năng của hệ thần kinh trung ương, chức năng hô hấp và tim mạch. Vì vậy, khi sử dụng các thuốc này cũng thể dẫn đến ngừng thở. Chỉ sử dụng thuốc phong bế thần kinh cơ nếu bác sỹ lâm sàng tự tin về khả năng duy trì đường thở và kiểm soát hoàn toàn được khả năng bệnh nhân bị tê liệt.

Nếu không được điều trị nhanh chóng, sau triệu chứng co giật là giảm oxy huyết tương và tăng cacbonic cộng với ức chế cơ tim do tác dụng gây tê cục bộ tại cơ tim, có thể dẫn đến loạn nhịp tim, rung thất hoặc ngừng tim.

Ảnh hưởng trên tim mạch

Có thể ngăn chặn hoặc giảm nhẹ tình trạng giảm huyết áp bằng sử dụng truyền dịch và/hoặc chất gây co mạch. Nếu xuất hiện dấu hiệu hạ huyết áp, nên điều trị bằng tiêm tĩnh mạch dạng tinh thể hoặc dạng keo và/hoặc tăng liều thuốc gây co mạch, ví dụ ephedrine 5-10 mg. Bất kì một nguyên nhân nào khác cùng gây giảm huyết áp cũng nên được điều trị ngay lập tức.

Nếu xuất hiện giảm nhịp tim nghiêm trọng, điều trị bằng atropine 0,3-1,0 mg để duy trì nhịp tim ở mức bình thường.

Loạn nhịp tim nên được điều trị nếu có yêu cầu và triệu chứng rung thất nên được điều trị bằng sốc điện truyền nhịp.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Levobupivacain là thuốc gây tê và giảm đau cục bộ tác dụng kéo dài. Nó phong bế dẫn truyền trên cả hệ thần kinh cảm giác và hệ thần kinh vận động bằng cách tương tác với điện áp kênh natri trên màng tế bào, nhưng kênh kali và kênh calci cũng bị phong bế. Thêm vào đó, levobupivacain gây trở ngại sự truyền xung động và nhận cảm ở các mô khác, nơi mà tác dụng trên hệ tim mạch và hệ thống thần kinh trung ương là quan trọng nhất cho việc xuất hiện các phản ứng bất lợi trên lâm sàng.

Liều của levobupivacain xấp xỉ ở dạng bazơ, ngược lại, liều bupivacaine racemic xấp xỉ ở dạng muối hydrochlorid. Điều này làm tăng khoảng trên 13% lượng hoạt chất trong dung dịch levobupivacain so với bupivacaine. Trong các nghiên cứu lâm sàng ở nồng độ danh nghĩa tương tự nhau, levobupivacain có tác dụng lâm sàng tương tự bupivacaine.

Trong một nghiên cứu dược lực học phong bế dây thần kinh trụ, levobupivacain có tác dụng cân bằng với bupivacaine.

Kinh nghiệm về tính an toàn khi sử dụng levobupivacain vượt quá 24 giờ còn giới hạn.

Levobupivacain có cùng các tính chất dược lực học với các chất gây tê cục bộ khác. Khi hấp thu vào cơ thể, các chất gây tê cục bộ có thể gây ra các tác dụng lên hệ thần kinh trung ương và hệ tim mạch. Khi đạt hàm lượng nhất định trong máu với các liều điều trị, đã thấy có các báo cáo về thay đổi trong dẫn truyền tim, khả năng bị kích thích, tính trơ, sự co bóp và sức cản mạch ngoại biên. Hàm lượng gây ngộ độc trong máu làm giảm dẫn truyền và khả năng bị kích thích của tim, có thể dẫn tới chẹn nhĩ thất, loạn nhĩ thất và ngừng tim, đôi khi gây tử vong. Ngoài ra, khả năng co bóp của cơ tim bị giảm và xảy ra giãn mạch ngoại biên, dẫn đến làm giảm cung lượng tim và làm giảm huyết áp động mạch.

Cơ chế tác dụng:

Levobupivacain là một chất gây tê cục bộ thuộc nhóm amino amid. Chất gây tê cục bộ phong bế việc sinh ra và dẫn truyền các xung thần kinh bằng cách tăng ngưỡng kích thích điện trong tế bào thần kinh, làm chậm sự lan tỏa của các xung thần kinh và làm giảm tốc độ tăng của điện thế hoạt động. Nói chung, tiến triển của gây tê liên quan đến đường kính, sự myelin hóa và dung lượng dẫn truyền của các sợi thần kinh chịu tác động. Về mặt lâm sàng, trình tự mất chức năng thần kinh xảy ra như sau: 1) đau, 2) nhiệt độ, 3) cảm giác, 4) cảm nhận trong cơ thể và 5) trương lực cơ xương.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu

Hàm lượng levobupivacain trong huyết tương sau khi dùng thuốc phụ thuộc vào liều dùng và đường dùng thuốc vì mức độ hấp thụ thuốc từ vị trí tiêm thuốc bị ảnh hưởng bởi lượng mao mạch ở mô. Kinh nghiệm từ các nghiên cứu lâm sàng cho thấy để phong bế hoàn toàn bộ phận nhận cảm để phẫu thuật sau khi gây tê ngoài màng cứng là sau 10-15 phút, và thời gian hồi tỉnh là 6-9 giờ.

Phân bố

Các nghiên cứu ở người, dược động học phân bố của levobupivacain đường tiêm tĩnh mạch có bản chất tương tự bupivacaine.

Liên kết với protein huyết tương của levobupivacain được đánh giá qua in vitro là khoảng trên 97% ở nồng độ 0,1 đến 1,0 µg/ml. Thể tích phân bố sau khi tiêm tĩnh mạch là 67 lít.

Chuyển hóa sinh học

Levobupivacain bị chuyển hóa mạnh nên không phát hiện được levobupivacain ở dạng không đổi trong nước tiểu và phân. 3-hydroxy levobupivacain, chất chuyển hóa chủ yếu của levobupivacain, được thải trừ qua nước tiểu ở dạng liên hợp với glucuronic và este sulphat. Các nghiên cứu in vitro cho thấy rằng CYP3A4 isoform và CYP1A2 isoform làm trung gian cho chuyển hóa levobupivacain thành desbutyl levobupivacain và 3-hydroxy levobupivacain. Những nghiên cứu này chỉ ra rằng chuyển hóa của levobupivacain và bupivicain là tương tự nhau.

Không thấy có dấu hiệu chuyển hóa ngược levobupivacain trong in vitro.

Thải trừ

Sau khi tiêm tĩnh mạch, lượng đáng kể levobupivacain đánh dấu phóng xạ tới 95% tổng liều trung bình được thấy trong nước tiểu (71%) và phân (24%) trong vòng 48 giờ. Độ thanh thải trung bình và thời gian bán hủy giai đoạn cuối của levobupivacain sau khi tiêm tĩnh mạch tương ứng là 39 lít/giờ và 1,3 giờ.

Trong một nghiên cứu dược lý lâm sàng sử dụng 40 mg levobupivacain tiêm tĩnh mạch, thời gian bán thải trung bình khoảng 80±22 phút,Cmax­ 1,4±0,2 µg/ml và AUC 70±27 µg x phút/ml.

Tính tuyến tính

Giá trị trung bình Cmax­ và AUC(0-24) của levobupivacain gần như tỷ lệ thuận với liều dùng khi gây tê ngoài màng cứng liều 75 mg (0,5%) và 112,5 mg (0,75%) và dùng gây tê đám rối cánh tay liều 1 mg/kg (0,25%) và 2 mg/kg (0,5%). Gây tê ngoài màng cứng liều 112,5 mg (0,75%), giá trị trung bình Cmax và AUC tương ứng là 0,58 µg/ml và 3,56 µg x h/ml.

Người cao tuổi:

Hiện các số liệu còn ít ỏi chỉ ra có các khác bịêt về Tmax, Cmax, AUC liên quan đến tuổi (giữa các nhóm tuổi < 65; 65-75 và > 75), nhưng những khác biệt này nhỏ và thay đổi phụ thuộc vào vị trí tiêm thuốc.

Giới tính:

Số lượng nhỏ các đối tượng trong nhóm nam giới hay phụ nữ và sự khác nhau về vị trí dùng thuốc (chưa thể tách số liệu) trong các nghiên cứu khác nhau không cho phép đánh giá sự khác biệt về giới lên đặc điểm dược động học của Levobupivacain.

Trẻ em

Hiện chưa có các số liệu về dược động học của Levobupivacain cho nhóm bệnh nhân này.

Tỷ số hàm lượng Mẹ/bào thai

Tỷ số giữa hàm lượng Levobupivacain trong tĩnh mạch dây rốn và người mẹ ở trong khoảng 0,252-0,303 sau khi gây tê ngoài màng cứng bằng Levobupivacain để mổ đẻ. Số liệu này nằm trong mức thường thấy với Bupivacain.

Phụ nữ cho con bú

Một số thuốc gây tê cục bộ đào thải qua sữa mẹ nên cần cẩn thận khi dùng chúng cho các bà mẹ đang cho con bú. Các nghiên cứu về đào thải qua sữa mẹ của Levobupivacain hay các chất biến đổi của nó chưa được tiến hành (Xem mục Thận trọng khi dùng).

Suy thận

Hiện chưa có nghiên cứu chuyên biệt ở các bệnh nhân suy thận. Levobupivacain chưa bị biến đổi không thải trừ qua nước tiểu. Mặc dù chưa có bằng chứng rằng có sự tích lũy Levobupivacain ở các bệnh nhân suy thận, một số chất chuyển hóa của nó có thể bị tích lũy vì chúng được đào thải chủ yếu qua thận.

Suy gan

Hiện chưa có nghiên cứu chuyên biệt ở các bệnh nhân suy gan. Levobupivacain bị đào thải chủ yếu thông qua chuyển hóa ở gan và các thay đổi chức năng gan có thể có hậu quả đáng kể. Cần thận trọng khi dùng Levobupivacain cho các bệnh nhân bị suy gan nghiêm trọng và có thể phải giảm các liều nhắc lại do quá trình đào thải chậm.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Sodium Chloride, Sodium Hydroxide, Hydrochloric acid, Water for Injections

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản levobupivacain ở nhiệt độ trong phòng có kiểm soát 20-250C (68-770F) cho phép biến động trong khoảng 15-300C (59-860F).

6.4. Thông tin khác :

Tính ổn định khi pha loãng:

Levobupivacain được pha loãng trong dung dịch tiêm Natri Chlorid USP 0,9% thành dung dịch chứa 0,625-2,5 mg Levobupivacain trong 1 mL ổn định về vật lý và hóa học khi được bảo quản trong túi nhựa PVC (Polivinyl Chloride) ở nhiệt độ trong phòng trong vòng 24 giờ. Phải dùng các kỹ thuật vô trùng khi pha chế các sản phẩm pha loãng. Levobupivacain đã pha trộn chỉ được chuẩn bị để dùng cho một bệnh nhân và chỉ dùng trong vòng 24 giờ kể từ khi pha chế. Phần dung dịch còn thừa phải đổ bỏ.

Ghi chú: các sản phẩm dùng tiêm phải được kiểm tra bằng mắt thường để phát hiện các tiểu phân lạ và màu sắc trước khi dùng. Không được dùng các dung dịch không trong hoặc mất màu.

Hạn dùng sau khi mở ra lần đầu: phải được dùng ngay.

Hạn dùng sau khi pha loãng: ổn định về vật lý và hóa học trong 7 ngày ở nhiệt độ 20-22oC. Dung dịch levobupivacain chứa Morphin, Fentanyl, Clonidine ổn định về vật lý và hóa học ở nhiệt độ 20-22oC trong 40 giờ.

Theo quan điểm vi sinh học, sản phẩm phải được dùng ngay. Nếu không dùng ngay, thời gian và điều kiện bảo quản trước khi dùng thuộc trách nhiệm của người dùng và thường không quá 24 giờ ở 2-8oC, trừ phi quá trình pha được tiến hành trong điều kiện vô trùng được kiểm soát…

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM