Thuốc Eligard là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Eligard (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Leuprolide (Leuprorelin)
Phân loại: Hormones tuyến yên. Gonadotropins và các chất tương tự.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L02AE02.
Biệt dược gốc: Lucrin, Lucrin PDS Depot
Biệt dược: Eligard
Hãng sản xuất : Tolmar Inc. (USA)
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Bột pha dung dịch tiêm: Hai ống tiêm bơm sẵn, một ống chứa bột (Ống tiêm B), và một ống chứa dung môi (Ống tiêm A). 2 ống tiêm gắn với nhau tạo thành một hệ thống trộn.
Có các quy cách đóng gói sau:
ELIGARD 7,5 mg và ELIGARD 22,5 mg:
• Một bộ gồm hai khay được ép bằng nhiệt chứa trong một hộp carton. Một khay chứa ống tiêm A bơm sẵn, một cần pit-tông lớn và một gói hút ẩm. Khay kia chứa ống tiêm B bơm sẵn, một kim vô khuẩn cỡ 20 và một gói hút ẩm.
ELIGARD 45mg
• Một bộ gồm hai khay được ép bằng nhiệt chứa trong một hộp carton. Một khay chứa ống tiêm A bơm sẵn, một cần pit-tông lớn cho ống tiêm B và một gói hút ẩm. Khay kia chứa ống tiêm B bơm sẵn, một kim vô khuẩn cỡ 18 và một gói hút ẩm.
Mỗi ống: Leuprorelin acetate 7,5 mg, 22,5 mg hoặc 45 mg, tương đương leuprorelin 6,96 mg, 20,87 mg hoặc 41,7 mg.
Bột (ống tiêm B): Ống tiêm bơm sẵn bột màu trắng đến màu trắng nhạt.
Dung môi (ống tiêm A): Ống tiêm bơm sẵn dung dịch trong suốt, không màu đến màu vàng nhạt.
Thuốc tham khảo:
| ELIGARD 7,5mg | ||
| Mỗi lọ bột pha tiêm có chứa: | ||
| Leuprorelin acetate | …………………………. | 7,5 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |


3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
ELIGARD được chỉ định để điều trị giảm nhẹ ung thư tuyến tiền liệt tiến triển.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Thành phần của 2 ống tiêm vô khuẩn bơm sẵn thuốc phải được trộn ngay trước khi dùng ELIGARD bằng cách tiêm dưới da.
Dựa trên các dữ liệu từ kinh nghiệm ở động vật, phải tuyệt đối tránh tiêm vào động mạch hoặc tiêm tĩnh mạch.
Cũng như các thuốc khác được dùng tiêm dưới da, nên định kỳ thay đổi vị trí tiêm.
Trẻ em và thiếu niên: Chưa có kinh nghiệm ở trẻ em (dưới 18 tuổi) (xem thêm Chống chỉ định).
Điều chỉnh liều ở các nhóm bệnh nhân đặc biệt: Chưa có nghiên cứu lâm sàng được thực hiện ở bệnh nhân bị suy gan hoặc suy thận.
Liều dùng:
Liều lượng cho nam giới trưởng thành
ELIGARD nên được dùng dưới sự chỉ dẫn của chuyên gia y tế có chuyên môn phù hợp để theo dõi đáp ứng điều trị.
ELIGARD 7,5 mg được dùng dưới dạng tiêm dưới da liều đơn mỗi tháng. Dung dịch được tiêm tạo thành một kho chuyển giao thuốc dạng đặc và đưa đến sự phóng thích leuprorelin acetate liên tục trong một tháng.
ELIGARD 22,5 mg được dùng dưới dạng tiêm dưới da liều đơn mỗi 3 tháng. Dung dịch được tiêm tạo thành một kho chuyển giao thuốc dạng đặc và đưa đến sự phóng thích leuprorelin acetate liên tục trong thời gian 3 tháng.
ELIGARD 45 mg được dùng dưới dạng tiêm dưới da liều đơn mỗi 6 tháng. Dung dịch được tiêm tạo thành một kho chuyển giao thuốc dạng đặc và đưa đến sự phóng thích leuprorelin acetate liên tục trong thời gian 6 tháng.
Thông thường, việc điều trị ung thư tuyến tiền liệt tiến triển bằng ELIGARD đòi hỏi điều trị lâu dài và không nên bị gián đoạn khi có thuyên giảm hay cải thiện bệnh.
Cần theo dõi đáp ứng với ELIGARD dựa vào các thông số lâm sàng và bằng cách đo nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) trong huyết thanh. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy nồng độ testosterone tăng lên trong 3 ngày đầu điều trị ở đa số bệnh nhân không phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn và sau đó giảm xuống dưới nồng độ cắt bỏ tinh hoàn trong y khoa trong vòng 3-4 tuần. Một khi đã đạt được, nồng độ cắt bỏ tinh hoàn vẫn được duy trì miễn là tiếp tục điều trị thuốc (tăng đột ngột testosterone <1%). Trong trường hợp đáp ứng của bệnh nhân dưới mức tối ưu, cần xác định là đã đạt nồng độ testosterone trong huyết thanh hay còn ở nồng độ cắt bỏ tinh hoàn.
4.3. Chống chỉ định:
Quá mẫn với leuprorelin acetate, các chất đồng vận GnRH khác hoặc với bất kỳ thành phần nào của tá dược.
Ở bệnh nhân trước đây đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn (cũng như các chất đồng vận GnRH khác, ELIGARD không dẫn đến giảm hơn nữa nồng độ testosterone huyết thanh trong trường hợp phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn).
Khi là điều trị duy nhất ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt có chèn ép tủy sống hoặc có bằng chứng về di căn cột sống (xem Cảnh báo và thận trọng).
Chống chỉ định dùng ELIGARD ở phụ nữ và bệnh nhân trẻ em.
4.4 Thận trọng:
Thuốc này chỉ dùng theo đơn của bác sĩ.
Thiếu hiệu quả lâm sàng có thể xảy ra do việc pha thuốc không chính xác.
Leuprorelin acetate, giống như các chất đồng vận GnRH khác, làm tăng thoáng qua nồng độ testosterone, dihydrotestosterone và acid phosphatase huyết thanh trong tuần đầu điều trị. Bệnh nhân có thể gặp các triệu chứng xấu đi hoặc bắt đầu những triệu chứng mới, bao gồm đau xương, bệnh lý thần kinh, huyết niệu, tắc nghẽn niệu quản hoặc cổ bàng quang (xem Tác dụng không mong muốn). Những triệu chứng này thường giảm đi khi tiếp tục điều trị.
Nên xem xét dùng thêm một thuốc kháng androgen thích hợp bắt đầu 3 ngày trước khi điều trị bằng leuprorelin và tiếp tục trong 2-3 tuần đầu điều trị. Đã có báo cáo là điều này phòng ngừa di chứng tăng testosterone trong huyết thanh lúc ban đầu.
Sau phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn, ELIGARD không dẫn đến giảm hơn nữa nồng độ testosterone trong huyết thanh ở bệnh nhân nam.
Đã có báo cáo về những trường hợp tắc nghẽn niệu quản và chèn ép tủy sống, có thể góp phần gây liệt, có hoặc không có các biến chứng gây tử vong với các chất đồng vận GnRH. Nếu có chèn ép tủy sống hoặc suy thận, cần thiết lập điều trị chuẩn về các biến chứng này.
Những bệnh nhân có di căn cột sống và/hoặc di căn não cũng như những bệnh nhân bị tắc nghẽn đường tiểu cần được theo dõi sát trong vài tuần đầu điều trị.
Một tỷ lệ bệnh nhân có những khối u không nhạy cảm với sự sử dụng hormone. Không có cải thiện lâm sàng mặc dù có sự ngăn chặn đầy đủ testosterone là chẩn đoán của tình trạng này. Các phác đồ điều trị hiện nay khuyến cáo nên tiếp tục điều trị GnRH cùng với các chế độ điều trị khác đối với tình trạng này.
Đã có báo cáo về giảm mật độ xương trong y văn ở nam giới đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn hoặc đã được điều trị bằng các chất đồng vận GnRH (xem Tác dụng không mong muốn).
Liệu pháp kháng androgen làm tăng đáng kể nguy cơ gãy xương do loãng xương. Chỉ có một ít dữ liệu về vấn đề này. Đã quan sát thấy gãy xương do loãng xương ở 5% bệnh nhân sau 22 tháng điều trị làm mất androgen về mặt dược lý và ở 4% bệnh nhân sau 5 đến 10 năm điều trị. Nguy cơ gãy xương do loãng xương thường cao hơn nguy cơ gãy xương do bệnh lý. Ngoài việc thiếu hụt testosterone lâu dài, tuổi tác cao, hút thuốc, sử dụng thức uống có cồn, béo phì và thiếu tập thể dục có thể ảnh hưởng lên sự phát triển của loãng xương.
Trong thời gian theo dõi hậu mãi, đã có báo cáo những trường hợp hiếm gặp về ngập máu tuyến yên (một hội chứng lâm sàng thứ phát do nhồi máu tuyến yên) sau khi dùng các chất đồng vận GnRH, đa số xảy ra trong vòng 2 tuần sau khi dùng liều đầu tiên, và một số trường hợp trong vòng giờ đầu. Trong những trường hợp này, ngập máu tuyến yên biểu hiện ở dạng nhức đầu đột ngột, nôn, thay đổi thị giác, liệt mắt, trạng thái tinh thần thay đổi và đôi khi trụy tim mạch. Cần phải chăm sóc y tế ngay lập tức.
Tăng đường huyết và bệnh đái tháo đường: Đã có báo cáo về tăng đường huyết và tăng nguy cơ tiến triển bệnh đái tháo đường ở nam giới dùng các chất đồng vận GnRH. Tăng đường huyết có thể là biểu hiện của sự tiến triển bệnh đái tháo đường hoặc việc kiểm soát đường huyết kém ở bệnh nhân đái tháo đường. Kiểm tra định kỳ đường huyết và/hoặc hemoglobin glycosylat (HbA1c) ở bệnh nhân dùng chất đồng vận GnRH và kiểm soát phương pháp điều trị tăng đường huyết hoặc đái tháo đường hiện tại.
Các bệnh tim mạch: Liệu pháp làm mất androgen có thể kéo dài khoảng QT. Các chuyên viên y tế nên cân nhắc xem liệu các lợi ích của liệu pháp làm mất androgen có cao hơn các nguy cơ tiềm tàng ở bệnh nhân có hội chứng QT dài bẩm sinh, suy tim sung huyết, bất thường điện giải thường gặp và ở bệnh nhân dùng các thuốc đã biết kéo dài khoảng QT hay không. Cần điều chỉnh các bất thường về điện giải. Xem xét theo dõi định kỳ điện tâm đồ và các chất điện giải.
Đã có báo cáo về việc tăng nguy cơ tiến triển nhồi máu cơ tim, đột tử do tim và đột quỵ ở nam giới dùng chất đồng vận GnRH. Dựa vào tỉ số odds (odds ratio) đã được báo cáo, nguy cơ trên xuất hiện thấp. Khi điều trị cho bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt, nguy cơ này cần được đánh giá thận trọng cùng với các yếu tố nguy cơ tim mạch. Bệnh nhân dùng chất đồng vận GnRH cần được theo dõi các triệu chứng và dấu hiệu của việc tiến triển bệnh tim mạch và cần được kiểm soát theo thực hành lâm sàng hiện tại.
Hệ thần kinh: Các báo cáo hậu mãi về co giật được quan sát trên bệnh nhân dùng leuprorelin acetate có hoặc không có tiền sử của các yếu tố nguy cơ. Tình trạng co giật được điều trị dựa theo thực hành lâm sàng thường quy.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Chưa có nghiên cứu nào được thực hiện về tác động của ELIGARD trên khả năng lái xe và vận hành máy móc.
Khả năng lái xe và vận hành máy móc có thể bị suy giảm do mệt mỏi, chóng mặt và rối loạn thị giác là những tác dụng phụ có thể có của việc điều trị hoặc xảy ra do bệnh có từ trước..
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: D
US FDA pregnancy category: X
Thời kỳ mang thai:
Không áp dụng vì chống chỉ định dùng ELIGARD ở phụ nữ.
Thời kỳ cho con bú:
Không áp dụng vì chống chỉ định dùng ELIGARD ở phụ nữ.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Các phản ứng phụ đã gặp với ELIGARD chủ yếu do tác dụng dược lý đặc hiệu của leuprorelin, cụ thể là tăng và giảm các nồng độ hormone nhất định. Các phản ứng phụ đã được báo cáo thường gặp nhất là nóng bừng, buồn nôn, mệt mỏi và kích ứng tại chỗ thoáng qua tại chỗ tiêm. Nóng bừng nhẹ hay trung bình xảy ra ở khoảng 58% bệnh nhân.
Các phản ứng phụ sau đây đã được báo cáo trong những thử nghiệm lâm sàng với ELIGARD ở những bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến tiền liệt tiến triển. Các phản ứng phụ được phân loại theo tần suất, như rất thường gặp (≥1/10), thường gặp (≥1/100, <1/10), ít gặp (≥1/1.000, <1/100), hiếm gặp (≥1/10.000, <1/1.000), rất hiếm gặp (<1/10.000), chưa rõ (không thể ước tính từ dữ liệu hiện có).



Hậu quả dược lý của sự ức chế testosteron bao gồm nóng bừng, tăng tiết mồ hôi/đổ mồ hôi về đêm, mất/giảm ham muốn tình dục, bất lực, chứng to vú ở nam giới, đau vú/nhạy cảm đau vú, teo tinh hoàn, rối loạn chức năng cương, giảm kích thước dương vật, rối loạn dương vật, khó chịu, ngủ lịm và mệt mỏi.
Kinh nghiêm hậu mãi
Ngập máu tuyến yên: Trong thời gian theo dõi hậu mãi, đã có báo cáo những trường hợp hiếm gặp về ngập máu tuyến yên (một hội chứng lâm sàng thứ phát do nhồi máu tuyến yên) sau khi dùng các chất đồng vận hormon phóng thích gonadotropin, đa số xảy ra trong vòng 2 tuần sau khi dùng liều đầu tiên và một số trường hợp trong vòng giờ đầu. Trong những trường hợp này, ngập máu tuyến yên biểu hiện ở dạng nhức đầu đột ngột, nôn, thay đổi thị giác, liệt mắt, trạng thái tinh thần thay đổi và đôi khi trụy tim mạch. Cần phải chăm sóc y tế ngay lập tức.
Teo cơ đã được quan sát thấy khi sử dụng lâu dài các sản phẩm trong nhóm này.
Phản ứng phản vệ/dạng phản vệ đã được báo cáo sau khi dùng chất tương tự chất đồng vận GnRH.
Các báo cáo hậu mãi về co giật được quan sát trên bệnh nhân dùng leuprorelin acetate có hoặc không có tiền sử của các yếu tố nguy cơ. Tình trạng co giật được điều trị dựa theo thực hành lâm sàng thường quy.
Bệnh phổi mô kẽ được ghi nhận với tần suất không rõ ràng trên thực tế sử dụng ở giai đoạn sau khi thuốc được lưu hành rộng rãi trên thị trường..
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Có thể điều trị triệu chứng đau xương kèm theo vùng da đỏ nhất thời với thuốc giảm đau. Nếu có chèn ép tủy sống hoặc suy giảm chức năng thận do xuất hiện tắc niệu quản, cần điều trị những biến chứng này theo liệu pháp quy định. Trong trường hợp có ADR nặng ở người mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt, cần tiến hành ngay cắt bỏ tinh hoàn. Nếu xảy ra tăng calci huyết, thực hiện những biện pháp điều trị thích hợp.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Chưa có các nghiên cứu tương tác thuốc-thuốc về dược động học đã được thực hiện với ELIGARD. Không có báo cáo về bất kỳ tương tác nào của leuprorelin acetate với các thuốc khác.
4.9 Quá liều và xử trí:
ELIGARD không có khả năng gây lạm dụng thuốc, và quá liều có chủ ý không chắc xảy ra. Không có báo cáo về lạm dụng thuốc hoặc quá liều xảy ra trong thực hành lâm sàng với leuprorelin acetate, nhưng trong trường hợp thực sự phơi nhiễm quá mức, khuyến cáo theo dõi, điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Các đặc tính dược lực học
Nhóm dược lý trị liệu: Chất tương tự hormone giải phóng gonadotropin
Mã ATC: L02A E02
Leuprorelin acetate là một chất đồng vận nonapeptide tổng hợp của hormone giải phóng gonadotropin (GnRH) có trong tự nhiên, khi được dùng liên tục sẽ ức chế sự tiết gonadotropin của tuyến yên và ngăn chặn tạo steroid ở tinh hoàn của nam giới. Tác dụng này có thể hồi phục khi ngừng điều trị thuốc. Tuy nhiên, chất đồng vận có hiệu lực mạnh hơn hormone tự nhiên và thời gian để phục hồi nồng độ testosterone có thể khác nhau giữa các bệnh nhân.
Việc sử dụng leuprorelin acetate dẫn đến tăng lúc ban đầu về nồng độ hormone tạo hoàng thể (LH) và hormone kích nang trứng (FSH) trong tuần hoàn, đưa đến tăng tạm thời nồng độ của các steroid sinh dục, testosterone và dihydrotestosterone ở nam giới. Dùng liên tục leuprorelin acetate dẫn đến giảm nồng độ LH và FSH. Ở nam giới, testosterone được giảm xuống dưới ngưỡng cắt bỏ tinh hoàn (≤ 50 ng/dL).
ELIGARD 7,5 mg: Sự giảm xảy ra trong vòng 3-5 tuần sau khi bắt đầu điều trị. Nồng độ testosterone trung bình lúc 6 tháng là 6,1 (±0,4) ng/dL, tương đương với nồng độ sau phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn 2 bên. Tất cả các bệnh nhân dùng leuprorelin acetate 7,5 mg liều đầy đủ trong một nghiên cứu lâm sàng then chốt đã đạt được nồng độ cắt bỏ tinh hoàn lúc 6 tuần; 94% đã đạt được điều này vào ngày thứ 28 và 98% vào ngày thứ 35. Ở phần lớn bệnh nhân, nồng độ testosterone được ghi nhận dưới 20 ng/dL mặc dù lợi ích đầy đủ của nồng độ thấp này vẫn chưa được xác định. Nồng độ PSA giảm 94% sau sáu tháng.
ELIGARD 22,5 mg: Sự giảm xảy ra trong vòng 3-5 tuần sau khi bắt đầu điều trị. Nồng độ testosterone trung bình lúc 6 tháng là 10,1 (±0,7) ng/dL, tương đương với nồng độ sau phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn 2 bên. Tất cả các bệnh nhân dùng leuprorelin acetate 22,5 mg liều đầy đủ trong một nghiên cứu lâm sàng then chốt đã đạt được nồng độ cắt bỏ tinh hoàn lúc 5 tuần; 99% đã đạt được điều này vào ngày thứ 28. Ở phần lớn bệnh nhân, nồng độ testosterone được ghi nhận dưới 20 ng/dL mặc dù lợi ích đầy đủ của nồng độ thấp này vẫn chưa được xác định. Nồng độ PSA giảm 98% sau sáu tháng.
ELIGARD 45 mg: Sự giảm xảy ra trong vòng 3-4 tuần sau khi bắt đầu điều trị. Nồng độ testosterone trung bình lúc 6 tháng là 10,4 (±0,53) ng/dL, tương đương với nồng độ sau phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn 2 bên. Tất cả trừ một bệnh nhân, dùng leuprorelin acetate 45 mg liều đầy đủ trong một nghiên cứu lâm sàng then chốt đã đạt được nồng độ cắt bỏ tinh hoàn lúc 4 tuần. Ở phần lớn bệnh nhân, nồng độ testosterone được ghi nhận dưới 20 ng/dL mặc dù lợi ích đầy đủ của nồng độ thấp này vẫn chưa được xác định. Nồng độ PSA giảm 97% sau sáu tháng.
Các nghiên cứu dài hạn đã cho thấy việc tiếp tục điều trị làm duy trì testosterone dưới nồng độ cắt bỏ tinh hoàn đến 7 năm, và có lẽ là vô thời hạn.
Kích thước khối u không được đo trực tiếp trong chương trình thử nghiệm lâm sàng, nhưng có một đáp ứng khối u gián tiếp có lợi được biểu thị bằng sự giảm 94% PSA trung bình đối với ELIGARD 7.5mg, giảm 98% đối với ELIGARD 22.5mg và giảm 97% đối với ELIGARD 45mg.
Cơ chế tác dụng:
Khi dùng thuốc tương tự GnRH theo kiểu bơm ngắt quãng theo nhịp, thuốc sẽ kích thích tiết gonadotropin, trái lại, khi dùng theo kiểu bơm liên tục, thuốc sẽ ức chế tiết gonadotropin.
Khi bắt đầu dùng ở nam giới, thuốc tương tự GnRH (thí dụ goserelin) gây tăng nồng độ testosteron trong huyết thanh. Khi điều trị ung thư tuyến tiền liệt, cần ngăn chặn sự tăng testosteron ban đầu nhất thời này bằng các thuốc kháng androgen,thí dụ cyproteron, nếu không, sẽ có nguy cơ tăng phát triển ung thư khi bắt đầu điều trị. Dùng dài hạn và liên tục, thuốc tương tự GnRH có tác dụng ngăn chặn lâu dài việc tiết gonadotropin tuyến yên, và do đó sau 2 đến 4 tuần điều trị nồng độ testosteron trong huyết thanh giảm tới mức như ở nam giới bị hoạn (nghĩa là dưới 50 nanogam/dl). Hậu quả là, các chức năng sinh lý và các mô phụ thuộc testosteron để duy trì trở thành không hoạt động. Các tác dụng này thường phục hồi sau khi ngừng điều trị. Ở đa số phụ nữ trước tuổi mãn kinh dùng thuốc tương tự GnRH kéo dài liên tục, gây thoái triển khối u đáp ứng với estrogen. Nồng độ estradiol trong huyết thanh giảm tới mức tương tự như ở người sau mãn kinh trong vòng 3 tuần sau khi bắt đầu dùng thuốc. Hậu quả là, các chức năng sinh lý và các mô phụ thuộc steroid tuyến sinh dục (estrogen) để duy trì hoạt động, trở thành không hoạt động. Sau khi ngừng điều trị, nồng độ estradiol, FSH và LH trong huyết thanh thường trở lại mức trước khi điều trị. Trong thực nghiệm lâm sàng với goserelin, khoảng 10% phụ nữ tăng riêng biệt estradiol. Ngoài ra, một số phụ nữ dùng goserelin không thấy giảm kéo dài LH và FSH.
Ớ trẻ em dậy thì sớm do nguyên nhân trung tâm dùng liên tục thuốc tương tự GnRH (nafarelin), nồng độ LH, testosteron và estradiol trong huyết thanh trở lại mức tiền dậy thì, làm mất các đặc tính sinh dục phụ và làm giảm tốc độ phát triển chiều cao và trưởng thành của xương. Sau khi ngừng thuốc, các tác dụng này thường phục hồi. Thuốc tương tự GnRH được dùng trong điều trị bệnh lạc nội mạc tử cung, chứng vô sinh, thiếu máu do u xơ tử cung (kèm theo bổ sung sắt), ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, dậy thì sớm. Một số được dùng trong vô sinh.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Hấp thu
ELIGARD 7,5 mg: Ở bệnh nhân bị ung thư biểu mô tuyến tiền liệt tiến triển, nồng độ leuprorelin trung bình trong huyết thanh sau khi tiêm lần đầu tăng đến 25,3 ng/mL sau khi tiêm 4-8 giờ (nồng độ cao nhất trong huyết thanh, Cmax). Sau khi tăng lúc đầu sau mỗi lần tiêm (giai đoạn cao nguyên từ 2-28 ngày sau mỗi liều), nồng độ trong huyết thanh vẫn còn tương đối ổn định (0,28-1,67 ng/mL). Không có bằng chứng về tích lũy trong quá trình dùng liều lặp lại.
ELIGARD 22,5 mg: Ở bệnh nhân bị ung thư biểu mô tuyến tiền liệt tiến triển, nồng độ leuprorelin trung bình trong huyết thanh sau khi tiêm lần đầu tăng đến 127 ng/mL sau khi tiêm 4,6 giờ (nồng độ cao nhất trong huyết thanh, Cmax). Sau khi tăng lúc đầu sau mỗi lần tiêm (giai đoạn cao nguyên từ 3-84 ngày sau mỗi liều), nồng độ trong huyết thanh vẫn còn tương đối ổn định (0,2-2 ng/mL). Không có bằng chứng về tích lũy trong quá trình dùng liều lặp lại.
ELIGARD 45 mg: Ở bệnh nhân bị ung thư biểu mô tuyến tiền liệt tiến triển, nồng độ leuprorelin trung bình trong huyết thanh sau khi tiêm lần đầu tăng đến 82 ng/mL sau khi tiêm 4,4 giờ (nồng độ cao nhất trong huyết thanh, Cmax). Sau khi tăng lúc đầu sau mỗi lần tiêm (giai đoạn cao nguyên từ 3-168 ngày sau mỗi liều), nồng độ trong huyết thanh vẫn còn tương đối ổn định (0,2-2 ng/mL). Không có bằng chứng về tích lũy trong quá trình dùng liều lặp lại.
Phân bố
Thể tích phân bố trung bình của leuprorelin ở trạng thái ổn định sau khi tiêm bolus tĩnh mạch cho nam giới tình nguyện khỏe mạnh là 27 lít. In vitro sự gắn kết với protein huyết tương người trong khoảng từ 43% đến 49%.
Thải trừ
Ở nam giới tình nguyện khỏe mạnh, tiêm bolus tĩnh mạch 1 mg leuprorelin acetate cho thấy độ thanh thải toàn thân trung bình là 8,34 lít/giờ, với thời gian bán thải cuối cùng khoảng 3 giờ dựa trên mô hình 2 ngăn. Chưa có nghiên cứu về thải trừ được tiến hành với ELIGARD.
Chưa có nghiên cứu về chuyển hóa thuốc được tiến hành với ELIGARD.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
…
6.2. Tương kỵ :
Leuprorelin acetate có trong ống tiêm B chỉ được trộn với dung môi trong ống tiêm A và không được trộn với các thuốc khác.
6.3. Bảo quản:
Bảo quản trong tủ lạnh (2°C-8°C).
Bảo quản trong bao bì gốc để tránh ẩm.Thuốc này phải ở nhiệt độ phòng trước khi tiêm.Một khi đã mở khay, sản phẩm phải được chuẩn bị ngay và phải được dùng ngay lập tức. Chỉ sử dụng một lần.
6.4. Thông tin khác :
Các dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Các nghiên cứu tiền lâm sàng với leuprorelin acetate đã phát hiện tác dụng trên hệ sinh sản ở cả hai giới là điều được dự kiến từ các đặc tính dược lý đã biết. Các tác dụng này cho thấy có thể hồi phục sau khi ngưng điều trị và thời gian tái sinh thích hợp. Leuprorelin acetate không cho thấy tính gây quái thai. Đã quan sát thấy độc tính với phôi thai/khả năng gây chết ở thỏ, phù hợp với những tác dụng dược lý của leuprorelin acetate trên hệ sinh sản.
Các nghiên cứu về tính gây ung thư đã được thực hiện trên chuột cống và chuột nhắt trong 24 tháng. Ở chuột cống, đã quan sát thấy tăng liên quan với liều dùng trong ngập máu tuyến yên sau khi tiêm dưới da liều 0,6 đến 4 mg/kg/ngày. Không quan sát thấy những tác dụng này ở chuột nhắt.
Leuprorelin acetate và sản phẩm ELIGARD 7,5 mg dạng tiêm một tháng liên quan không gây đột biến trong một tập hợp các thử nghiệm in vitro và in vivo.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM