Thân rễ cây Hương Phụ hay còn gọi là củ gấu (Rhizoma Cyperi)

Hương phụ (Củ gấu)

Thông tin cơ bản về dược liệu, vị thuốc Hương phụ

Dưới đây là nội dung cơ bản về dược liệu, vị thuốc Hương phụ (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên dược liệu/vị thuốc:

Tên thường gọi: Hương phụ.

Tên dân gian, tên khác: Củ gấu, Cỏ gấu, Hương phụ vườn, Hương phụ biển , Cỏ cú, Cỏ đuôi chồn, Nhả chông mu (Tày), Sa thảo, Xiang Fu (Trung) …

Tên khoa học vị thuốc: Rhizoma Cyperi

Tên khoa học của nguồn gốc chế biến ra vị thuốc: Cyperus rotundus L.

Họ: họ Cói (Cyperaceae)

Phân nhóm: Nhóm thuốc hành khí.

Nhóm pháp lý, nguồn gốc: Dược liệu trong nước (Nam).

Bộ phận dùng: Thân rễ phơi hay sấy khô.

2. Mô tả – Thành phần hóa học – Dạng bào chế:

2.1. Mô tả dược liệu/vị thuốc:

Hương phụ (Rhizoma Cyperi) là thân rễ đã loại bỏ rễ con và lông, phơi hay sấy khô của cây Hương phụ còn gọi là Hương phụ vườn (Cyperus rotundus L.), hoặc cây Hương phụ biển (Cyperus stoloniferus Retz.).

Hương phụ vườn (Cyperus rotundus L.): Thân rễ (thường gọi là củ) hình thoi, thể chất chắc, dài 1 cm đến 3 cm, đường kính 0,4 cm đến 1 cm. Mặt ngoài màu xám đen, có nhiều nếp nhăn dọc và đốt ngang (mỗi đốt cách nhau 0,1 cm đến 0,6 cm); trên mỗi đốt có lông cứng mọc thẳng góc với củ, màu xám đen và có nhiều vết tích của rễ con. Vết cắt ngang có sợi, mặt nhẵn bóng, phần vỏ có màu xám nhạt, trụ giữa màu nâu sẫm. Mùi thơm, vị hơi đắng ngọt, sau đó có vị cay.

Hương phụ biển (Cyperus stoloniferus Retz.): Thân rễ hình thoi, thể chất chắc, kích thước củ không đều nhau, kích thước trung bình 1 cm đến 5 cm, đường kính 0,5 cm đến 1,5 cm, mặt ngoài có màu nâu hay nâu sẫm; có nhiều nếp nhăn dọc và đốt ngang củ (mỗi đốt cách nhau 0,1 cm đến 0,6 cm); trên mỗi đốt có lông cứng mọc nghiêng theo chiều dọc, về phía đầu củ, màu nâu hay nâu sẫm và có nhiều vết tích của rễ con. Vết cắt ngang có sợi, mặt nhẵn bóng, phần vỏ màu hồng nhạt, trụ giữa màu nâu sẫm. Mùi thơm, vị hơi đắng ngọt, sau đó có vị cay.

Hình ảnh tham khảo:

Thân rễ cây Hương Phụ hay còn gọi là củ gấu (Rhizoma Cyperi)

Thân rễ cây Hương Phụ hay còn gọi là củ gấu (Rhizoma Cyperi)

2.2. Thành phần hóa học và hàm lượng:

Hương phụ chứa tinh dầu 0,3 – 2,8 %, flavonoid 1,25 %, tannin 1,66 %, các acid phenol (acid p-coumaric, acid ferulic, acid vanilic, acid p-hydroxybenzoic), alkaloid 0,21 – 0,24 %, glycoside tim 0,62 – 0,74 %…. Ngoài ra trong hương phụ còn chứa chất đắng (hệ số chất đắng 1,333), pectin 8,7 %, tinh bột 9,2 %, chất béo 2,98 % mg, acid hữu cơ 3,25 %, protein, vitamin C 8,8 % mg, nhiều nguyên tố vi lượng và rất nhiều tinh bột. Hương phụ mọc ở một số nơi ở Việt Nam chứa tinh dầu 0,54 %, alkaloid 0,104 %, glycoside tim 0,750 %, saponin 0,041 %, flavonoid 0,720 %.

Tinh dầu thân rễ Hương phụ chứa cyperen 3,67 %, β caryophylen 1,85 %, 5β H,7β,10β selinen 4(14),11 dien 3,17 %, cyperotundon 1,83 %, cyperolon 4,58 %, caryophylen oxyd 11,14 %, cyperenol 1,54 %, 9H cyclolongifolen 8 oxo 10,57 %, patchoulenon 2,92 %, patchoulenol 1,24 %, isopatchoul 1(5) en 3 on, α cyperon 8,96 %, α cyperol 16,74 %, neo isolongifolen 8,9 epoxy 1,34 %, đồng phân của 9H cycloisolongifolen 8 oxo 1,15 %, đồng phân của cyperon 12,26 %…. Ngoài ra còn có các axit béo, phenol.

Một số hoạt chất có tác dụng dược lý đã được phân lập như sau: alpha-Cyperone, Kobusone (Sesquiterpenoids); Kaempferol, Isorhamnetin (Flavonoids); Raddeanin A (Triterpenoids); Rosenonolactone (Diterpenoid) …

Cấu trúc hóa học một số hoạt chất có trong Hương phụ (Rhizoma Cyperi).

Cấu trúc hóa học một số hoạt chất có trong Hương phụ (Rhizoma Cyperi).

2.3. Các dạng bào chế hoặc thuốc dạng thành phẩm:

Hương phụ là một vị thuốc được dùng khác phổ biến trong y học cổ truyền, với nhận định: “nam bất thiểu Trần bì, nữ bất ly Hương phụ” có nghĩa là chữa bệnh cho nam giới không thể thiếu trần bì và chữa bệnh cho nữ giới không thể thiếu Hương phụ. Các thầy thuốc Đông y thường dùng Hương Phụ để chuyên chữa các bệnh phụ nữ cùng với các vị thuốc khác như ích mẫu, ngải cứu, bạch đồng nữ. Ngoài ra vị này còn xuất hiện trong các bài thuốc chữa phong thấp, giải cảm, đau dạ dày…. Một số bài thuốc có thể kể đến như: bài chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng khi hành kinh, huyết áp cao (Hương phụ 3 g, Ích mẫu 3 g, Ngải cứu 3 g, Bạch đồng nữ 3 g, sắc uống); bài chữa kinh nguyệt không đều, kinh đến muộn, bụng dưới đau tức, lúc hành kinh có màu cục tím (Hương phụ 5 g, Đương quy 10 g, Thược dược 10 g, Xuyên khung 5 g, Ô dược 7 g, Ngải diệp 3 g, sắc uống); bài thuốc chữa băng huyết, rong huyết (Hương phụ sao đen tán bột, uống); bài thuốc chữa đau bụng nôn mửa (Hương phụ, Riềng, Gừng khô, mỗi vi lượng bằng nhau, tán thành bột nhỏ, uống)…..

Trong các chế phẩm dạng thành phẩm, Hương phụ cũng được phối hợp với các vị thuốc khác dưới dạng viên nang, viên nén, viên hoàn, rượu thuốc (Hỗn hợp cao đặc dược liệu). Đặc biệt hiện nay cũng xuất hiện nhiều trong thị trường dưới dạng thực phẩm bảo vệ sức khỏe/thực phẩm chức năng. Hiện nay dạng thành phẩm có các thuốc sau: A.T Cảm xuyên hương, A.T ích mẫu điều kinh, Anvigest (Rối loạn tiêu hóa Xuân Quang), Bạch đái Xuân Quang, Biacti – Đương quy dưỡng huyết Xuân Quang, Bổ huyết điều kinh – HT, Cảm cúm đông dược việt, Cảm xuyên hương, Cảm xuyên hương plus, Cao ích mẫu – BVP, Cao ích mẫu TW3, Cao lỏng ích mẫu, Cốm cảm xuyên hương, Comazil, Dạ dày đông dược việt, Dạ dày Nhất Nhất, Dạ dày Trường Phúc, Dạ dày-tá tràng PV, Điều Kinh Ích Mẫu, Doladi, Đương qui dưỡng huyết cao Xuân Quang, Dưỡng vị tán Xuân Quang, Giải cảm Nhất Nhất, Hadugast, Hoàn an thai Foripharrm, Hoàn Điều kinh bổ huyết, Ích mẫu hoàn, Ích mẫu PV, Ích mẫu TW3, Ích ngải hương, Ích nữ P/H, Kimazen bổ huyết điều kinh, Leucova, Phong Thấp Vương, Phụ huyết khang, Phusacim, Siro Cảm xuyên hương, Tamada, Tây Thi, Thuốc Dạ dày Nhất Nhất, Viên ích mẫu OP.CIM, Viên nang ích mẫu, Xuân nữ dưỡng huyết, Xuyên thảo hương…

Hình ảnh sản phẩm tham khảo:

CAO ÍCH MẪU (OPC)
Mỗi chai 180ml cao lỏng có chứa:
Ích mẫu …………………………. 144g
Hương phụ …………………………. 45g
Ngải cứu …………………………. 36g
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

Thuốc Cao ích mẫu của công ty cổ phần dược phẩm OPC

Thuốc Cao ích mẫu của OPC có chứa thành phần Hương phụ.

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Công dụng, chủ trị:

Hương phụ thường được dùng đơn độc hoặc dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác trong các trường hợp sau:

Chữa kinh nguyệt không đều.

Chữa đau bụng khi hành kinh.

Chữa băng huyết, rong huyết.

Chữa đau bụng nôn mửa.

Lưu ý: Vị Hương phụ qua các phương pháp sao tẩm khác nhau, có tính năng công dụng không giống nhau:

Hương phụ sống (chưa qua chế biến) có tác dụng giải cảm.

Hương phụ sao đen có tác dụng cầm máu trong trường hợp rong kinh,

Hương phụ tẩm nước muối sao chữa bệnh về huyết,

Hương phụ tẩm đồng tiện (nước tiểu trẻ em) sao, có tác dụng giáng hỏa trong chứng bốc nóng,

Hương phụ tẩm giấm sao có tác dụng tiêu tích tụ chữa các trường hợp huyết ứ, u bầm,

Hương phụ tẩm rượu sao có tác dụng tiêu đờm.

Hương phụ tử chế (tẩm muối, đồng tiện, giấm, rượu) được dùng chữa các chứng bệnh của phụ nữ.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng dạng sắc hoặc cao lỏng: Cần sắc theo hướng dẫn trước khi uống.

Dạng bột, tán nhỏ làm hoàn: tán bột, thường phối hợp với các dược liệu khác, dùng trực tiếp hoặc trộn với nước hoặc mật ong rồi nặn thành viên bằng hạt đậu xanh.

Liều dùng:

Liều dùng hằng ngày: 6 – 12 g dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột, thuốc cao hoặc hoặc rượu thuốc. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Dạng bào chế thành phẩm: Dùng theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất.

4.3. Chống chỉ định:

Mẫn cảm với thành phần hoạt chất của vị thuốc/dược liệu.

4.4 Thận trọng, cảnh báo:

Những người khí suy mà không có uất kết, âm hư, huyết nhiệt không nên dùng. Tuy nhiên khi dùng nên thận trọng vì hương phụ vị đắng, tính hoạt mạnh, có thể làm tổn thương khí huyết, vì vậy cần có sự phối ngũ (kết hợp từ hai vị thuốc trở lên) thích hợp để đạt hiệu quả trong điều trị.

Không dùng cho phụ nữ có thai, người đang có rối loạn đông máu.

Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:

Chưa có nghiên cứu.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Thời kỳ mang thai:

Chưa có nghiên cứu nào trên phụ nữ mang thai. Tránh dùng cho phụ nữ mang thai.

Thời kỳ cho con bú:

Chưa có nghiên cứu nào trên phụ nữ cho con bú. Tránh dùng cho phụ nữ cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Chưa ghi nhận được báo cáo về phản ứng có hại của thuốc.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Trong thời gian được điều trị, nếu nhận thấy có bất cứ tác dụng phụ nào xấu xảy ra hoặc các triệu chứng bệnh vẫn tiếp tục tăng nặng thì nên ngưng dùng ngay và tìm kiếm phương pháp chữa trị khác phù hợp hơn.

4.8 Tương tác, tương kỵ:

Theo đông y, nên kiêng thức ăn lạnh khi dùng thuốc.

Chưa có nghiên cứu về tương tác.

Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.

4.9 Quá liều và độc tính:

Chưa có nghiên cứu quá liều trên người.

Độc tính: thử nghiệm độc tính bán cấp cho thấy rằng chiết xuất ethanol từ thân rễ của Hương phụ không gây tăng tỷ lệ tử vong sau khi dùng 1.000 mg/kg mỗi ngày trong 14 ngày ở động vật thí nghiệm (Chuột) (Thanabhorn và cộng sự 2005 ).

5. Tính vị, quy kinh, tác dụng dược lý, cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Tính vị – Quy kinh – Công năng:

Tính vị: vị cay, hơi đắng, tính bình.

Quy kinh: Quy vào vào các kinh can, tam tiêu.

Công năng: Có tác dụng lý khí, điều kinh, thư can, chỉ thống.

5.2. Tác dụng dược lý:

Tác dụng lên tử cung: Cao lỏng Hương phụ có tác dụng ức chế co bóp tử cung, đồng thời giảm trương lực, nước sắc của hương phụ vườn và hương phụ biển đều có tác dụng kiểu estrogen và mức độ như nhau. Điều đó phần nào chứng minh trong việc dùng hương phụ trong các bệnh phụ nữ. Chiết xuất ethanol của Hương phụ đã được chứng minh là có tác dụng tiềm năng chống lại ung thư cổ tử cung ở người và ung thư vú (Lin et al. 2019 ; Simorangkir et al. 2019 ).

Tác dụng ức chế thần kinh trung ương: Hương phụ cũng đã được báo cáo là có tác dụng bảo vệ thần kinh (Sutalangka và Wattanathorn 2017 ; Hussein và cộng sự 2020 ), giống tác dụng thuốc chống trầm cảm (Jia và Zou 2014 ; Hao và cộng sự 2017 ), chống lại bệnh Alzheimer (Rabiei và cộng sự 2013, Shakerin và cộng sự 2020), chống co giật (Khalili và cộng sự 2011), giảm đau (Imam và Sumi 2014 ). Tác dụng chống trầm cảm và bảo vệ thần kinh là hai tác dụng chính của Hương phụ đối với thần kinh trung ương.

Tinh dầu Hương phụ, có tác dụng kéo dài thời gian gây ngủ của pentobarbital. Hương phụ ức chế quá trình dẫn truyền các xung thần kinh qua synap của tế bào vùng hải mã và bó tháp, còn đối với dẫn truyền qua sợi trục thần kinh thì không có tác dụng ức chế.

Tác dụng chống oxy hóa: Các thành phần trong C. rotundus , chẳng hạn như axit phenolic, alkaloid, quinone, tinh dầu và sesquiterpenoids đã cho thấy hoạt động chống oxy hóa, đặc biệt là các hợp chất phenolic, bao gồm flavonoid, coumarin và polyphenol, chúng có khả năng loại bỏ các gốc tự do DPPH và loại bỏ gốc hydroxyl, gốc superoxide, xanthine/xanthine oxidase …

Tác dụng bảo vệ dạ dày: Theo nghiên cứu, chiết xuất của Cyperus rotundus L. ngăn ngừa tổn thương niêm mạc dạ dày do thuốc chống viêm không steroid, cụ thể là Aspirin gây ra thông qua cơ chế bảo vệ chống stress oxy hóa.

Tác dụng kháng khuẩn: Hương phụ có thể ức chế sự phát triển của Streptococcus mutan bằng cách ngăn chặn hoạt động bám dính, khả năng tổng hợp glucan và làm giảm sản xuất axit ở vi khuẩn (Yu và cộng sự 2007 ). Hoạt tính kháng khuẩn của C. rotundus thể hiện ở các loài vi khuẩn khác nhau, cả Gram dương và Gram âm (Kabbashi et al. 2015). Tuy nhiên, sự ức chế của vi khuẩn Gram dương nhạy hơn so với vi khuẩn Gram âm do sự khác biệt về lipopolysaccharides ở thành tế bào. Tác dụng chống vi-rút của C. rotundus cũng đã được chứng minh đối với vi-rút viêm gan B.

Tác dụng hạ sốt, giảm đau, kháng viêm:

Dạng chiết bằng ether dầu hỏa từ Hương phụ có tác dụng chống viêm, hoạt chất chống viêm chủ yếu là α‑cyperen có tác dụng ức chế sự hình thành prostaglandin E2.

Một phân đoạn thu được khi chạy sắc ký từ dịch chiết ether của cây cho thấy tác dụng hạ sốt tương tự như khi dùng acid acetyl salicylic trên cùng một mô hình động vật. Dịch chiết ether và các dầu từ cây được chứng minh là có tác dụng giảm đau.

Dịch chiết ethanol C. rotundus có khả năng ức chế đáng kể trên collagen, thrombin, AA – các tác nhân gây kết tập tiểu cầu.

Các chất chiết xuất và các hợp chất phân lập của Hương phụ làm giảm mức độ của các chất trung gian gây viêm, cytokine và các yếu tố phiên mã, như 5-LOX, COX-2, PGE2, IL-1, IL-6, TNF- α. Cụ thể, các thành phần sesquiterpenoid của Hương phụ được phát hiện là có tác dụng chống viêm rõ rệt, đặc biệt là nootkatone , α -cyperone , valencene và β -selinene.

Cơ chế một số tác dụng chính:

Alpha-cyperone có liên quan đến việc điều chỉnh giảm COX-2, IL-6, Nck-2, Cdc42 và Rac1, dẫn đến giảm viêm. α-cyperone làm giảm tổn thương tế bào phổi do tụ cầu vàng gây ra thông qua việc làm giảm biểu hiện của α-hemolysin.

Raddeanin A, là một Triterpenoids, một chất ức chế histone deacetylase (HDACs), có hiệu lực chống tạo mạch và chống ung thư, có thể ngăn chặn sự phát triển của gan và tế bào, nó cũng ức chế sự tăng sinh của các tế bào GC (BGC-823, SGC-7901 và MKN-28) , ức chế khả năng xâm lấn, di căn của chúng.

Isorhamnetin là một Flavonoids và là chất ức chế tyrosinase và có hoạt tính ức chế sự biệt hóa tế bào mỡ, giúp bảo vệ gan, bảo vệ tim mạch, chống viêm, chống ung thư và chống oxy hóa. Nó ức chế quá trình chết tế bào theo chương trình do H2O2 gây ra ở nội bào bằng cách dọn dẹp gốc tự do và bất hoạt ERK. Isorhamnetin ức chế việc sản xuất interleukin-6 và ức chế tín hiệu NF-κB do đó có thể ứng dụng trong giảm viêm. Isorhamnetin còn có hiệu quả trong việc bảo vệ tế bào gan do chống lại stress oxy hóa bằng cách kích hoạt Nrf2. Isorhamnetin ngăn ngừa rối loạn chức năng nội mô, sản xuất superoxide do angiotensin II gây ra ở động mạch chủ bằng cách ức chế sự biểu hiện quá mức của p47(phox) (một tiểu đơn vị có chức năng điều hòa NADPH oxidase) và việc sản xuất O2, dẫn đến tăng oxit nitric (NO).

Kaempferol là một Flavonoids, thuốc có cơ chế kích hoạt LXR-β và ức chế SREBP-1 làm tăng các triệu chứng trong hội chứng chuyển hóa. Kaempferol có tác dụng ức chế mạnh quá trình tiêu xương trong ống nghiệm. Ngoài ra Kaempferol có tác dụng kháng viêm, có thể phòng và điều trị các bệnh viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp. Kaempferol có tiềm năng trong phòng ngừa và điều trị các bệnh huyết khối, có thể tăng sự giãn mạch có nguồn gốc từ nội mô và ngoại sinh do NO. Kaempferol có thể ức chế sự xâm lấn của tế bào ung thư thông qua việc ngăn chặn chuỗi PKCδ/MAPK/AP-1 và hoạt động của MMP-9.

Rosenonolactone cho thấy hoạt động ức chế prolyl endopeptidase và thrombin.

Chưa rõ cơ chế tác dụng của các hoạt chất trong Hương phụ.

5.3. Dược động học:

Chưa có nghiên cứu.

5.4. Các nghiên cứu lâm sàng và tiền lâm sàng:

(1) Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Viện dược liệu):

Đối với tử cung: Cao lỏng Hương phụ 5 %, thí nghiệm trên tử cung cô lập chuột lang, thỏ, mèo và chó đều có tác dụng ức chế co bóp tử cung, đồng thời giảm trương lực. Trên tử cung tử cung có chửa cũng như trên tử cung bình thường, cao Hương phụ đều có tác dụng ức chế. So sánh với Đương quy, tác dụng ức chế co bóp tử cung của Hương phụ yếu hơn. Thành phần dầu chiết từ Hương phụ có tác dụng kiểu estrogen, nhưng không mạnh.

Tác dụng giảm đau: Dịch chiết bằng cồn từ Hương phụ, thí nghiệm trên chuột nhắt trắng gây đau bằng kích thích điện, bằng đường tiêm dưới da với liều 0,5 ml/20 g thận trọng, dung dịch 20 %, có tác dụng tăng cao ngưỡng kích thích gây đau

Tác dụng ức chế thần kinh trung ương: Tinh dầu Hương phụ, thí nghiệm trên chuột nhắt trắng bằng đường tiêm phúc mạc với liều 0,03 ml/ chuột, có tác dụng kéo dài thời gian gây ngủ của pentobarbital. Trên thỏ thí nghiệm, tinh dầu Hương phụ tăng cường tác dụng gây mê của scopolamin. Về cơ chế tác dụng, qua thí nghiệm chứng tỏ Hương phụ ức chế quá trình dẫn truyền các xung thần kinh qua synap của tế bào vùng hải mã và bó tháp, còn đối với dẫn truyền qua sợi trục thần kinh thì không có tác dụng ức chế.

Các tác dụng khác: dạng chiết bằng ether dầu hỏa từ Hương phụ có tác dụng chống viêm, hoạt chất chống viêm chủ yếu là α‑cyperen có tác dụng ức chế sự hình thành prostaglandin E2. Theo tài liệu Ấn Độ, Hương phụ có mùi thơm, có tác dụng làm ra mồ hôi và lợi tiểu.

Dịch chiết methanol của thân rễ C. rotundus cho uống tại liều 250 mg/kg và 500 mg/kg cho thấy tác dụng chống tiêu chảy đáng kể.

Tác dụng chống oxi hóa qua các thử nghiệm in vitro khác nhau được cho là do các hợp chất polyphenol có trong thân rễ C. rotundus. Dầu của C. rotundus có tác dụng kháng khuẩn mạnh trên vi khuẩn Gram dương như là Staphylococcus aureus và Enterococus faecalis. Một nghiên cứu khác cho thấy tác dụng kháng khuẩn đáng kể trên Salmonella enteritidis, Staphylococcus aureus và Enterococcus faecalis do lượng oligomers flavonoids toàn phần và dịch chiết etyl acetat của C.rotundus.

Dịch chiết cồn của C. rotundus cho thấy tác động kháng viêm cao hơn hydrocortisone trong 2 mô hình gây viêm trên chuột bởi carrageenan và formaldehyde (75,9 % so với 47,3 % trong mô hình carrageenan; 55,1 % so với 35,6 % trong mô hình formaldehyde).

Một phân đoạn thu được khi chạy sắc ký từ dịch chiết ether của cây cho thấy tác dụng hạ sốt tương tự như khi dùng acid acetyl salicylic trên cùng một mô hình động vật.

Dịch chiết ether và các dầu từ cây được chứng minh là có tác dụng giảm đau.

Dịch chiết ethanol thân rễ (100 mg/kg, PO) làm giảm thời gian co giật đáng kể (p < 0,001) khi so sánh với Phenytoin (25 mg/kg, IP) và Diazepam (4 mg/kg, IP). Những flavonoid trong dịch chiết cồn có thể là chất tạo ra tác dụng này.

Dịch chiết ethanol của C. rotundus ở liều 128,1 ± 11,6 mg / kg có tác dụng bảo vệ 50 % số chó được gây nôn bằng apomorphine.

Dịch chiết ethanol của C. rotundus có hiệu lực chống co thắt gây ra bởi acetylcholine, bari clorua và 5-hydroxitriptamine ở hồi tràng thỏ, qua đó thể hiện được tác dụng giãn trực tiếp trên cơ trơn

Dùng C. rotundus làm tăng đáng kể nồng độ HDL cholesterol ở chuột trẻ.

Dịch chiết etyl acetat thân rễ C. rotundus ở liều uống 100mg/kg có tác dụng bảo vệ gan đáng kể khi so sánh với silymarin trong mô hình gây tổn thương gan bằng CCl4 do làm giảm nồng độ transaminase glutamic oxaloacetic, glutamic pyruvic transaminase, phosphatase kiềm và tổng bilirubin.

Một nghiên cứu tiến hành trên 30 người béo phì uống C. rotundus trong 90 ngày cho thấy việc giảm trọng lượng cùng với sự sụt giảm nồng độ cholesterol và triglycerides trong máu.

Uống hàng ngày của 500 mg/kg dịch chiết C.rotundus (1 lần/ngày trong 7 ngày liên tiếp) làm giảm đáng kể nồng độ glucose trong máu ở chuột đã được gây mô hình bệnh tiểu đường bằng alloxan.

Dịch chiết ethanol C. rotundus có khả năng ức chế đáng kể trên collagen, thrombin, AA – các tác nhân gây kết tập tiểu cầu.

Thân rễ C. rotundus đã được chứng minh an toàn đến dùng liều 2000 mg/kg. Chỉ có các thông số huyết học cho thấy sự gia tăng số lượng bạch cầu và nồng độ hemoglobin.

(2) Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS.TS. Đỗ Tất Lợi (2004).

Theo Trương Phát Sơ, Trương Diệu Đức và Lưu Thiệu Quang (1935), Trung hoa y học tạp chí tập 1, kỳ 2: 148-156) đã dùng vị hương phụ nguồn gốc ở tỉnh Quảng đông, nhưng bán ở Nam kinh chế thành cao lỏng 5%, tiến hành thí nghiệm 102 lần trên tử cung cô lập của thỏ, mèo, chó và chuột bạch đã chứng minh hương phụ có khả năng ức chế sự co bóp của tử cung, làm dịu sự căng thẳng của tử cung dù con vật có thai hay không có thai đều như nhau, gần như có tác dụng trực tiếp làm cơ tử cung dịu lại. So sánh tác dụng của cao lỏng hương phụ và cao lỏng đương quy (một vị thuốc bắc hiện nay còn phải nhập có tác dụng chữa bệnh phụ khoa) thì tác dụng giống nhau, nhưng tác dụng của đương quy mạnh hơn.

Năm 1959, một số tác giả ở Qúi dương y học viện (Trung quốc) báo cáo nghiên cứu và chứng minh tác dụng giảm đau trên chuột nhắt trắng.

(3) Nghiên cứu khác:

Nghiên cứu tác dụng hướng sinh dục nam của cao Hương phụ trên thực nghiệm 2020 (Nguyễn Thị Liên, Trần Thị Thu Trang, Hoàng Thị Thanh Thảo, Trần Việt Hùng) đã đánh giá hoạt tính androgen của test sàng lọc Hershberger với đối tượng là chuột nhắt trắng. Trong nghiên cứu này, cao khô Hương phụ đã được thử tác dụng kiểu androgen trên mô hình chuột nhắt trắng bình thường. Kết quả thực nghiệm cho thấy, cao Hương phụ ở liều thử cao (200 mg/kg) làm tăng trọng lượng túi tinh, tuyến Cowper, cơ nâng hang và tăng nồng độ testosteron trong huyết tương có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng. Thêm vào đó, cao Hương phụ ở cả 2 liều thử (100 mg/kg và 200 mg/kg) đều không gây ảnh hưởng đến trọng lượng tinh hoàn tránh nguy cơ làm teo tinh hoàn cũng như không gây ảnh hưởng đến sự tăng trọng tự nhiên của động vật thí nghiệm. Dữ liệu thực nghiệm cho thấy cao khô Hương phụ có thể phát triển thành thuốc có nguồn gốc thảo mộc để hỗ trợ cải thiện chức năng sinh lý ở nam giới một cách có hiệu quả và tương đối an toàn.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Đặc điểm, nguồn gốc, phân bố dược liệu, vị thuốc:

Đặc điểm nguồn gốc:

Cỏ gấu là một loại cỏ sống lâu năm, cao 20-50cm, thân rễ hình chỉ phát triển thành củ, tùy theo đất rắn hay xốp củ phát triển to hay nhỏ, nằm bò sát dưới mặt đất, từng đoạn phình thành củ hình trứng, từ củ mọc lên thân khí sinh, ở vùng bờ biển củ to dài còn gọi là hải dương phụ (hương phụ vùng biển). Thân nhẵn, hình ba cạnh. Lá nhỏ, hẹp, và dài, gốc có bẹ ôm thân, đầu lá thuôn nhọn, gân chính rõ. Lá nhỏ hẹp, ở giữa lưng có gân nổi lên, cứng và bóng, phần dưới lá ôm lấy thân cây.

Vào tháng 6, trên ngọn cây có 3 đến 8 cụm hoa, cụm hoa ở đỉnh, phân nhánh nhiều thành những bông xếp dạng ngù, bông kép hay cờ không đều; mỗi bông có trục nhẵn mang 3 – 20 bông nhỏ, các bông nhỏ gồm nhiều hoa, trục bông nhỏ có cánh; mỗi hoa mọc ở kẽ một lá bắc còn gọi là vảy, các vảy có màu nâu xếp thành dãi ở trên trục, hình trái xoan tù; hoa không có đài và tràng; nhị 3, bao phấn hình dải thuôn; bầu thượng, có một ô, một noãn, vòi nhụy hình chỉ, đầu nhụy dài. Quả 3 cạnh màu xám. Mùa hoa quả: tháng 3 – 7.

Loài Hương phụ sống ở bãi cát ven biển, có tên là Hương phụ biển hay Hải Hương phụ (Cyperus stoloniferus Retz.), cũng được dùng nhưng có chất lượng tốt hơn.

Phân bố:

Cyperus L. là một chi lớn, gồm khoảng 700 loài, phân bố rộng rãi khắp thế giới. Ở Việt Nam có 45 loài, trong đó có 2 loài Hương phụ và Hương phụ biển được dùng làm thuốc với cùng công dụng.

Hương phụ phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc châu Âu, châu Á, châu Mỹ, châu Phi và châu Đại Dương. Ở Việt Nam, Hương phụ có mặt khắp nơi, trừ vùng núi cao trên 2000 m, Hương phụ biển lại mọc tập trung trên các bãi cát, đất pha cát ven biển từ Móng Cái đến Hà Tiên, ở các đảo và quần đảo như Cát Bà, Hòn Mê, Hòn Khoai, Hòn Hèo, Phú Quốc, Côn Đảo, Trường Sa…

Cả hai loài Hương phụ này đều có thể sống được trên mọi loại đất. Hương phụ biển có khả năng chịu hạn và chịu mặn tốt. Với hệ thống thân rễ phát triển nhanh và đặc điểm của cây ưa sáng, nếu bị một loại cây khác phát triển nhanh hơn, che phủ kín mặt đất, Hương phụ sẽ không phát triển được.

Cây Hương phụ hay tên khác là cỏ gấu (Cyperus rotundus L.).

Cây Hương phụ hay tên khác là cỏ gấu (Cyperus rotundus L.).

6.2. Thu hái – Sơ chế:

Thường thu hái vào mùa thu. Sau khi đào toàn cây, phơi cho khô, vun củ thành đống để đốt, lá và rễ con sẽ cháy hết, lấy những củ còn lại, rửa sạch, phơi hay sấy khô, có thể luộc hay đồ kỹ rồi phơi khô.

Khi dùng có thể dùng sống (nghĩa là củ chế biến như trên, dùng ngay), sắc hay ngâm rượu tán bột. Có thể chế biến thêm nữa. Các lương y thường chế biến phức tạp rồi mới dùng. Theo kinh nghiệm hiện nay thì không cần chế biến gì thêm vẫn tốt.

Theo y học cổ truyền, trước khi sử dụng, Hương phụ có thể chế biến theo lối tứ chế (tẩm sao lần lượt bằng 4 phụ liệu khác nhau) hoặc thất chế (tẩm sao bằng 7 phụ liệu khác nhau).

Phương pháp tứ chế được dùng phổ biến hơn. Cách làm như sau: Loại bỏ hết rễ con và tạp chất, rửa sạch, phơi ráo nước, rồi chia đều làm 4 phần. Tẩm một phần bằng nước muối 5 %, một phần bằng nước gừng 5 %, một phần bằng giấm và một phần bằng rượi 35 – 40°. Tẩm vừa đủ ướt, ủ riêng mỗi phần trong 12 giờ, rồi sao vàng. Khi dùng, để riêng từng phần hoặc trộn lẫn 4 phần với nhau tùy theo cách chữa bệnh.

Thất chế là làm như trên nhưng thêm 3 lần tẩm nữa như tầm với nước gừng, tẩm nước cam thảo, nước vo gạo. Nghĩa là tẩm với 7 thứ.

Trên thực tế còn nhiều cách chế biến rất phức tạp và thay đổi tùy theo sáng kiến của thầy thuốc.

6.3. Bảo quản:

Không bảo quản ở nhiệt độ trên 30°C.

6.4. Thông tin khác:

CHÚ Ý HƯƠNG PHỤ DỄ NHẦM LẪN VỚI CÁC CÂY SAU ĐÂY:

Một số cây có thể nhầm lẫn với Hương phụ do hình dáng cây và cùng tên gọi:

(1) Củ ấu tàu, (hay còn gọi là củ ấu tẩu, Ô đầu; Phụ tử; Thảo ô; Xuyên ô), có khi bị nhầm lẫn là củ Gấu/củ Gấu tàu do cách gọi gần giống nhau, đây là rễ củ của cây Ô đầu, được xếp vào danh sách thuốc độc bảng A, nhưng cũng là một vị thuốc quý đứng thứ 4 trong “tứ đại danh dược” (sâm, nhung, quế, phụ) sau khi được bào chế cẩn thận. Ấu tàu mọc trên cạn và chỉ có ở vùng núi cao. Rễ củ hình nón, mọc thành chuỗi, có củ cái, củ con. Dưới thân cây, rễ cái phình thành củ giống như củ đậu, gọi là củ mẹ. Cạnh cổ rễ cái, mọc ra những củ con. Trên đầu củ con có một búp mang lá ngầm. Thành phần hóa học của ấu tàu chủ yếu là aconitin, có độc tính cao, thuộc loại thuốc độc bảng A. Độc tính của aconitin rất mạnh: Chỉ cần một liều 0,02 – 0,05 mg cho 1 kg thể trọng là có thể gây chết người.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS.TS. Đỗ Tất Lợi (2004).

Theo Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam của Viện dược liệu (Tái bản lần 1).

Theo Dược thư Quốc Gia Việt Nam.

Nguồn tổng hợp khác.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM