1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Gemcitabine
Phân loại: Thuốc chống ung thư, nhóm chống chuyển hóa, nucleosid pyrimidin tống hợp.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01BC05.
Biệt dược gốc: Gemzar
Biệt dược: Yuhangemcitabine Injection
Hãng sản xuất : Yuhan Corporation – Hàn Quốc
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Bột đông khô để pha dung dịch truyền tĩnh mạch 200mg, 1 g
Thuốc tham khảo:
| YUHANGEMCITABINE INJECTION 1G | ||
| Mỗi lọ bột pha tiêm truyền có chứa: | ||
| Gemcitabine | …………………………. | 1000 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

| YUHANGEMCITABINE INJECTION 200 | ||
| Mỗi lọ bột pha tiêm truyền có chứa: | ||
| Gemcitabine | …………………………. | 200 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ:
Là thuốc điều trị hàng đầu cho bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ di căn hoặc tiến triển tại chỗ dùng phối hợp với cisplatin.
Dùng đơn lẻ ở bệnh nhân cao tuổi để điều trị giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ di căn hoặc tiến triển tại chỗ.
Ung thư tuyến tụy:
Là thuốc điều trị hàng đầu cho bệnh nhân ung thư tụy di căn hoặc tiên triển tại chỗ
Ung thư bàng quang tiến triển.
Ung thư vú:
Phối hợp với paclitaxel là thuốc điều trị hàng đầu cho bệnh nhân ung thư vú di căn sau khi thất bại với phương pháp trị liệu mà có chứa anthracyclin trừ khi anthracyclin đã bị chống chỉ định lâm sàng.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Lưu ý: Nồng độ dung dịch truyền không quá 40 mg/mL
Hướng dẫn sử dụng / Xử lý thuốc
Chỉ dùng natri clorid 0,9% không có chất bảo quản để pha bột gemcitabin vô trùng. Mặc dù không nhận thấy tính tương kỵ của thuốc, không nên trộn lẫn gemcitabin đã pha với các thuốc khác. Do khả năng hòa tan của gemcitabin, pha gemcitabin với nồng độ tối đa là 40 mg/ml.
Tránh pha thuốc ở nồng độ lớn hơn 40 mg/ml vì có thể thuốc không được hòa tan hoàn toàn.
Để pha thuốc, thêm ít nhất là 5 ml natri clorid 0,9% vào lọ 200 mg và ít nhất là 25 ml natri clorid 0,9% vào lọ 1 g. Lắc để hòa tan thuốc.
Lượng thuốc đã được pha thích hợp như trên có thể để pha loãng thêm nữa bằng dung dịch 0,9% natri clorid. Nên giữ dung dịch gemcitabin đã pha ở nhiệt độ phòng (15- 30°C) và nên dùng trong vòng 24 giờ. Bỏ đi phần thuốc không sử dụng. Không nên giữ lạnh dung dịch gemcitabin đã pha vì thuốc có thể bị kết tinh. Nên quan sát các thuốc trước khi dùng để phát hiện các phần tử nhỏ trong thuốc hoặc sự thay đổi màu sắc của thuốc.
Nên cân nhắc các phương pháp thích hợp để xử lý và hủy bỏ các thuốc chống ung thư. Một số sách có nội dung hướng dẫn về vấn đề này đã được xuất bản. Không phải tất cả những hướng dẫn này được mọi người đồng ý là cần thiết và phù hợp.
Liều dùng:
Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ
Cách dùng riêng lẻ
Người lớn: Liều đề nghị của gemcitabin là 1000mg/m² truyền tĩnh mạch trong 30-60 phút. Lặp lại liều này mỗi tuần một lần trong 3 tuần liên tiếp, tiếp theo đó ngưng 1 tuần. Sau đó lặp lại chu kỳ 4 tuần này. Điều chỉnh liều theo đáp ứng và mức độ độc tính.
Dùng phối hợp
Người lớn: Liều dùng phối hợp với cisplatin đã được nghiên cứu. Có chế độ liều dùng trong 3 tuần và liều dùng trong 4 tuần. Với chế độ liều 3 tuần, liều đề nghị của gemcitabin là 1250mg/m² truyền tĩnh mạch trong 30-60 phút vào ngày thứ nhất và ngày thứ 8 của mỗi đợt điều trị 21 ngày. Điều chỉnh liều theo đáp ứng và mức độ độc tính. Với chế độ liều 4 tuần, liều đề nghị của gemcitabin là 1000mg/m² truyền tĩnh mạch trong 30-60 phút vào ngày thứ nhất, ngày thứ 8 và ngày thứ 15 của mỗi đợt điều trị 28 ngày. Điều chỉnh liều theo đáp ứng và mức độ độc tính.
Ung thư tụy
Người lớn: Liều đề nghị của gemcitabin là 1000mg/m² truyền tĩnh mạch trong 30-60 phút. Lặp lại liều này mỗi tuần một lần trong 7 tuần liên tiếp, tiếp theo đó ngưng 1 tuần. Dùng tiếp liều này mỗi tuần một lần trong 3 tuần liên tiếp, rồi ngưng một tuần. Cứ như thế lặp lại chu kỳ 4 tuần này. Điều chỉnh liều theo đáp ứng và mức độ độc tính.
Với chế độ liều 4 tuần, liều đề nghị của gemcitabin là 1000mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 30-60 phút vào ngày thứ nhất, ngày thứ 8 và ngày thứ 15 của mỗi đợt điều trị 28 ngày. Điều chỉnh liều theo đáp ứng và mức độ độc tính.
Ung thư tụy
Người lớn: Liều đề nghị của gemcitabin là 1000mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 30-60 phút.
Lặp lại liều này mỗi tuần một lần trong 7 tuần liên tiếp, tiếp theo đó ngưng 1 tuần. Dùng tiếp liều này mỗi tuần một lần trong 3 tuần liên tiếp, rồi ngưng một tuần. Cứ như thế lặp lại chu kỳ 4 tuần này. Điều chỉnh liều theo đáp ứng và mức độ độc tính
Ung thư bàng quang tiến triển
Người lớn: Phối hợp với cisplatin, liều đề nghị của gemcitabin là 1000mg/m² truyền tĩnh mạch trong 30-60 phút vào ngày thứ nhất, ngày thứ 8 và ngày thứ 15 của mỗi đợt điều trị 28 ngày. Tiếp theo đó ngưng một tuần. Liều đề nghị của cisplatin là 70mg/m² truyền tĩnh mạch vào ngày thứ nhất sau khi truyền gemcitabin hoặc ngày thứ hai của mỗi chu kỳ 28 ngày. Chu kỳ 4 tuần này có thể được lặp lại. Điều chỉnh liều theo đáp ứng và mức độ độc tính. Một thử nghiệm lâm sàng cho thấy khi dùng cisplatin đồng thời với gemcitabin ở liều lượng 100mg/m² sẽ gây tác dụng phụ nhiều hơn về giảm số lượng tế bào máu được sản xuất ở tủy xương, gây thiếu máu.
Ung thư vú
Dùng phối hợp
Người lớn: Liều đề nghị của gemcitabin là 1250mg/m² truyền tĩnh mạch trong 30-60 phút vào ngày thứ nhất, ngày thứ 8 của mỗi đợt điều trị 21 ngày. Liều đề nghị của paclitaxel là 175mg/m² tiêm truyền tĩnh mạch trong 3 giờ vào ngày thứ nhất trước khi dùng gemcitabin. Trước mỗi lần điều trị, bệnh nhân nên được kiểm tra máu, bao gồm việc đếm số tế bào máu. Bệnh nhân nên có số lượng bạch cầu hạt ≥ 1500 x 10^6/L và số lượng tiểu huyết cầu > 100000 x 10^6L.
Liều điều chỉnh hoặc liều kết thúc quá trình trị liệu .
Bệnh nhân điều trị với gemcitabin nên được theo dõi trước mỗi liều điều trị băng việc kiểm tra máu bao gồm việc đếm số lượng tiểu huyết cầu, bạch cầu và bạch cầu hạt. Cần điều chỉnh liều gemcitabin khi cần thiết dựa vào việc kiểm tra công thức máu, theo bảng sau:
| Số lượng bạch cầu hạt (x 1.000.000/L) | Số lượng tiểu cầu (x 1.000.000/L) | % liều dùng đầy đủ |
| > 1000 và | > 100.000 | 100 |
| 500 – 1000 hoặc | 50.000 – 100.000 | 75 |
| < 500 hoặc | < 50.000 | Ngừng |
Kiểm tra chức năng gan, thận định kỳ, bao gồm men transaminase, creatinin huyết thanh ở những bệnh nhân dùng thuốc. Điều chỉnh liều theo đáp ứngvà mức độ độc tính. Ngưng dùng thuốc cho đến khi độc tính được cải thiện và tham khảo ý kiến bác sĩ.
4.3. Chống chỉ định:
Chống chỉ định ở những bệnh nhân mẫn cảm với thuốc hoặc các thành phần khác của thuốc.
Không dùng đồng thời thuốc với các biện pháp xạ trị vì nguy cơ tăng nhạy cảm với xạ trị, nguy cơ xơ hóa phổi, xơ hóa thực quản.
Không dùng phối hợp thuốc với ciplatin ở bệnh nhân mặc bệnh thận nặng.
Khuyến cáo không dùng thuốc trên bệnh nhân bị suy gan hoặc thận từ trung bình tới nặng (GFR < 30ml/phút), bởi vì chưa có nghiên cứu lâm sàng đầy đủ hướng dẫn dùng thuốc trên nhóm bệnh nhân này.
4.4 Thận trọng:
Thuốc dùng thận trọng trên bệnh nhân sau:
Bệnh nhân suy tủy
Bệnh nhân có tiền sử viêm phổi kẽ hoặc xơ hóa phổi.
Cảnh báo chung:
Thuốc chỉ nên dùng bằng đường truyền tĩnh mạch. Cách dùng này không gây phản ứng phụ và thường dễ thực hiện. Phản ứng tại nơi tiêm truyền hiếm khi xảy ra và chưa thấy có báo cáo nào về hoại tử tại chỗ.
Bệnh nhân dùng thuốc cần được theo dõi cẩn thận và được kiểm tra thường xuyên bằng các xét nghiệm cận lâm sàng. Có thể cần điều trị cho bệnh nhân có biểu hiện tác dụng độc của thuốc.
Thuốc nên dùng thận trọng trên bệnh nhân có tiền sử bị suy tủy xương. Giống như các thuốc chống ung thư khác, khi áp dụng phương pháp hóa trị liệu phối hợp hoặc liên tục nên lưu ý đến khả năng suy tủy tăng dần.
Bệnh nhân trước khi dùng thuốc cần được kiểm tra công thức máu toàn diện, bao gồm đếm số lượng bạch cầu, tiểu cầu. Ở những bệnh nhân có biểu hiện của bệnh tủy xương, khi ngưng điều trị hay hiệu chỉnh liều nên lưu ý (xem phần liều lượng và cách dùng). Khi ngưng điều trị số lượng tế bào máu ngoại vi có thể tiếp tục tăng hoặc giảm.
Thận trọng khi dùng thuốc trên những bệnh nhân mắc bệnh gan nhẹ hoặc bệnh thận từ nhẹ đến trung bình, bởi vì chưa có chưa có nghiên cứu lâm sàng đây đủ hướng dẫn dùng thuốc trên những bệnh nhân này. Dùng thuốc trên bệnh nhân bị bệnh gan di căn hoặc có tiền sử viêm gan, xơ gan, hay chứng nghiện rượu có thể dẫn tới gây trầm trọng hơn suy giảm chức năng gan. Dược động học của thuốc có thể không còn đúng, thích hợp trên bệnh nhân suy giảm chức năng thận từ nhẹ đến trung bình (mức lọc máu câu thận GFR 30ml/phut đến 80 ml/phút). Các xét nghiệm cận lâm sàng đánh giá chức năng gan, thận nên được tiến hành định kỳ.
Có thể xuất hiện các tác dụng ngoại ý như ức chế tủy xương, viêm phối kẽ, và đôi khi có thể đe dọa đến tính mạng. Bệnh nhân điều trị bằng gemcitabin nên được kiểm tra trước khi điều trị về các triệu chứng lâm sàng, các xét nghiệm cận lâm sàng (xét nghiệm máu, xét nghiệm chức năng gan, chức năng thận…) và chụp X-quang ngực nên được tiến hành định kỳ. Khi cần thiết, có thể giảm liều hoặc phải tạm ngừng dùng thuốc.
Viêm phổi kẽ và độc tính trên phổi: Sau khi dùng thuốc, các triệu chứng lâm sàng (khó thở, ho hay sốt) nên được theo dõi cân thận và nên tiến hành định kỳ chụp X-quang ngực. Khi cần thiết, có thể phải tiến hành các xét nghiệm như chụp CT ngực, áp lực oxy động mạch, sự khác nhau giữa áp lực oxy động mạch và phế nang. Có thể phải điều chỉnh liều hoặc ngưng dùng thuốc khi cần thiết.
Thuốc có thể gây ra tình trạng ngủ lơ mơ. Bệnh nhân nên cần trọng tránh lái xe hay vận hành máy móc cho đến khi được ghi nhận là bệnh nhân không mắc phải chứng ngủ lơ mơ khi dùng thuốc.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Thuốc có thể gây ra tình trạng ngủ lơ mơ. Bệnh nhân nên cần trọng tránh lái xe hay vận hành máy móc cho đến khi được ghi nhận là bệnh nhân không mắc phải chứng ngủ lơ mơ khi dùng thuốc.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: D
US FDA pregnancy category: D
Thời kỳ mang thai:
Độ an toàn ở phụ nữ có thai khi dùng thuốc chưa được thiết lập và cũng chưa có báo cáo về khả năng bài tiết của thuốc ra sữa mẹ. Tuy nhiên, nghiên cứu trên động vật thí nghiệm cho thấy có biểu hiện quái thai và độc tính trên thai nhi, nó được thể hiện như dị tật bẩm sinh, giảm khả năng sống sót của của bào thai hay sự chậm phát triển ở bào thai. Vì vậy, nên tránh dùng thuốc ở phụ nữ nuôi con bú và suốt thời kì mang thai vì những nguy cơ gây ra cho thai nhi hay trẻ sơ sinh sau này.
Thời kỳ cho con bú:
Độ an toàn ở phụ nữ có thai khi dùng thuốc chưa được thiết lập và cũng chưa có báo cáo về khả năng bài tiết của thuốc ra sữa mẹ. Tuy nhiên, nghiên cứu trên động vật thí nghiệm cho thấy có biểu hiện quái thai và độc tính trên thai nhi, nó được thể hiện như dị tật bẩm sinh, giảm khả năng sống sót của của bào thai hay sự chậm phát triển ở bào thai. Vì vậy, nên tránh dùng thuốc ở phụ nữ nuôi con bú và suốt thời kì mang thai vì những nguy cơ gây ra cho thai nhi hay trẻ sơ sinh sau này.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Hệ thống huyết học và bạch huyết:
Thuốc gây ức chế tủy xương, khoảng < 1% bệnh nhân ngưng dùng. thuốc vì tác dụng gây thiếu máu, giảm bạch cầu, tiêu cầu. Khoảng 19% bệnh nhân có nhu cầu truyền máu khi dùng thuốc. Dưới 1% bệnh nhân bị nhiễm trùng máu. Xuất hiện đốm xuất huyết và chảy máu nhẹ được báo cáo ở khoảng 16% bệnh nhân dùng thuốc. Sự giảm lượng tiểu câu được báo cáo là thường xuyên, nhưng chỉ có khoảng ít hơn 1 % bệnh nhân bệnh nhân cần truyền tiêu huyết cầu.
Gan:
Thuốc gây tăng enzyme gan ở khoảng 2/3 bệnh nhân, nhưng thường nhẹ và thoáng qua và ít khi phải dừng thuốc. Tuy nhiên, cần thận trọng đối với những bệnh nhân suy giảm chức năng gan. Chức năng gan suy giảm với các biểu hiện như sự tăng AST, ALT, ALP và bilirubin hoặc vàng da đã được ghi nhận trong quá trình theo dõi thuốc lưu hành. Tổn thương gan nghiêm trọng hay tử vong được ghi nhận là rất hiếm trên những bệnh nhân dùng thuốc này đơn lẻ hay dùng phối hợp với các thuốc khác mà có nguy cơ gây độc tính trên gan.
Tiêu hóa:
Buồn nôn kèm nôn đã được báo cáo xuất hiện ở 69% bệnh nhân dùng thuốc. Khoảng 20% bệnh nhân có tác dụng phụ này cần điều trị, hiếm khi phải giảm liều và rất dễ điều trị bằng các thuốc chống. nôn.. Tiêu chảy, loét miệng, viêm miệng và táo bón hay gặp.
Hô hấp:
Khó thở có thê xuất hiện sau nhiều giờ dùng thuốc. Nhưng thường nhẹ và hiểm khi phải giảm liều. Triệu chứng này thường hết mà không cân dùng liệu pháp điều trị nào. Cơ chế của tác dụng ngoại ý này chưa được biết. Nhưng những triệu chứng biểu hiện ở phổi kiểu như do ung thư phổi hoặc ung thư khác gây ra, đôi khi đi kèm với co thắt phế quản có thể xuất hiện. Thuốc chống chỉ định với những bệnh nhân nhạy cảm với thuốc. Phù phổi nặng và hội chứng suy hô hấp ở người trưởng thành hiếm khi được báo cáo ở bệnh nhân dùng thuốc. Nếu triệu chứng này tiến triển, cần ngưng dùng thuốc. Dùng sớm các biện pháp điều trị hỗ trợ có thê làm giảm triệu chứng. Viêm thành phế nang đã được báo cáo. Nếu tác dụng ngoại ý này tiễn triển, nên ngưng dùng thuốc và dùng các thuốc steroid có thể làm giảm triệu chứng
Thận: Protein niệu hay huyết niệu nhẹ xảy ra trong khoảng 50% số bệnh nhân nhưng hiếm khi có ý nghĩa lâm sàng, thường không kèm theo thay đổi creatinin huyết thanh hay BUN. Tuy nhiên vài trường hợp suy thận không rõ căn nguyên đã được báo cáo. Và một vài trường hợp hiếm gặp là hội chứng ure huyết cũng đã được báo cáo. Cần ngưng sử dụng thuốc ngay khi có biểu hiện đầu điên của thiếu máu tan máu mao mạch như sự giảm nhanh hemoglobin kèm theo giảm tiểu cầu hay bilirubin huyết thanh. creatinin huyết thanh, BUN hoặc LDH tăng cao. Suy thận có thể không hồi phục thậm chí khi ngưng sử dụng thuốc và có thể cần đến thẩm tách máu.
Dị ứng: Phát ban có thể xảy ra và đôi khi kèm ngứa. Phát ban thường nhẹ và hiếm khi cần giảm liều, có đáp ứng với điều trị tại chỗ. Tróc vảy da, nổi mụn nước và loét hiếm khi được báo cáo. Phản ứng sôc phản vệ hiểm khi được báo cáo. Chưa đến 1% bệnh nhân bị co thắt phế quản khi truyền gemcitabin. Co thắt phế quản thường nhẹ và thoáng qua, có thể cần điều trị bằng thuốc tiêm.
Tim mạch: Khoảng 2% bệnh nhân phải ngưng dùng thuốc vì các tác dụng phụ liên quan đến tim mạch như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, rối loạn nhịp tim và chứng cao huyết áp. Nhiều trường hợp trong những bệnh nhân này có tiền sử bệnh tim mach. Nhồi mau cơ tim, suy tim xung huyết và rối loạn tim mạch đã được báo cáo, nhưng không có bằng chứng rõ ràng là do dùng thuốc. Một vài trường hợp hạ huyết áp đã được báo cáo.
Các tác dụng phụ khác:
Toàn thân: Triệu chứng giống cúm được báo cáo trong khoảng 19% bệnh nhân. Nhưng thường nhẹ, thoáng qua. Có 2 trường hợp được báo cáo là giảm kali huyết, 2 trường hợp bị mụn giộp herpes.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Phần lớn các tác dụng phụ hay gặp của gemcitabin là có thể phục hồi và không đòi hỏi phải ngừng hẳn trị liệu dù có thể phải giảm liều hoặc tạm ngừng dùng thuốc.
Cần theo dõi bệnh nhân định kỳ về huyết học (công thức máu, số lượng tiểu cầu), đánh giá chức năng gan, thận, phối, nhất là những bệnh nhân đã hoặc đang có bệnh ở các cơ quan này.
Nếu bệnh nhân bị tác dụng phụ thì phải điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ thích hợp; có thể phải xem xét việc điều chỉnh liều trong chu kỳ hoặc điều chỉnh liều ở chu kỳ kế tiếp.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Kết hợp với xạ trị: Trị liệu đồng thời với xạ trị (dùng cùng nhau hoặc cách nhau không quá 7 ngày): Độc tính phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm liều dùng của thuốc, tần suất sử dụng, liều của xạ trị, kỹ thuật xạ trị, vùng trị liệu. Các nghiên cứu lâm sàng và tiền lâm sàng cho thấy thuốc có tính nhạy với bức xạ. Trong một thử nghiệm riêng lẻ trên bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ dùng gemcitabin liều 1000 mg/m² trong 6 tuần liên tiếp kèm với xạ trị vùng ngực đã xảy ra viêm phổi và viêm thực quản nặng đe dọa tính mạng đặc biệt trên các bệnh nhân nhận liều xạ trị lớn (thể tích trị liệu 4795 cm³).
Trị liệu không đồng thời với xạ trị (dùng thuốc và xạ trị cách nhau hơn 7 ngày): Các số liệu phân tích cho thấy độc tính không tăng cường khi gemcitabin được dùng trước hoặc sau hơn 7 ngày dùng xạ trị. Thuốc có thể được điều trị bắt đầu sau ít nhất một tuần điều trị bằng xạ trị
4.9 Quá liều và xử trí:
Không có thuốc giải độc khi quá liều thuốc. Dùng liều đơn cao 5,7 g/m² bằng tiêm truyền tĩnh mạch kéo dài trên 30 phút mỗi 2 tuần được ghi nhận có biểu hiện độc tính lâm sàng trong khoảng có thể chấp nhận được. Trong trường hợp quá liều, bệnh nhân nên được tiến hành kiểm tra công thức máu thích hợp và cần có liệu pháp điều trị hỗ trợ khi cần thiết.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Tác dụng độc tế bào đối với các mẫu tế bào nuôi cấy:
Gemcitabin có độc tính đáng kể trên nhiều loại tế bào u của người và chuột được nuôi cấy. Tác dụng độc tế bào đặc trưng ở giai đoạn ranh giới G1/S. In vitro, tác dụng độc tế bào của gemcitabin phụ thuộc vào nồng độ và thời gian dùng thuốc.
Chuyển hóa tế bào và cơ chế tác dụng:
Gemcitabine (dFdC) được biến dưỡng trong tế bào bởi men nucleoside kinase thành diphosphate (dFdCDP) và triphosphate (dFdCTP) nucleoside hoạt tính. Tác dụng độc tế bào của gemcitabine là do dFdCDP và dFdCTP ức chế quá trình tổng hợp ADN. Trước hết, dFdCDP ức chế men ribonucleotide reductase, là men duy nhất xúc tác các phản ứng tạo ra deoxynucleoside triphosphate để tổng hợp ADN. Ức chế men này sẽ làm giảm nồng độ deoxynucleoside nói chung, đặc biệt là nồng độ dCTP. Thứ hai là, dFdCTP cạnh tranh với dCTP để gắn vào ADN (self-potentiation). Tương tự, một lượng nhỏ gemcitabine cũng có thể gắn vào ARN. Như vậy, giảm nồng độ nội bào của dCTP khiến cho việc gắn dFdCTP và ADN dễ dàng hơn. Thực chất ADN polymerase epsilon không thể loại bỏ gemcitabine và sửa lại chuỗi ADN đang phát triển. Sau khi gemcitabine gắn vào ADN, 1 nucleotide nữa gắn thêm vào chuỗi ADN đang phát triển. Sau khi gắn thêm nucleotide này, sự tổng hợp ADN thực sự bị ức chế hoàn toàn (masked chain termination). Sau khi gắn vào ADN, gemcitabine thúc đẩy quá trình hủy diệt tế bào theo chương trình định trước, được gọi là “apoptosis”.
Cơ chế tác dụng:
Gemcitabine (dFdC) được biến dưỡng trong tế bào bởi men nucleoside kinase thành diphosphate (dFdCDP) và triphosphate (dFdCTP) nucleoside hoạt tính. Tác dụng độc tế bào của gemcitabine là do dFdCDP và dFdCTP ức chế quá trình tổng hợp ADN. Trước hết, dFdCDP ức chế men ribonucleotide reductase, là men duy nhất xúc tác các phản ứng tạo ra deoxynucleoside triphosphate để tổng hợp ADN. Ức chế men này sẽ làm giảm nồng độ deoxynucleoside nói chung, đặc biệt là nồng độ dCTP. Thứ hai là, dFdCTP cạnh tranh với dCTP để gắn vào ADN (self-potentiation). Tương tự, một lượng nhỏ gemcitabine cũng có thể gắn vào ARN. Như vậy, giảm nồng độ nội bào của dCTP khiến cho việc gắn dFdCTP và ADN dễ dàng hơn. Thực chất ADN polymerase epsilon không thể loại bỏ gemcitabine và sửa lại chuỗi ADN đang phát triển. Sau khi gemcitabine gắn vào ADN, 1 nucleotide nữa gắn thêm vào chuỗi ADN đang phát triển. Sau khi gắn thêm nucleotide này, sự tổng hợp ADN thực sự bị ức chế hoàn toàn (masked chain termination). Sau khi gắn vào ADN, gemcitabine thúc đẩy quá trình hủy diệt tế bào theo chương trình định trước, được gọi là “apoptosis”.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Gemcitabin được chuyển hóa sang dạng không hoạt tính 2′-deoxy-2′, 2′-difluorouridin (dFdU) và được di chuyển nhanh khỏi huyết tương. Khi tiêm tĩnh mạch, ít hơn 10% gemcitabin được tìm thấy trong nước tiểu ở dạng không biến đổi. Nghiên cứu dược động học liều đơn và liều phối hợp cho thấy thể tích phân bố của gemcitabin ảnh hưởng đáng kể bởi giới tính. Độ thanh thải toàn thân tùy theo tuổi và giới tính. Sự khác nhau về độ thanh thải và thể tích phân bố phụ thuộc vào các yếu tố bản thân người bệnh hay thời gian truyền thuốc dẫn tới sự khác nhau về nồng độ thuốc trong huyết tương hay thời gian bán thải của thuốc.
Độ thanh thải toàn thân của thuốc từ 30 L/giờ/m2 tới 90 L/giờ/m2. Nửa đời thải trừ từ 32-94 phút phụ thuộc vào thời gian truyền và tuổi, giới tính bệnh nhân.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
6.2. Tương kỵ :
Không được pha trộn thuốc này với các thuốc khác
6.3. Bảo quản:
Bảo quản ở nhiệt độ dưới 30°C. Thuốc sau khi pha bảo quản ở nhiệt độ phòng (15- 30°C) và nên dùng trong vòng 24 giờ.
6.4. Thông tin khác :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.