Gemcitabine – Gemcit

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Gemcitabine

Phân loại: Thuốc chống ung thư, nhóm chống chuyển hóa, nucleosid pyrimidin tống hợp.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01BC05.

Biệt dược gốc: Gemzar

Biệt dược: Gemcit

Hãng sản xuất : Laboratorio Internacional Argentino S.A – Argentina

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Bột đông khô pha tiêm 200 mg; 1 g.

Thuốc tham khảo:

GEMCIT 200
Mỗi lọ bột pha tiêm truyền có chứa:
Gemcitabine …………………………. 200 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

GEMCIT 1G
Mỗi lọ bột pha tiêm truyền có chứa:
Gemcitabine …………………………. 1000 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Ung thư bàng quang

Phối hợp với cisplatin trong điều trị ung thư bàng quang tại chỗ tiến triển hoặc di căn.

Ung thư tụy

Gemcitabin được chỉ định cho bệnh nhân ung thư tụy dạng tuyến, di căn hoặc tiến triển tại chỗ.

Ung thư phối không tế bào nhỏ

Gemcitabin được chỉ định đầu tay cho bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bảo nhỏ di căn hoặc tiến triển tại chỗ, dùng phối hợp với cisplatin. Có thể được cân nhắc điều trị đơn độc gemcitabin cho người cao tuổi hoặc bệnh nhân ở giai đoạn 2.

Ung thư buồng trứng

Phối hợp với carboplatin trong điều trị trong ung thư biểu mô buồng trứng tiễn triển và di căn, ở những, bệnh nhân tái phát sau hóa trị liệu ít nhất là 6 tháng với các thuốc platinum.

Ung thư vú

Ung thư vú tái phát hoặc ung thư vú di căn không thể tái phát, kết hợp với paclitaxel, ở những bệnh nhân có tái phát sau khi hóa trị bổ sung / bổ sung. Liệu pháp hóa trị trước đó nên bao gồm một anthracycline, trừ khi có chống chỉ định trên lâm sàng.

Bệnh nhân dùng gemcitabin có thể có cải thiện trên lâm sàng, hoặc tăng tỉ lệ sống hoặc cả hai.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Hướng dẫn sử dụng/ Xử lý thuốc

Chỉ dùng natri elorid 0,9% không có chất bảo quản để pha bột gemcitabin vô trùng. Mặc dù không nhận thấy tính tương ky của thuốc, không nên trộn lẫn gemcitabin đã pha với các thuốc khác. Do khả năng hòa tan của gemcitabin, pha gemcitabin với nồng độ tối đa là 40 mg/ml. Tránh pha thuốc ở nồng độ lớn hơn 40 mg/ml vì có thể thuốc không được hòa tan hoàn toàn.

Để pha thuốc, thêm ít nhất là 5 ml natri clorid 0,9% vào lọ 200 mg và ít nhất là 25 ml natri clorid 0,9% vào lọ 1 g. Lắc để hòa tan thuốc.

Lượng thuốc đã được pha thích hợp như trên có thể pha loãng thêm nữa bằng dung dịch natri clorid 0,9%. Nên giữ dung dịch gemcitabin đã pha ở nhiệt độ phòng (15 – 30°C) và nên dùng trong vòng 24 giờ.

Bỏ đi phần thuốc không sử dụng. Không nên giữ lạnh dung dịch gemecitabin đã pha vì thuốc có thể bị kết tinh. Nên quan sát các thuốc trước khi đùng để phát hiện các phần tử nhỏ trong thuốc hoặc sự thay đổi màu sắc của thuốc.

Nên cân nhắc các phương pháp thích hợp để xử lý và hủy bỏ các thuốc chống ung thư. Một số sách có nội dung hướng dẫn về vấn để này đã được xuất bản. Tuy nhiên, không phải tất cả những hướng dẫn này được mọi người đồng ý là cần thiết và phù hợp.

Liều dùng:

Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ

Người lớn: Liều đề nghị của Gemcitabin là 1.000 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 30 phút. Lặp lại liều này mỗi tuần 1 lần trong 3 tuần liên tiếp, tiếp theo đó ngưng 1 tuần. Sau đó lặp lại chu kỳ 4 tuần này. Giảm liều thuốc dựa vào mức độ độc tính xảy ra trên bệnh nhân.

Ung thư tụy

Người lớn: Liều đề nghị của gemcitabin là 1.000 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 30 phút. Lặp lại liều này mỗi tuần 1 lần trong 7 tuần, sau đó ngưng 1 tuần. Dùng tiếp liều này mỗi tuần 1 lần trong 3 tuần, rồi ngưng 1 tuần. Cứ như thế lặp lại chu kỳ 4 tuần này. Giảm liều thuốc dựa vào mức độ độc tính xảy ra trên bệnh nhân.

Trước mỗi liều dùng nên theo dõi số lượng tiểu cầu, bạch cầu và bạch cầu hạt. Khi có biểu hiện của độc tính trên máu, nếu cần thiết có thể giảm liều hoặc ngưng dùng thuốc theo thang điểm sau:

Số lượng bạch cầu hạt (x10^6/L) Số lượng Tiểu cầu (x10^6/L) % liều bình thường
> 1.000

500 – 1.000

< 500

Hoặc

Hoặc

> 100.000

50.000 – 100.000

< 50.000

100%

75%

Tạm ngừng

 

Nên kiểm tra định kỳ chức năng gan và thận cho bệnh nhân đùng Gemcitabin, gồm transaminase và creatinin huyết thanh.

Gemcitabin được dung nạp tốt trong khi truyền, chỉ vài trường hợp có phản ứng tại nơi tiêm truyền, không có các báo cáo về trường hợp hoại tử nơi tiêm truyền. Gemcitabin dùng dễ dàng cho bệnh nhân ngoại trú.

Bệnh nhân lớn tuổi

Gemcitabin dung nạp tốt ở bệnh nhân trên 65 tuổi. Không có bằng chứng cho thấy cần phải điều chỉnh liều cho bệnh nhân lớn tuổi, mặc dù tuổi tác ảnh hưởng đến độ thanh thải và nửa đời thải trừ của gemcitabin.

Suy gan và thận

Cần thận trong khi dùng gemcitabin cho bệnh nhân suy giảm chức năng gan hoặc thận. Chưa có nghiên cứu trên bệnh nhân suy gan hoặc suy thận nặng.

Trẻ em

Gemcitabin chưa được nghiên cứu ở trẻ em. Không nên dùng cho trẻ em dưới 18 tuổi.

4.3. Chống chỉ định:

Bệnh nhân có tiển sử quá mẫn với gemcitabin hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.

Phụ nữ cho con bú.

4.4 Thận trọng:

Việc kéo dài thời gian truyền và tăng tần suất dùng thuốc đã được chứng minh sẽ làm tăng độc tính. Gemcitabin có thể làm suy giảm chức năng tủy, với các biểu hiện như giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu và thiếu máu. Tuy nhiên, suy tủy diễn ra trong thời gian ngắn, và thường không cần phải giảm liều và hiếm khi phải ngừng thuốc,

Thận Trọng

Nên theo dõi sát bệnh nhân dùng gemcitabin. Cần có các phương tiện xét nghiệm cận lâm sàng để theo dõi tình trạng bệnh nhận, Có thể cần phải điều trị các bệnh nhân có biểu hiện tác dụng độc của thuốc.

Xét nghiệm cận lâm sàng

Thận trọng khi khỏi đầu điều trị cho các bệnh nhân bị suy tủy xương. Giống như các thuốc điều trị ung thư khác khi áp dụng phương pháp hóa trị liệu phối hợp hoặc liên tục nên lưu tâm đến khả năng suy tủy tăng dần. Nên theo đối số lượng tiểu cầu, bạch cầu và bạch cầu hạt trước mỗi liều gemcitabin. Nên ngưng thuốc hoặc thay đổi cách điều trị khi phát hiện suy tủy do thuốc. Phần hướng dẫn điều chỉnh liều được trình bày ở phần Liều lượng và Cách dùng. Số lượng tế bào máu ngoại vi có thể tiếp tục giảm sau khi đã ngừng thuốc.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Gemcitabin đã được báo cáo là gây chứng ngủ gà, từ nhẹ đến trung bình. Không nên lái xe, điều khiển máy móc khi đang dùng gemcitabin.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: D

Thời kỳ mang thai:

Tránh dùng Gemcitabin cho phụ nữ có thai hoặc cho con bú vì có thể gây độc cho bào thai hoặc trẻ bú mẹ.

Thời kỳ cho con bú:

Tránh dùng Gemcitabin cho phụ nữ có thai hoặc cho con bú vì có thể gây độc cho bào thai hoặc trẻ bú mẹ.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Huyết học: Vì gemcitabin gây ức chế tủy xương, nên có thể gây thiếu máu, giảm bạch cầu, tiểu cầu. Tủy xương thường bị ức chế từ nhẹ đến trung bình, biểu hiện rõ trên số lượng bạch cầu hạt. Chứng tăng tiểu cầu cũng thường được báo cáo.

Đường tiêu hóa: Bất thường về men transaminase của gan xảy ra ở 2/3 bệnh nhân, nhưng thường nhẹ, không tiến triển, và hiếm khi phải ngừng thuốc. Tuy vậy, nên cẩn thận khi dùng gemcitabin cho bệnh nhân suy gan. Buồn nôn, nôn xảy ra trên 1/3 bệnh nhân. Khoảng 20% bệnh nhân có tác dụng phụ này cần điều trị, hiếm khi phải giới hạn liều dùng và rất dễ điều trị bằng các thuốc chống nôn.

Thận: Protein niệu và huyết niệu nhẹ xảy ra trong khoảng 1/2 số bệnh nhân, nhưng hiếm khi có ý nghĩa trên lâm sàng, thường không kèm theo thay đổi creatinine huyết thanh hay BUN. Tuy nhiên, vài trường hợp suy thận không rõ căn nguyên đã được báo cáo, do đó, cẩn thận khi dùng gemcitabin cho bệnh nhân bị suy giảm chức năng thận.

Dị ứng: Nổi ban xảy ra trong khoảng 25% bệnh nhân, ban kèm ngứa xảy ra trong khoảng 10% bệnh nhân. Ban thường nhẹ, không cần hạn chế liều dùng. Tróc vảy da, nổi mụn nước, loét hiếm khi được báo cáo.

Chưa đến 1% bệnh nhân bị co thắt phế quản sau khi truyền gemcitabin. Co thắt phế quản thường nhẹ và thoáng qua, có thể cần điều trị bằng thuốc tiêm. Không nên dùng gemeitabin cho bệnh nhân nhạy cảm với thuốc.

Khoảng 1% bệnh nhân bị khó thở trong vòng vài giờ sau khi dùng gemcitabin. Khó thở thường nhẹ, ngắn hạn, hiếm khi phải giới hạn liều dùng, thường tự khỏi không cần điều trị đặc hiệu. Cơ chế của chứng khó thở này chưa được biết và sự liên quan với gemcitabin cũng không rõ ràng.

Bệnh phổi

Các tác dụng phụ trên phối, đôi khi nghiêm trọng (như phù phổi, viêm phổi kẽ, hoặc hội chứng suy hô hấp ở người lớn) đã được báo cáo là hiếm khi liên quan đến việc sử dụng gemcitabin. Nguyên nhân của hiện tượng này chưa được biết rõ. Nếu tác dụng phụ này tăng lên, cần ngừng sử dụng gemecitabin. Điều trị hỗ trợ sớm có thể cải thiện được tình trạng này.

Sinh dục-tiết niệu

Triệu chứng lâm sàng của hội chứng urê huyết tan huyết hiếm khi được báo cáo ở những bệnh nhân sử dụng gemcitabin. Nên ngừng sử dụng gemeitabin khi có những dấu hiệu đầu tiên của bắt kỳ triệu chứng nào của thiếu máu tan huyết do bệnh mao mạch, chắng hạn như giảm nhanh hemoglobin và đồng thời giảm tiểu cầu, tăng bilirubin, tăng creatinin hoặc tăng BUN trong huyết thanh hoặc tăng LDH. Suy thận có thể không hồi phục thậm chí sau khi ngừng điều trị và có thể yêu cầu phải thâm tách máu.

Các tác dụng phụ khác: Triệu chứng giống như cúm được báo cáo trong khoảng 20% bệnh nhân, thường nhẹ, ngắn hạn, hiếm khi phải giới hạn liều dùng trong đó 1,5% bệnh nhân có triệu chứng nặng. Sốt, nhức đầu, đau lưng, ớn lạnh, đau cơ, suy nhược, chán ăn là những triệu chứng phổ biến nhất. Ho, viêm mũi, đổ mồ hôi, mất ngủ cũng thường được báo cáo. Cơ chế của độc tính này chưa rõ. Các báo cáo cho thấy paracetamol có thể làm giảm triệu chứng.

Phù/phù ngoại biên được báo cáo trong khoảng 30% bệnh nhân. Vài trường hợp phù mặt đã được báo cáo. Phù phổi hiếm thấy (1%). Phù/phù ngoại biên thường nhẹ đến trung bình, ít khi phải giới hạn liều, đôi khi gây đau, thường hồi phục sau khi ngưng thuốc. Cơ chế của độc tính này chưa rõ. Triệu chứng này không kèm theo bất cứ dấu hiệu nào của suy tim, suy gan hay suy thận

Các tác dụng phụ sau đây cũng thường được báo cáo: Rụng tóc (thường là rụng tóc tối thiểu) trong 13% bệnh nhân, buồn ngủ (10%), tiêu chảy (8%), độc tính đường miệng (chủ yếu là loét và ban đỏ, 7%), táo bón (6%).

Một vài trường hợp hạ huyết áp đã được báo cáo.

Mặc dù không có bằng chứng rõ rang rang gemcitabin gây độc tính trên tim, một số trường hợp nhồi máu cơ tim, suy tim sung huyết, và loạn nhịp tim đã được báo cáo trong các nghiên cứu.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Phần lớn các tác dụng phụ hay gặp của gemcitabin là có thể phục hồi và không đòi hỏi phải ngừng hẳn trị liệu dù có thể phải giảm liều hoặc tạm ngừng dùng thuốc.

Cần theo dõi bệnh nhân định kỳ về huyết học (công thức máu, số lượng tiểu cầu), đánh giá chức năng gan, thận, phối, nhất là những bệnh nhân đã hoặc đang có bệnh ở các cơ quan này.

Nếu bệnh nhân bị tác dụng phụ thì phải điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ thích hợp; có thể phải xem xét việc điều chỉnh liều trong chu kỳ hoặc điều chỉnh liều ở chu kỳ kế tiếp.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Trong một thử nghiệm riêng lẻ ở bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ dùng gemcitabin liều 1.000 mg/m2 trong 6 tuần liên tiếp kèm với xạ trị vùng ngực đã xảy ra viêm phổi và viêm thực quản nặng đe dọa tính mạng đặc biệt là trên các bệnh nhân nhận liều xạ trị lớn. Chưa xác định được chế độ điều trị tối ưu để sử dụng gemcitabin an toàn khi bệnh nhân cần kết hợp gemcitabin với xạ trị

4.9 Quá liều và xử trí:

Không có thuốc giải độc để điều trị quá liều gemcitabin. Độc tính của thuốc trên lâm sàng chấp nhận được khi dùng từng liều đến 5,7 g truyền tĩnh mạch trong 30 phút mỗi 2 tuần. Khi nghi ngờ quá liều, nên theo dõi số lượng tế bào máu của bệnh nhân. Áp dụng các biện pháp điều trị hỗ trợ cho bệnh nhân khi cần thiết.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Gemcitabine (dFdC) được biến dưỡng trong tế bào bởi men nucleoside kinase thành diphosphate (dFdCDP) và triphosphate (dFdCTP) nucleoside hoạt tính. Tác dụng độc tế bào của gemcitabine là do dFdCDP và dFdCTP ức chế quá trình tổng hợp ADN. Trước hết, dFdCDP ức chế men ribonucleotide reductase, là men duy nhất xúc tác các phản ứng tạo ra deoxynucleoside triphosphate để tổng hợp ADN. Ức chế men này sẽ làm giảm nồng độ deoxynucleoside nói chung, đặc biệt là nồng độ dCTP. Thứ hai là, dFdCTP cạnh tranh với dCTP để gắn vào ADN (self-potentiation). Tương tự, một lượng nhỏ gemcitabine cũng có thể gắn vào ARN. Như vậy, giảm nồng độ nội bào của dCTP khiến cho việc gắn dFdCTP và ADN dễ dàng hơn. Thực chất ADN polymerase epsilon không thể loại bỏ gemcitabine và sửa lại chuỗi ADN đang phát triển. Sau khi gemcitabine gắn vào ADN, 1 nucleotide nữa gắn thêm vào chuỗi ADN đang phát triển. Sau khi gắn thêm nucleotide này, sự tổng hợp ADN thực sự bị ức chế hoàn toàn (masked chain termination). Sau khi gắn vào ADN, gemcitabine thúc đẩy quá trình hủy diệt tế bào theo chương trình định trước, được gọi là “apoptosis”.

Cơ chế tác dụng:

Gemcitabine (dFdC) được biến dưỡng trong tế bào bởi men nucleoside kinase thành diphosphate (dFdCDP) và triphosphate (dFdCTP) nucleoside hoạt tính. Tác dụng độc tế bào của gemcitabine là do dFdCDP và dFdCTP ức chế quá trình tổng hợp ADN. Trước hết, dFdCDP ức chế men ribonucleotide reductase, là men duy nhất xúc tác các phản ứng tạo ra deoxynucleoside triphosphate để tổng hợp ADN. Ức chế men này sẽ làm giảm nồng độ deoxynucleoside nói chung, đặc biệt là nồng độ dCTP. Thứ hai là, dFdCTP cạnh tranh với dCTP để gắn vào ADN (self-potentiation). Tương tự, một lượng nhỏ gemcitabine cũng có thể gắn vào ARN. Như vậy, giảm nồng độ nội bào của dCTP khiến cho việc gắn dFdCTP và ADN dễ dàng hơn. Thực chất ADN polymerase epsilon không thể loại bỏ gemcitabine và sửa lại chuỗi ADN đang phát triển. Sau khi gemcitabine gắn vào ADN, 1 nucleotide nữa gắn thêm vào chuỗi ADN đang phát triển. Sau khi gắn thêm nucleotide này, sự tổng hợp ADN thực sự bị ức chế hoàn toàn (masked chain termination). Sau khi gắn vào ADN, gemcitabine thúc đẩy quá trình hủy diệt tế bào theo chương trình định trước, được gọi là “apoptosis”.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Dược động học của gemcitabine đã được khảo sát trên 353 bệnh nhân trong 7 nghiên cứu. Khi dùng gemcitabin, liều từ 500-2592 mg/m2, truyền trong 0,4 đến 1,2 giờ, các chỉ số được động học ghi nhận được như sau:

Nồng độ đỉnh trong huyết thanh từ 3,2 đến 45,5 µg/ml đạt được trong vòng 5 phút sau khi truyền xong.

Thể tích phân bố ở khoang trung tâm là 12,4 L/m2 với phụ nữ và 17,4 L/m2 ở nam giới (tính biến thiên riêng lẻ là 91,9 %).

Thể tích phân bố ở khoang ngoại vi là 47,41 L/m2. chỉ số này không thay đổi theo giới tính. Độ gắn kết protein huyết tương không đáng kể. Độ thanh thải toàn thân từ 29,2 L/giờ/m2 đến 92,2 L/giờ/m2 tùy theo tuổi và giới tính (tỷ lệ khác biệt giữa người này và người khác là 52,2%). Độ thanh thải ở nữ thấp hơn ở nam khoảng 25%. Mặc dù được thải nhanh, nhưng độ thanh thải ở nam lẫn nữ dường như giảm dần theo tuổi. Với liều đề nghị 1000 mg/m2, truyền trong 30 phút dù độ thanh thải có thấp nhưng cũng không cần giảm liều (cả nam lẫn nữ).

Thải trừ qua đường tiểu: Dưới 10% thuốc được thải trừ ở dạng không thay đổi.

Độ thanh thải ở thận: 2-7 L/giờ/m2.

Nửa đời thải trừ từ 42 đến 94 phút, tùy theo tuổi và giới tính. Với thời biểu dùng thuốc đã để nghị, gemcitabin hầu như được thải trừ hoàn toàn trong vòng 5-11 giờ kế từ lúc bắt đầu truyền. Khi dùng 1 tuần 1 lần, gemcitabin không tích tụ trong cơ thể

Chuyển hóa

Gemcitabin được chuyển hóa nhanh chóng tại gan, thận, máu và các mô khác do enzym cytidine deaminase. Chuyển hóa nội bào của gemcitabin tạo ra Gemcitabin mono, di, và triphosphat (dFdCMP, dFdCDP, dFdCTP) trong đó dFdCDP va đEdCTP được xem là có hoạt tính. Các sản phẩm của chuyển hóa nội bào này không tìm thấy trong huyết tương hay nước tiểu.

San phẩm chuyển hóa ban đầu 2′-deoxy-2′, 2′ difluorouridine (đFdU) không có hoạt tính và được tìm thấy trong huyết tương và nước tiểu.

Dược động học của dFdCTP

dFdCTP có thể tìm thấy trong các bạch cầu đơn nhân ở máu ngoại biên. Các thông tin sau đây đề cập đến những tế bào nảy. Nửa đời thải trừ cuối cùng: 07-12 giờ. Nồng đệ nội bào của dFdCTP tăng tỉ lệ thuận với liều Gemcitabin 35-350 mg/m2/30 phút, liều gemcitabin này tạo ra nồng độ ổn định của dFdCTP là 0,4-5 mcg/mL. Khi nồng độ của gemcitabin trong huyết tương cao hơn 5 mcg /ml thì nồng độ nội bào của dFdCTP không tăng thêm nữa. Điều này gợi ý rằng sự tạo thành dFdCTP đã bão hòa trong các tế bào. Khi dùng liều 1000 mg/m2/30 phút, khoảng 30 phút sau khi ngưng truyền nồng độ gemcitabin đạt được trong huyết tương trên 5 mg/mL và lớn hơn 0,4 ug/mL trong một giờ tiếp theo.

Dược động học của dFdU

Nồng độ trong huyết tương (đạt được 3-15 phút sau khi truyền xong với liều 1.000 mg/m2): 28-52 mg/mL.

Nồng độ tối thiểu khi dùng 1 tuần 1 lần: 0,07-1,12 mg/mL, không có sự tích tụ thuốc rõ rệt.

Nồng độ huyết tương 3 pha so với đường cong theo thời gian, nửa đời trung bình của pha cuối: 65 giờ (từ 33 đến 84 giờ). Tỷ lệ dFdU được hình thành từ hợp chất ban đầu: 91-98%.

Thể tích phân bố trung bình của khoang trung tâm: 18 L/m2 (từ 11-12 L/m2).

Thể tích phân bố trung bình ở trạng thái ổn định (VSS): 150 L/m2 (từ 96 – 228 L/m2).

Phân bố tại mô: Rất nhiều.

Độ thanh thải trung bình: 2,5 L/giờ/m2 (từ 1-4 L/giờ/m2).

Thải trừ qua đường tiểu: Toàn bộ.

Sự thải trừ của thuốc: Tỷ lệ thuốc đạt được 1 tuần sau khi tiêm truyền gemcitabin là: 92-98% trong đó 99% là dFdU, 1% liều lượng được bài tiết qua phân.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

 

6.2. Tương kỵ :

Không pha thuốc bằng các dung môi khác ngoài natri clorid 0,9%. Không trộn thuốc với bất kỳ thuốc nào khác.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản lọ thuốc bột nguyên vẹn ở nhiệt độ 20 – 25 °C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.