Thông tin chung của thuốc kết hợp Ethinylestradiol + Norelgestromin
Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc kết hợp Ethinylestradiol + Norelgestromin (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Ethinylestradiol + Norelgestromin
Phân loại: Thuốc tránh thai.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): G03AA13.
Biệt dược gốc:
Thuốc Generic: Evra
2. Dạng bào chế Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Miếng dán tránh thai : Norelgestromin 6 mg, ethinylestradiol 600 mcg.
Thuốc tham khảo:
| XULANE | ||
| Mỗi miếng dán có chứa: | ||
| Norelgestromin | …………………………. | 6 mg |
| Ethinylestradiol | …………………………. | 600 mcg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

Hình ảnh mang tính chất tham khảo, thuốc chưa lưu hành tại Việt Nam.
3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Thuốc ngừa thai dành cho nữ.
Ethinylestradiol + Norelgestromin được dành cho phụ nữ ở độ tuổi sinh sản. Tính an toàn và hiệu lực đã được xác lập ở phụ nữ tuổi từ 18 đến 45 tuổi.
Khi quyết định kê đơn sản phẩm Ethinylestradiol + Norelgestromin, cần xem xét các yếu tố nguy cơ hiện tại của từng phụ nữ, đặc biệt là những người có nghẽn tĩnh mạch do huyết khối [thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch] (VTE), và xem nguy cơ VTE khi dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin như thế nào khi so sánh với các thuốc tránh thai nội tiết kết hợp khác.
4.2. Liều dùng Cách dùng:
Cách dùng :
Ethinylestradiol + Norelgestromin nên được dán vào vùng da bình thường, khô sạch, không có lông ở vùng mông, bụng, mặt ngoài phía trên cánh tay hoặc phần thân trên. Không dán Ethinylestradiol + Norelgestromin lên vú, vùng da đang bị đỏ hoặc kích ứng, bị trầy xướt. Mỗi một miếng dán Ethinylestradiol + Norelgestromin tiếp theo nên được dán tránh với vị trí đã dán miếng Ethinylestradiol + Norelgestromin trước đó.
Liều dùng:
Để đạt hiệu quả tránh thai cao nhất, cần dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin đúng theo chỉ dẫn.
Mỗi lần chỉ dán 1 miếng dán Ethinylestradiol + Norelgestromin.
Bắt đầu dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin vào ngày đầu tiên có kinh nguyệt. Ngày dùng miếng dán đầu tiên (ngày 1/ngày bắt đầu) để xác định những Ngày Thay Miếng Dán Ethinylestradiol + Norelgestromin kế. Những Ngày Thay Miếng Dán sẽ cùng một ngày trong mỗi tuần (ngày 8, 15, 22 và ngày 1 chu kỳ kinh nguyệt kế tiếp).
Mỗi miếng dán Ethinylestradiol + Norelgestromin được dán liên tục tròn 1 tuần 7 ngày.
Khi lột bỏ miếng dán cũ thì thay ngay miếng dán mới cùng một ngày trong tuần (Ngày Thay Miếng Dán) vào ngày 8, ngày 15 của chu kỳ kinh nguyệt. Có thể thay miếng dán vào bất cứ lúc nào trong Ngày Thay Miếng Dán.
Tuần thứ tư không cần dán Ethinylestradiol + Norelgestromin, tuần này bắt đầu từ ngày 22 của chu kỳ kinh nguyệt.
Một chu kỳ tránh thai mới bắt đầu vào ngày đầu tiên sau khi hết tuần thứ tư (không dán Ethinylestradiol + Norelgestromin), lúc đó cần dán một miếng Ethinylestradiol + Norelgestromin mới cho dù chưa có kinh nguyệt hay kinh nguyệt vẫn còn. Không để xảy ra tình trạng không dán Ethinylestradiol + Norelgestromin lâu hơn 7 ngày vì người dùng có thể sẽ không được bảo vệ tránh thai. Lúc đó người dùng phải áp dụng cùng lúc biện pháp tránh thai không dùng nội tiết tố trong thời gian 7 ngày. Vì khi dùng thuốc tránh thai đường uống kết hợp, nguy cơ phóng noãn gia tăng từng ngày sau thời gian không dùng thuốc được yêu cầu. Nếu có giao hợp trong thời gian này thì cần xét đến khả năng thụ thai.
Nếu bắt đầu dùng thuốc sau ngày đầu tiên có kinh nguyệt, cần áp dụng cùng lúc biện pháp tránh thai không dùng nội tiết trong 7 ngày liên tiếp đầu tiên dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin.
Nếu miếng dán Ethinylestradiol + Norelgestromin bong ở bờ hoặc bong hẳn ra và không dán lại được thì thuốc không được phóng thích đầy đủ.
*Nhóm người dùng đặc biệt:
Suy thận: Ethinylestradiol + Norelgestromin chưa được nghiên cứu trên phụ nữ suy thận. Không cần thay đổi liều dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin trên phụ nữ suy thận nhưng cần giám sát người dùng vì có gợi ý trong y văn rằng tỉ lệ không gắn kết của EE là cao hơn.
Suy gan: Chống chỉ định dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin trên người suy gan.
Người lớn tuổi: Ethinylestradiol + Norelgestromin không để dùng cho phụ nữ mãn kinh.
Trẻ em: Hiệu quả và an toàn của Ethinylestradiol + Norelgestromin đã được xác nhận trên phụ nữ từ 18 tuổi trở lên. Hiệu quả và an toàn là tương tự trên thanh thiếu niên sau tuổi dậy thì và dùng cùng một liều như người lớn. Không chỉ định dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin trước khi có kinh lần đầu tiên trong đời.
4.3. Chống chỉ định:
Không được dùng các phương pháp tránh thai nội tiết kết hợp (CHCs) trong các tình trạng sau đây. Phải ngưng dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin ngay nếu có một trong những rối loạn này xảy ra trong lúc sử dụng miếng dán Ethinylestradiol + Norelgestromin.
Đang có hoặc có nguy cơ nghẽn tĩnh mạch do huyết khối [thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch] (VTE)
Nghẽn tĩnh mạch do huyết khối [thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch] hiện có VTE (đang dùng các thuốc chống đông máu) hoặc có tiền sử bệnh VTE (như là huyết khối tĩnh mạch sâu [DVT] hoặc thuyên tắc mạch máu phổi [PE];
Nghẽn tĩnh mạch do huyết khối [thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch] được biết do di truyền hoặc do bẩm chất dễ mắc phải, như là kháng protein C được hoạt hóa [APC] (bao gồm yếu tố V Leiden), thiếu hụt antithrombin III, thiếu hụt protein C, protein S;
Phẫu thuật lớn [Đại phẫu] với tình trạng bất động kéo dài
Nguy cơ VTE cao do có nhiều yếu tố nguy cơ hiện diện
Đang có hoặc có nguy cơ nghẽn động mạch do huyết khối [thuyên tắc huyết khối động mạch] (ATE)
Nghẽn động mạch do huyết khối [thuyên tắc huyết khối động mạch] hiện có ATE, có tiền sử bệnh ATE (như là nhồi máu cơ tim) hoặc tình trạng báo trước [tình trạng tiền triệu] (như là cơn đau thắt ngực);
Bệnh mạch máu não hiện có đột quỵ, có tiền sử đột quỵ hoặc tình trạng báo trước [tình trạng tiền triệu] (như là cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua, TIA);
Nghẽn động mạch huyết khối [thuyên tắc huyết khối động mạch] được biết do di truyền hoặc do bẩm chất dễ mắc phải, như là tăng homocystein trong máu và các kháng thể kháng phospholipid (kháng thể kháng cardiolipin, chất chống đông lupus);
Có tiền sử đau nửa đầu [migraine] với các triệu chứng thần kinh khu trú;
Có nguy cơ nghẽn động mạch do huyết khối [thuyên tắc huyết khối động mạch] cao do có nhiều yếu tố nguy cơ hoặc hiện có một yếu tố nguy cơ nghiêm trọng, như là: đái tháo đường có các triệu chứng về mạch máu, tăng huyết áp nặng, rối loạn lipoprotein máu nặng
Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ tá dược của thuốc.
Ung thư biểu mô vú đã biết hoặc nghi ngờ.
Ung thư biểu mô nội mạc tử cung hoặc u tân sinh khác phụ thuộc estrogen đã biết hoặc nghi ngờ.
Bất thường chức năng gan liên quan đến bệnh tế bào gan cấp hoặc mạn tính.
Ung thư biểu mô hoặc ung thư tuyến của gan.
Chảy máu sinh dục bất thường chưa được chẩn đoán.
4.4 Thận trọng:
Hút thuốc và tuổi tác
Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ các biến cố tim mạch trầm trọng do sử dụng thuốc tránh thai nội tiết. Những nguy cơ này gia tăng theo tuổi tác, đặc biệt những người phụ nữ trên 35 tuổi và số lượng thuốc lá được hút mỗi ngày. Vì những lý do này, những thuốc ngừa thai chứa nội tiết tố bao gồm cả Ethinylestradiol + Norelgestromin, không nên dùng cho phụ nữ trên 35 tuổi và có hút thuốc.
Thể trọng ≥ 90kg:
Các phân tích nghiên cứu giai đoạn III cho thấy Ethinylestradiol + Norelgestromin có thể kém hiệu quả trên người dùng có cân nặng ≥ 90kg hơn trên người dùng có cân nặng < 90kg. Ở phụ nữ < 90kg không có liên hệ nào giữa thể trọng và tỉ lệ mang thai ngoài ý muốn khi dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin.
Tổng quát:
Khi có các trường hợp chảy máu âm đạo bất thường tái diễn hoặc kéo dài không chẩn đoán được, cần có các biện pháp thích hợp để loại trừ khả năng ung thư.
Trên các nghiên cứu lâm sàng khi Ethinylestradiol + Norelgestromin được dùng đúng, khả năng mang thai dưới 1% trong năm đầu tiên dùng thuốc. Khả năng mang thai gia tăng khi dùng thuốc không đúng cách.
Các tình trạng tiềm tàng:
Khi cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích sử dụng thuốc tránh thai nội tiết, bác sĩ cần biết rõ các tình trạng có thể gia tăng nguy cơ biến chứng khi dùng thuốc tránh thai nội tiết:
Các tình trạng gia tăng nguy cơ phát triển nghẽn tĩnh mạch huyết khối, như là bất động kéo dài, đại phẫu, phẫu thuật ở chân hoặc bó bột ở chân, béo phì, tiền sử gia đình có bệnh nghẽn mạch huyết khối.
Các yếu tố nguy cơ cho bệnh động mạch như hút thuốc, tăng lipid máu, cao huyết áp (các giá trị huyết áp duy trì ≥ 140mmHg tâm thu hoặc ≥ 90mmHg tâm trương), hoặc béo phì. Bệnh đau nửa đầu nặng không có tiền triệu
Bệnh tiểu đường
Trầm cảm nặng hoặc có tiền sử trầm cảm
Sỏi mật hoặc tiền sử sỏi mật
Vàng da mãn tính không rõ nguyên nhân
Tiền sử gia đình vàng da ứ mật (hội chứng Rotor, Dubin-Johnson).
Rối loạn nghẽn mạch huyết khối và các rối loạn mạch máu khác:
Gia tăng nguy cơ nghẽn mạch huyết khối và huyết khối mà có thể dẫn đến bất lực vĩnh viễn hoặc tử vong đã được xác nhận là có liên hệ với việc sử dụng thuốc tránh thai nội tiết. Các nghiên cứu so sánh đã cho thấy nguy cơ tương đối ở người dùng thuốc và người không dùng thuốc là 3 đối với đợt huyết khối tĩnh mạch nông đầu tiên; 4-11 đối với huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc thuyên tắc mạch máu phổi; 1,5-6 đối với người dùng có điều kiện thuận lợi cho bệnh nghẽn tĩnh mạch huyết khối. Các nghiên cứu cho thấy nguy cơ tương đối có hơi thấp hơn, khoảng 3, đối với các trường hợp mới và 4,5 đối với các trường hợp cần nhập viện. Nguy cơ bệnh của bệnh nghẽn mạch huyết khối khi dùng thuốc tránh thai nội tiết không liên quan đến thời gian sử dụng thuốc và sẽ mất đi sau khi ngừng dùng thuốc tránh thai nội tiết.
Như với bất kỳ các thuốc tránh thai nội tiết kết hợp, nhà lâm sàng nên cảnh báo các biểu hiện sớm nhất của rối loạn nghẽn mạch huyết khối (viêm tĩnh mạch huyết khối, VTE bao gồm nghẽn mạch phổi, rối loạn tim mạch, và huyết khối võng mạc). Nên ngưng dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin ngay lập tức nếu bất kỳ điều gì ở trên xảy ra hoặc nghi ngờ xảy ra.
Nguy cơ tương đối về biến chứng nghẽn mạch huyết khối sau phẫu thuật khi dùng thuốc tránh thai nội tiết đã được báo cáo gia tăng 2-4 lần. Nguy cơ tương đối huyết khối tĩnh mạch ở người dùng có điều kiện thuận lợi là gấp đôi ở người không có những điều kiện đó. Nếu khả thi, nên ngừng dùng thuốc tránh thai nội tiết ít nhất là 4 tuần trước khi và 2 tuần sau khi thực hiện những loại phẫu thuật không cấp thiết mà có nguy cơ gia tăng nghẽn mạch huyết khối và trong và sau khi bất động kéo dài. Vì thời kỳ ngay sau khi sinh và sau khi đình chỉ thai nghén cũng liên hệ với gia tăng nguy cơ nghẽn mạch huyết khối nên bắt đầu thuốc tránh thai nội tiết theo đúng chỉ dẫn ở mục Dùng thuốc sau khi sinh và Dùng thuốc sau khi đình chỉ thai nghén hoặc sẩy thai.
Nguy cơ tương đối của huyết khối động mạch (ví dụ như đột quỵ, nhồi máu cơ tim) gia tăng khi có các yếu tố thuận lợi khác như hút thuốc lá, cao huyết áp, tăng cholesterol máu, béo phì, tiểu đường, tiền sử nhiễm độc tiền sản giật và lớn tuổi. Thuốc tránh thai nội tiết có liên quan với các biến chứng mạch máu nặng này. Nguy cơ bệnh mạch máu có thể giảm đi khi dùng những thuốc tránh thai có liều estrogen và progestogen thấp hơn, mặc dù chưa có kết luận chính thức.
Nguy cơ các tác dụng phụ nghiêm trọng trên tim mạch gia tăng theo tuổi, mức độ hút thuốc lá nhiều, và đáng kể ở người hút thuốc lá trên 35 tuổi. Người dùng thuốc tránh thai nội tiết được khuyên không nên hút thuốc lá.
Do nhiều trường hợp nghẽn tĩnh mạch huyết khối có triệu chứng mơ hồ, nên ngừng dùng thuốc tránh thai nội tiết ở những trường hợp nghi ngờ huyết khối trong khi chờ thực hiện các biện pháp chẩn đoán.
Đã có những báo cáo lâm sàng về huyết khối võng mạc liên quan với thuốc tránh thai nội tiết. Nên ngừng dùng thuốc tránh thai nội tiết khi bị mất thị lực một phần hay toàn phần không rõ nguyên do, khởi phát chứng lồi mắt hoặc song thị; phù gai thị hoặc tổn thương mạch máu võng mạc. Lúc đó, cần tiến hành ngay các biện pháp chẩn đoán và điều trị thích hợp.
Cao huyết áp:
Tăng huyết áp đã được báo cáo ở một số người dùng thuốc tránh thai nội tiết. Các nghiên cứu chứng tỏ rằng tăng huyết áp dễ xảy ra hơn ở những người lớn tuổi dùng thuốc trong thời gian dài. Đối với nhiều người, huyết áp sẽ trở lại bình thường sau khi ngừng dùng thuốc tránh thai nội tiết. Không có khác biệt khả năng tăng huyết áp ở người từng dùng và người chưa bao giờ dùng thuốc tránh thai nội tiết. Trong 3 nghiên cứu thuốc Ethinylestradiol + Norelgestromin (số người được nghiên cứu là 1530, 819 và 748) thay đổi trung bình của huyết áp tâm thu và tâm trương là dưới 1 mmHg.
Những người dùng có huyết áp cao cần phải được kiểm tra trước khi bắt đầu liệu pháp tránh thai bằng nội tiết. Liệu pháp tránh thai bằng nội tiết cần phải ngừng nếu có hiện tượng huyết áp tăng kéo dài đáng kể (≥ 160 mmHg tâm thu hoặc ≥ 100 mmHg tâm trương) và không thể kiểm soát thỏa đáng. Nói chung, những phụ nữ bị tăng huyết áp trong khi dùng liệu pháp tránh thai bằng nội tiết nên chuyển sang liệu pháp tránh thai không bằng nội tiết. Nếu các phương pháp tránh thai khác không phù hợp, thì có thể tiếp tục dùng liệu pháp tránh thai bằng nội tiết kèm theo liệu pháp chống tăng huyết áp. Khuyến cáo cần phải theo dõi huyết áp thường xuyên trong khi dùng liệu pháp tránh thụ thai bằng nội tiết.
Tăng sinh gan bất thường:
U tuyến lành tính ở gan có liên quan với thuốc tránh thai nội tiết kết hợp. Các tính toán gián tiếp ước đoán nguy cơ khoảng 3,3 trường hợp/100.000 người, một nguy cơ gia tăng sau hơn 4 năm dùng thuốc, đặc biệt thuốc tránh thai nội tiết chứa ≥ 50mcg estrogen. Vỡ u tuyến lành tính ở gan có thể gây tử vong do xuất huyết nội.
Các nghiên cứu cho thấy người dùng thuốc tránh thai nội tiết kết hợp gia tăng nguy cơ phát triển ung thư tế bào gan.
Ung thư cơ quan sinh sản và vú:
Hầu hết các nghiên cứu gợi ý rằng dùng thuốc tránh thai nội tiết không gia tăng nguy cơ phát triển ung thư vú. Một số nghiên cứu báo cáo gia tăng nguy cơ tương đối phát triển ung thư vú, đặc biệt ở người trẻ tuổi. Nguy cơ gia tăng này đã được báo cáo có liên quan với thời gian dùng thuốc tránh thai nội tiết, trước khi mang thai.
Phân tích 54 nghiên cứu dịch tễ học cho thấy người đang dùng thuốc tránh thai nội tiết kết hợp hoặc đã từng dùng trong vòng 10 năm nay có gia tăng nhẹ nguy cơ ung thư vú được chẩn đoán, mặc dù những ung thư kèm theo có xu hướng khu trú tại vú. Không thể xác định từ những dữ kiện này rằng có phải nguy cơ quan sát thấy là do chẩn đoán sớm ung thư vú trên những người từng dùng, tác dụng sinh học của thuốc tránh thai nội tiết hay là sự kết hợp của cả hai yếu tố. Nghiên cứu này cũng gợi ý rằng tuổi lúc người dùng ngừng dùng thuốc tránh thai nội tiết kết hợp là một yếu tố quan trọng cho ung thư vú, ngừng dùng thuốc lúc càng lớn tuổi nguy cơ ung thư vú chẩn đoán được càng cao. Thời gian dùng thuốc được xem là kém quan trọng hơn.
Nên thảo luận với người dùng về gia tăng khả dĩ nguy cơ ung thư vú và cân nhắc với lợi ích của thuốc tránh thai nội tiết kết hợp, có xem xét đến bằng chứng thuốc tránh thai nội tiết kết hợp giúp bảo vệ đáng kể người dùng đối với nguy cơ ung thư buồng trứng và nội mạc tử cung.
Một số nghiên cứu gợi ý rằng sử dụng thuốc tránh thai nội tiết có liên quan với gia tăng sự tăng sinh bất thường bên trong biểu mô cổ tử cung ở một số nhóm người dùng. Tuy nhiên, vẫn còn bàn cãi về đến mức độ của những biểu hiện là do khác biệt về hành vi tình dục và các yếu tố khác.
Ảnh hưởng trên chuyển hóa:
Thuốc tránh thai nội tiết có thể làm giảm khả năng dung nạp glusose. Tác dụng này đã được ghi nhận là liên hệ trực tiếp với liều estrogen. Progestogen làm tăng tiết insulin và gây nên sự kháng insulin. Tác dụng này thay đổi đối với các tác nhân progestogen khác nhau. Tuy nhiên, ở phụ nữ không bị tiểu đường, thuốc tránh thai nội tiết dường như không có tác dụng trên glucose máu lúc bụng đói. Vì vậy, những người dùng thuốc tránh thai nội tiết bị tiểu đường hoặc tiền-tiểu đường nên được giám sát chặt chẽ. Một số ít phụ nữ có tình trạng tăng triglyceride máu dai dẳng khi dùng thuốc tránh thai nội tiết. Thay đổi nồng độ triglyceride và lipoprotein huyết thanh đã được báo cáo trên người dùng thuốc tránh thai nội tiết.
Nhức đầu:
Cũng như với tất cả các thuốc tránh thai nội tiết, cần ngừng dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin và đánh giá nguyên nhân khi có khởi phát hoặc nặng lên đau nửa đầu có hoặc không có tiền triệu, phát sinh nhức đầu dai dẳng, tái diễn hoặc trầm trọng.
Kinh nguyệt không đều:
Rong huyết hoặc vô kinh có thể xảy ra ở người dùng thuốc tránh thai nội tiết, đặc biệt trong 3 tháng đầu. Nếu cần, nên xem xét các nguyên nhân không phải do nội tiết gây ra, áp dụng đầy đủ các biện pháp để loại trừ bệnh lý thực thể hoặc thai nghén.
Một số người dùng có thể có vô kinh hoặc thiểu kinh sau khi ngừng sử dụng thuốc tránh thai nội tiết đặc biệt là khi những tình trạng này có sẵn từ trước.
Nám da:
Nám da đôi khi xảy ra khi dùng thuốc tránh thai nội tiết, đặc biệt khi người dùng có tiền sử nám da. Người dùng có xu hướng rám da nên tránh nắng hoặc tia cực tím trong khi dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin. Nám da thường không hồi phục hoàn toàn.
Miếng dán so với các viên uống tránh thai
Các nhà kê đơn nên được cảnh báo sự khác biệt về đặc tính dược động học (PK) của miếng dán và viên uống tránh thai kết hợp và nên cẩn thận khi so sánh trực tiếp giữa các thông số này. Nhìn chung, các miếng dán qua da được thiết kế để duy trì phóng thích EE và NGMN hằng định trong một khoảng thời gian trên bảy ngày trong khi viên uống tránh thai được uống hàng ngày và tạo ra các thời điểm nồng độ ở đỉnh cao và các thời điểm nồng độ thấp. Độ biến thiên trong cơ thể (%CV) trên các thông số dược động học sau khi miếng dán phóng thích cao hơn độ biến thiên của các thông số này được xác định từ viên uống tránh thai. Các sự khác biệt trên lâm sàng có liên quan đến dược động học giữa miếng dán và viên uống tránh thai chưa được biết. (Xem phần Dược động học, Miếng dán và viên uống tránh thai).
Các xét nghiệm cận lâm sàng:
Một số xét nghiệm chức năng gan, xét nghiệm nội tiết, thành phần máu có thể bị ảnh hưởng bởi thuốc tránh thai nội tiết:
* Tăng prothrombin và các yếu tố VII, VIII, IX và X; giảm kháng thrombin III; giảm protein S; tăng tính kết tập tiểu cầu cảm ứng bởi norepinephrine (noradrenalin).
* Tăng gắn kết globulin ở tuyến giáp (TBG) dẫn đến tăng tổng hormon tuyến giáp tuần hoàn, khi đo bằng iốt kết hợp protein (PBI), T4 bằng cột hoặc bằng định lượng miễn dịch phóng xạ. Giảm sử dụng resin T3 tự do, phản ánh bởi tăng TBG, nồng độ T4 tự do không thay đổi.
* Các protein gắn kết khác có thể gia tăng trong huyết thanh.
* Tăng các globulin gắn kết hormon sinh dục (SHBG) dẫn đến tăng tổng nồng độ steroid sinh dục nội sinh trong tuần hoàn. Tuy nhiên, nồng độ tự do hoặc nồng độ hoạt tính sinh học của các steroid sinh dục hoặc là giảm hoặc là không thay đổi.
* Lipoprotein tỉ trọng cao (HDL-C), cholesterol toàn phần (Total-C), lipoprotein tỉ trọng thấp (LDL-C) và các triglycerid có thể tăng nhẹ khi dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin, trong khi tỉ số LDL-C/HDL-C có thể không thay đổi.
* Có thể giảm dung nạp glucose
* Nồng độ folate huyết thanh có thể bị ức chế bởi thuốc tránh thai nội tiết. Điều này có ý nghĩa về mặt lâm sàng khi một phụ nữ có thai rất sớm sau khi ngừng dùng thuốc tránh thai nội tiết. Tất cả phụ nữ được khuyên dùng bổ sung acid folic trước, trong và sau khi có thai.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B3
US FDA pregnancy category: NA
Thời kỳ mang thai:
Chống chỉ định dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin ở phụ nữ có thai.
Thời kỳ cho con bú:
Nếu có thể, bà mẹ đang cho con bú được khuyên không dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin hoặc các thuốc tránh thai nội tiết kết hợp khác mà dùng các phương pháp tránh thai khác cho đến khi trẻ cai sữa mẹ.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Quy ước tần suất của các phản ứng theo MedDRA: rất thường gặp (≥ 1/10); thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10); ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100); hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000); rất hiếm (< 1/10.000); không rõ (không thể ước lượng từ dữ liệu có sẵn).
| Hệ thống phân loại cơ quan/ Tần suất | Phản ứng bất lợi |
| Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng | |
| Thường gặp | Viêm âm đạo (âm hộ) do nấm |
| Viêm âm đạo do nấm Candida | |
| Hiếm | Phát ban có mụn mủ* |
| Mụn mủ tại chỗ dán | |
| Khối u lành tính, ác tính và chưa xác định (bao gồm u nang và polyp) | |
| Hiếm gặp | U gan tân sinh*† |
| Ung thư vú*† | |
| Ung thư biểu mô cổ tử cung*† | |
| Ung thư tuyến gan*† | |
| U cơ tử cung | |
| U xơ tuyến vú | |
| Rối loạn hệ miễn dịch | |
| Ít gặp | Quá mẫn |
| Hiếm gặp | Phù mạch* |
| Ban đỏ (đa dạng, nốt)* | |
| Nám da† | |
| Phát ban dạng tróc vẩy* | |
| Ngứa toàn thân | |
| Phát ban (ban đỏ, ngứa) | |
| Viêm da tiết bã* | |
| Rối loạn cơ xương và mô liên kết | |
| Thường gặp | Vọp bẻ [co rút cơ] |
| Rối loạn hệ sinh sản và vú | |
| Rất thường gặp | Vú nhạy cảm đau |
| Thường gặp | Đau bụng kinh |
| Chảy máu âm đạo và rối loạn kinh nguyệt**† | |
| Co thắt tử cung | |
| Các rối loạn ở vú | |
| Tiết dịch âm đạo | |
| ít gặp | Hiện tượng chảy sữa tự phát |
| Hội chứng tiền kinh nguyệt | |
| Khô âm hộ âm đạo | |
| Hiếm gặp | Loạn sản cổ tử cung * |
| Mất sữa* | |
| Tiết dịch bộ phận sinh dục | |
| Rối loạn toàn thân và tình trạng tại chỗ dán | |
| Thường gặp | Khó chịu |
| Mệt mỏi | |
| Phản ứng tại chỗ dán (ban đỏ, kích ứng, ngứa, phát ban) | |
| Ít gặp | Phù toàn thân |
| Phù ngoại biên | |
| Phản ứng tại chỗ dán** | |
| Hiếm gặp | Phù mặt* |
| Phù ấn lõm* | |
| Sưng nề | |
| Phản ứng tại chỗ dán* (như là áp-xe, bào mòn da) | |
| Phù cục bộ* | |
| Các chỉ số khác | |
| Thường gặp | Tăng cân |
| Ít gặp | Tăng huyết áp Rối loạn lipid** |
| Hiếm gặp | Hạ đường huyết*† |
| Rối loạn đường huyết*† | |
| * Các báo cáo hậu mãi. | |
| ** Bao gồm các phản ứng bất lợi được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng và các báo cáo hậu mãi. | |
| † Xem phần Cảnh báo và Thận trọng. | |
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Thay đổi hiệu quả ngừa thai có liên hệ với việc dùng đồng thời các thuốc khác:
Nếu 1 phụ nữ dùng thuốc ngừa thai nội tiết cùng 1 thuốc hay sản phẩm thảo dược sinh ra enzyme, bao gồm CYP3A4, là chất chuyển hóa nội tiết ngừa thai, chị ấy nên được tư vấn sử dụng phương pháp ngừa thai hỗ trợ hay thay đổi phương pháp ngừa thai khác. Các thuốc hay thảo dược sinh ra các enzyme như vậy có thể làm giảm nồng độ các nội tiết tránh thai trong huyết tương và có thể làm giảm hiệu quả ngừa thai hay gia tăng rong huyết. Một vài thuốc hay thảo dược có thể làm giảm hiệu quả ngừa thai như: Barbiturates, Bosentan, Carbamazepine, Felbamate, Griseofulvin, Modafinil, Oxcarbazepine, Phenytoin, Rifampin, St. John’s wort, Topiramate
Các thuốc ức chế protease HIV và các thuốc ức chế sao chép ngược non-nucleoside: Thay đổi đáng kể (tăng hay giảm) các nồng độ estrogen và progestin trong huyết tương được ghi nhận trong một số trường hợp dùng đồng thời các thuốc ức chế protease HIV và các thuốc ức chế sao chép ngược non-nucleoside.
Thuốc kháng sinh: Có một số báo cáo mang thai khi sử dụng biện pháp tránh thai nội tiết tố và thuốc kháng sinh, nhưng các nghiên cứu dược động học lâm sàng không cho thấy ảnh hưởng của kháng sinh trên nồng độ huyết tương của steroid tổng hợp. Trong một nghiên cứu tương tác dược động học, uống thuốc tetracycline HCI 500mg 4 lần/ngày trong 3 ngày trước và trong 7 ngày dán Ethinylestradiol + Norelgestromin không ảnh hưởng đáng kể đến dược động học của norelestromin hoặc EE.
Tăng nồng độ hóc môn trong huyết tương khi dùng kèm với các thuốc khác:
Một số loại thuốc và nước bưởi có thể làm tăng nồng độ ethinyl estradiol trong huyết tương như: Acetaminophen, Ascorbic acid, Các thuốc ức chế CYP3A4 (bao gồm itraconazole, ketoconazole, voriconazole và fluconazole), etoricoxib, Nước bưởi
Các thuốc ức chế HMG-CoA reductase (bao gồm atorvastatin và rosuvastatin)
Thay đổi nồng độ trong huyết tương của các thuốc khác:
Dữ liệu từ các thuốc ngừa thai nội tiết kết hợp dạng uống cho thấy rằng cũng có ảnh hưởng đến dược động học của một số loại thuốc khác khi đồng thời cùng sử dụng.
Ví dụ các loại thuốc có nồng độ trong huyết tương tăng lên (do ức chế CYP) bao gồm: Cyclosporine, Omeprazole, Prednisolone, Theophylline, Voriconazole
Ví dụ các loại thuốc có nồng độ trong huyết tương giảm (do kích thích glucuronidation) bao gồm: Acetaminophen, Clofibric acid , Lamotrigine (xem bảng dưới đây), Morphine, Salicylic acid, Temazepam
Thuốc ngừa thai nội tiết kết hợp đã làm giảm đáng kể nồng độ trong huyết tương của lamotrigine khi điều trị phối hợp có thể do cảm ứng của glucuronidation lamotrigine. Điều này có thể làm hiệu quả kiểm soát động kinh của lamotrigine, vì vậy điều chỉnh liều lượng của lamotrigine là điều cần thiết.
Bác sĩ được khuyên là nên tham khảo thông tin ghi trên nhãn của các thuốc dùng đồng thời để có thêm các thông tin chi tiết về sự tương tác với các thuốc tránh thai nội tiết hoặc tiềm năng thay đổi enzyme.
4.9 Quá liều và xử trí:
Ảnh hưởng sức khỏe trầm trọng chưa được ghi nhận sau khi uống (lượng lớn) quá liều thuốc tránh thai đường uống. Quá liều có thể gây buồn nôn, nôn. Xuất huyết âm đạo ở phụ nữ. Trong trường hợp nghi ngờ quá liều, ngừng dùng thuốc tránh thai thấm qua da và điều trị triệu chứng.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Các nghiên cứu globulin kết hợp thụ thể và kết hợp hormone sinh dục (SHBG) cũng như các nghiên cứu trên súc vật và trên người đã cho thấy cả norgestimate (NGM) và norgeltromin chất chuyển hóa huyết thanh chủ yếu của norgestimate sau khi uống đều thể hiện mạnh hoạt tính của progestogen với tính kích thích tố nam nội sinh tối thiểu, điều này minh họa tác dụng chọn lọc của Ethinylestradiol + Norelgestromin. Norelgestromin dùng thấm qua da kết hợp với ethinyl estradiol không làm mất tác dụng gia tăng SHBG do estrogen gây ra, dẫn đến nồng độ testoterone tự do huyết thanh thấp hơn so với trước khi dùng thuốc.
Ngoài tác dụng tránh thai, các lợi ích về mặt sức khỏe liên quan với việc dùng thuốc tránh thai nội tiết kết hợp được củng cố bởi các nghiên cứu dịch tễ học các thuốc tránh thai nội tiết chứa estrogen ở liều cao hơn 35 mcg EE hoặc 50 mcg mestranol:
Tác dụng trên kinh nguyệt:
Kinh nguyệt đều hơn
Giảm mất máu, giảm tỉ lệ thiếu máu thiếu sắt
Giảm tỉ lệ thống kinh
Tác dụng liên quan đến ức chế rụng trứng:
Giảm tỉ lệ u nang buồng trứng cơ năng
Giảm tỉ lệ thai lạc chỗ
Các tác dụng khác:
Giảm tỉ lệ u xơ tuyến và bệnh nang xơ vú
Giảm tỉ lệ viêm nhiễm vùng chậu cấp
Giảm tỉ lệ ung thư nội mạc tử cung
Giảm tỉ lệ ung thư buồng trứng.
Cơ chế tác dụng:
Ethinylestradiol + Norelgestromin tác dụng bằng cơ chế ức chế gonadotropin nhờ các tác dụng estrogen và progestogen của ethinyl estradiol và norelgestromin. Cơ chế tác dụng chủ yếu là ức chế rụng trứng, tuy nhiên các thay đổi trên chất nhầy cổ tử cung, nhu động vòi trứng và nội mạc tử cung cũng tham gia vào hiệu quả tránh thai của thuốc.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Hấp thu:
Sau khi dùng Ethinylestradiol + Norelgestromin cả norelgestromin và EE xuất hiện nhanh trong huyết tương, đạt nồng độ ổn định sau khoảng 48 giờ, và được duy trì ở trạng thái gần hằng định trong suốt thời gian dán. Các nồng độ Css của norelgestromin và EE trong 1 tuần dán Ethinylestradiol + Norelgestromin tương ứng khoảng 0,8ng/ml và 50pg/ml, và ổn định như nhau từ tất cả các nghiên cứu và các vị trí dán khác nhau.
Hấp thu của norgeltromin và EE sau khi dán Ethinylestradiol + Norelgestromin ở vùng mông, bụng, mặt ngoài phía trên cánh tay hoặc phần thân trên (không dán ở vú) được đánh giá trong một nghiên cứu giao thoa. Kết quả nghiên cứu chứng tỏ Css và AUC đối với dán thuốc ở vùng mông, mặt ngoài phía trên cánh tay hoặc phần thân trên cho mỗi giải tích là tương đương nhau. Các yêu cầu tương đương sinh học đối vớc AUC không đạt được trong nghiên cứu này ở vùng bụng. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu dược động học dán nhiều vị trí có nhóm so sánh riêng biệt, Css và AUC ở vùng mông và bụng không khác nhau về mặt thống kê. Ở một nghiên cứu khoảng liều dùng, Ethinylestradiol + Norelgestromin gây ức chế hiệu quả sự rụng trứng khi dán ở bụng. Vì vậy tất cả 4 vị trí dán thuốc tương đương nhau về mặt điều trị.
Hấp thu norgeltromin và EE sau khi dán Ethinylestradiol + Norelgestromin được nghiên cứu dưới các điều kiện gặp ở câu lạc bộ sức khoẻ (tắm hơi, hồ nước xoáy, tập thể dục aerobic) và tắm nước lạnh. Kết quả chứng tỏ rằng đối với norgestromin không có ảnh hưởng điều trị đáng kể nào trên Css hoặc AUC khi so với dán thuốc ở điều kiện bình thường. Đối với EE, thấy có tăng nhẹ khi tắm hồ nước xoáy và tập thể dục aerobic. Không có tác dụng đáng kể nào của nước lạnh trên các chỉ số này.
Kết quả từ một nghiên cứu dán Ethinylestradiol + Norelgestromin kéo dài từ 7-10 ngày chứng tỏ rằng Css đích của norelgestromin và EE được duy trì trong thời gian 3 ngày dùng thêm Ethinylestradiol + Norelgestromin (10 ngày tổng cộng). Bằng chứng này gợi ý rằng, hiệu quả lâm sàng sẽ được duy trì ngay cả khi chậm thay miếng dán Ethinylestradiol + Norelgestromin mới đến tròn 2 ngày.
Phân bố:
Norelgestromin và norgestrel (một chất chuyển hoá của norelgestromin trong huyết tương) kết hợp cao với các protein huyết tương (> 97%). Norelgestromin kết hợp với albumin, không kết hợp với SHBG, trong khi norgestrel kết hợp chủ yếu với SHBG, làm giới hạn hoạt tính sinh học của nó. Ethinyl estradiol kết hợp nhiều với albumin huyết tương.
Chuyển hóa sinh học:
Vì Ethinylestradiol + Norelgestromin được thấm qua da, chuyển hóa qua đường thuốc vào đầu tiên (theo đường tiêu hóa và gan) của norelgestromin và EE như khi dùng thuốc theo đường uống là không xảy ra. Norelgestromin chuyển hóa qua gan và các chất chuyển hóa kể cả norgestrel kết hợp nhiều với SHBG và các chất chuyển hóa tiếp hợp và hydroxylate. Ethinyl estradiol cũng chuyển hóa thành các chất hydroxylate khác nhau và các tiếp hợp sulfate và glucoronide của chúng.
Thải trừ:
Sau khi lột bỏ miếng dán, dược động học thải trừ của norelgestromin và EE là như nhau từ tất cả các nghiên cứu với giá trị bán hủy tương ứng khoảng 28 giờ và 17 giờ. Các chất chuyển hóa của norelgestromin và EE được thải theo đường thận và phân.
5.3. Hiệu quả lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
….
6.2. Tương kỵ :
Để tránh cản trở tính kết dính của Ethinylestradiol + Norelgestromin, không bôi kem, sữa hay phấn lên vùng da sẽ dán Ethinylestradiol + Norelgestromin.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Chưa có thông tin.
6.5 Tài liệu tham khảo:
HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM