Estriol – Ovestin

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Estriol

Phân loại: Thuốc tác động trên hệ nội tiết Estrogens.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): G03CA04, G03CC06.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Ovestin

Hãng sản xuất : N.V. Organon

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén: 1 mg

Viên đặt âm đạo 0,5mg

Thuốc tham khảo:

OVESTIN 1MG TABLET
Mỗi viên nén có chứa:
Estriol …………………………. 1 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

OVESTIN PESSARIES
Mỗi viên nén đặt âm đạo có chứa:
Estriol …………………………. 0,5 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Trị liệu nội tiết thay thế (Hormone replacement therapy-HRT) trong điều trị teo đường sinh dục – tiết niệu dưới do thiếu estrogen.

Điều trị trước và sau phẫu thuật âm đạo trên phụ nữ sau mãn kinh.

Hỗ trợ chẩn đoán trong trường hợp nghi ngờ teo tế bào cồ tử cung.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Nên đặt viên Ovestin vào sâu bên trong âm đạo vào buổi tối trước khi đi ngủ.

Liều khởi đầu và liều duy trì để điều trị các triệu chứng sau mãn kinh nên dùng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất (xem “Thận trọng và Cảnh báo đặc biệt”).

Có thể bắt đầu điều trị bằng Ovestin vào bất kỳ ngày nào cho những phụ nữ trước đó không dùng HRT hoặc những phụ nữ chuyền từ sử dụng một sản phẩm HRT phối hợp liên tục. ở những phụ nữ chuyển từ phác đồ HRT theo chu kỳ, nên bắt đầu điều trị bằng Ovestin 1 tuần sau khi kết thúc chu kỳ điều trị.

Ovestin là thuốc chỉ chứa estrogen có thể sử dụng cho phụ nữ còn hoặc không còn tử cung

Liều dùng:

Điều trị teo đường sinh dục – tiết niệu dưới: Đặt 1 viên/ngày trong vài tuần đầu, sau đó giảm liều dần dựa vào sự suy giảm triệu chứng cho đến khi đạt liều duy trì (1 viên/lần X 2 lần/tuần).

Điều trị trước và sau phẫu thuật âm đạo trên phụ nữ sau mãn kinh: đặt 1 viên/ngày X 2 tuần trước phẫu thuật; 1 viên/lần, 2 lần/tuần X 2 tuần sau phẫu thuật

Hỗ trợ chẩn đoán trong trường hợp nghi ngờ teo tế bào cổ tử cung: Đặt âm đạo cách ngày 1 viên trong 1 tuần trước khi làm phết cổ tử cung lần kế tiếp.

Nếu quên một liều thì nên đặt ngay khi nhớ ra, trừ khi nhớ ra vào ngày dùng liều kế tiếp. Khi đó nên bỏ qua liều đã quên và đặt liều kế tiếp như thường lệ. Không được đặt thuốc hai lần trong cùng một ngày

4.3. Chống chỉ định:

Bị hoặc có tiền sử bị ung thư vú hoặc nghi ngờ ung thư vú

Đã biết hoặc nghi ngờ có khối u ác tính lệ thuộc estrogen (ví dụ ung thư nội mạc tử cung)

Xuất huyết âm đạo không rõ nguyên nhân

Tăng sản nội mạc tử cung không được điều trị

Trước đây họặc hiện nay bị thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi)

Đã biết bệnh lý huyết khối (như thiếu hụt protein c, protein s, hoặc antithrombin, xem Mục ‘Thận trọng và Cảnh báo đặc biệt”

Đang bị hoặc mới gần đây bị bệnh thuyên tắc huyết khối động mạch (ví dụ đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim)

Bệnh gan cấp tính, hoặc tiền sử bệnh gan mà xét nghiệm chức năng gan chưa trở lại bình thường

Quá mẫn với hoạt chất hoặc với bất cứ tá dược nào của thuốc

Rối loạn chuyển hóa porphyrin

4.4 Thận trọng:

Để điều trị các triệu chứng sau mãn kinh, chỉ nên bắt đầu dùng HRT khi các triệu chứng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Trong tất cả các trường hợp, cần thận trọng đánh giá nguy cơ và lợi ích điều trị ít nhất mỗi năm một lần và chỉ nên tiếp tục sử dụng HRT khi lợi ích vượt trội nguy cơ.

Bằng chứng về nguy cơ liên quan đến HRT trong điều trị mãn kinh sớm còn giới hạn. Do nguy cơ tuyệt đối thấp ở những người phụ nữ trẻ tuổi, tuy nhiên, sự cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ ở những phụ nữ này có thể có nhiều thuận lợi hơn so với phụ nữ cao tuổi.

Khám tổng quát/ tái khám

Trước khi bắt đầu điều trị hoặc dùng lại HRT, cần hỏi kỹ bệnh sử cá nhân và gia đình. Khám thực thể (bao gồm khám vùng chậu và khám vú), cần được định hướng bởi bệnh sử và bởi các chống chỉ định và những cảnh báo về dùng thuốc. Trong thời gian điều trị, nên kiểm tra sức khỏe định kỳ với tần suất và tính chất thích hợp với từng phụ nữ. Nên hướng dẫn người phụ nữ những thay đổi nào ở vú cần được báo cho bác sỹ hoặc y tá (xem “Ung thư vú” dưới đây). Việc thăm khám, kể cả các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như chụp nhũ ảnh cần được thực hiện theo những chuẩn mực thực hành tầm soát hiện hành, được thay đổi theo nhu cầu lâm sàng của từng bệnh nhân.

Những tình trạng cần theo dõi

Nếu bất kỳ tình trạng nào sau đây đang hoặc đã xảy ra, và/hoặc trở nặng trong khi có thai hoặc trong khi điều trị hormon trước đây, bệnh nhân cần được theo dõi sát. Cũng nên tính đến khả năng các tình trạng này có thể tái diễn hoặc tăng nặng trong khi điều trị với Ovestin, đặc biệt là:

u cơ trơn (u xơ tử cung) hoặc lạc nội mạc tử cung

Cố các yếu tố nguy cơ hoặc bị các rối loạn thuyên tắc huyết khối (xem đoạn dưới)

Có yếu tố nguy cơ mắc khối u lệ thuộc estrogen, ví dụ có thân nhân di truyền bậc một bị ung thư vú

Tăng huyết áp

Bệnh gan (ví dụ u tuyến gan)

Tiểu đường có kèm hoặc không kèm tổn thương mạch máu

Sỏi mật

Đau nửa đầu hoặc đau đầu (nặng)

Lupus ban đỏ hệ thống

Tiền sử tăng sản nội mạc tử cung (xem đoạn dưới)

Động kinh

Hen suyễn

Xốp xơ tai

Lý do đế ngừng ngay điều tri:

Nên ngừng điều trị trong các trường hợp phát hiện thấy có mót chống chỉ định và trong các tình huống sau đây:

Vàng da hoặc suy giảm chức năng gan

Tăng huyết áp đáng kể

Mới biểu hiện đau đầu kiểu migraine

Mang thai

Tăng sản nội mạc tử cung và ung thư

Để ngăn ngừa kích thích nội mạc tử cung, không nên đặt quá 1 lần (0,5mg estriol) mỗi ngày cũng như không nên dùng liều tối đa kéo dài trong nhiều tuần. Một nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng điều trị estriol đường uống liều thấp kéo dài, nhưng không phải đặt âm đạo, có thề làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Nguy cơ này tăng cùng với thời gian điều trị và mất đi trong vòng một năm sau khi ngừng điều trị. Nguy cơ tăng cao này chủ yếu liên quan đến các khối u xâm lấn ít và biệt hóa cao. Hiện tượng ra máu âm đạo trong quá trình điều trị nên được chú ý thăm khám. Khuyên bệnh nhân liên hệ với bác sỹ nếu xuất hiện ra máu âm đạo.

Ung thư vú

Nhìn chung có bằng chứng gợi ý sự gia tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ dùng HRT kết hợp estrogen-progestagen và có thể kể cả HRT chỉ chứa estrogen, phụ thuộc vào thời gian dùng HRT.

Điều trị kết hợp estrogen-progestagen:

Một nghiên cứu ngẫu nhiên đối chứng giả dược (nghiên cứu chủ động vì sức khỏe phụ nữ (WHI), và các nghiên cứu dịch tễ học thống nhất về phát hiện sự gia tăng ung thư vú ở những phụ nữ dùng HRT kết hợp estrogen- progestagen sau khoảng 3 năm (xem mục “Tác dụng ngoại ý”).

Điều trị đơn chất estrogen:

Nghiên cứu WHI không thấy tăng nguy cơ ung thư vú ở những phụ nữ đã cắt tử cung sử dụng HRT chỉ chứa estrogen. Các nghiên cứu quan sát chủ yếu báo cáo có sự tăng nhẹ ung thư vú được chẩn đoán và sự tăng này thấp hơn đáng kề so với những người điều trị kết hợp estrogen-progestagen (xem mục “Tác dụng ngoại ý”).

Nguy cơ cao xuất hiện trong vài năm đầu dùng thuốc nhưng sẽ trờ về mức cơ bản sau vài năm ngừng điều trị (nhiều nhất là 5 năm).

HRT, đặc biệt trị liệu kết hợp estrogen-progestagen, làm tăng mật độ X quang vú, điều này có thể gây khó khăn cho chẩn đoán ung thư vú bằng tia xạ. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy khuynh hướng tăng mật độ X quang vú xuất hiện ở bệnh nhân sử dụng estriol thấp hơn so với bệnh nhân điều trị bằng các loại estrogen khác.

Không rõ liệu Ovestin có tiềm ẩn những nguy cơ như vậy không. Trong một nghiên cứu bệnh chứng dựa vào quần thể trên 3345 phụ nữ bị ung thư vú xâm lấn và 3454 phụ nữ đối chứng, không thấy estriol liên quan tới tăng nguy cơ ung thư vú, trái ngược với các estrogen khác. Tuy nhiên, ý nghĩa lâm sàng của kết quả này chưa được biết rõ. Do đó, điều quan trọng là cần thảo luận với bệnh nhân về nguy cơ ung thư vú và cân nhắc so sánh với các lợi ích đã biết của HRT.

Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng hiếm gặp hơn ung thư vú. Sử dụng kéo dài (ít nhất 5-10 năm) các thuốc HRT chỉ chứa estrogen gây tăng nhẹ nguy cơ ung thư buồng trứng (xem mục “Tác dụng ngoại ý”). Một vài nghiên cứu bao gồm nghiên cứu WHI cho thấy sử dụng kéo dài HRT dạng kết hợp cơ thể gây nguy cơ tương tự hoặc ít hơn (xem mục “Tác dụng ngoại ý”). Chưa rõ liệu sử dụng kéo dài estrogen có hoạt tính nhẹ (như Ovestin) có tạo ra sự khác biệt nào về nguy cơ so với các thuốc chỉ chứa estrogen khác.

Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch

HRT gây tăng 1,3-3 lần nguy cơ xuất hiện huyết khối tĩnh mạch (venous thromboembolism – VTE) như huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc thuyên tắc phổi. Biến cố này thường xuất hiện vào năm đầu dùng thuốc HRT (xem mục “Tác dụng ngoại ý”). Những nghiên cứu đã tiến hành chưa bao gồm Ovestin và do thiếu dữ liệu nên chưa rõ liệu Ovestin có gây nguy cơ tương tự.

Những bệnh nhân đã biết có chứng ưa huyết khối có nguy cơ cao VTE và HRT có thể làm tăng nguy cơ này. Do đố chống chỉ định HRT cho những bệnh nhân này (xem mục “Chống chỉ định”).

Nhìn chung những yếu tố nguy cơ đã được nhận biết của VTE bao gồm sử dụng estrogen, cao tuổi, phẫu thuật lớn, bất động kéo dài, thừa cân (chỉ số cơ thể >30 kg/m2, thai kỳ/sau khi sinh, lupus ban đỏ hệ thống (SLE), và ung thư. Chưa có sự đồng thuận về vai trò của giãn tĩnh mạch trong VTE.

Cũng như những bệnh nhân trong giai đoạn hậu phẫu, nên cân nhắc các biện pháp phòng ngừa để đề phòng VTE sau phẫu thuật. Nếu bất động kéo dài sau phẫu thuật có chuẩn bị thì nên tạm ngừng dùng HRT từ 4 đến 6 tuần trước khi phẫu thuật. Không nên sử dụng lại thuốc cho đến khi người phụ nữ vận động hoàn toàn bình thường.

ở những người phụ nữ không có tiền sử cá nhân bị VTE nhưng có yếu tố di truyền cấp độ 1 bị khuyết khối khi tuổi trẻ, có thề cần sàng lọc sau khi thăm khám cẩn thận các giới hạn cùa bệnh (sàng lọc chỉ xác định được một tỷ lệ khiếm khuyết của chứng ưa huyết khối). Nếu xác định được khiếm khuyết của chứng ưa huyết khối khác với chứng huyết khối của các thành viên trong trong gia đình hoặc khiếm khuyết là “nghiêm trọng” (như thiếu hụt antithrombin, protein s, hoặc protein c, hoặc kết hợp của nhiều khiếm khuyết) thì chống chỉ định dùng HRT

Cần cân nhắc thận trọng giữa lợi ích-nguy cơ của việc dùng HRT ở những phụ nữ đang điều trị thuốc chống đông máu.

Nên ngừng thuốc nếu VTE xuất hiện sau khi bắt đầu điều trị. Nên khuyên bệnh nhân liên hệ ngay với bác sĩ khi họ nhận thấy một triệu chứng huyết khối tiềm năng (ví dụ sưng đau cẳng chân, đau ngực đột ngột, khó thở).

Bênh động mạch vành (Coronary Artery Disease – CAD)

Không có bằng chứng từ các nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng về khả năng bảo vệ khỏi nhồi máu cơ tim ở những người phụ nữ bị hoặc không bị CAD được dùng HRT kết hợp estrogen-progestagen hoặc HRT chỉ chứa estrogen.

Điều trị kết hợp estrogen-progestagen

Nguy cơ tương đối CAD tăng nhẹ trong thời gian sử dụng HRT kết hợp estrogen- progestagen. Do nguy cơ tuyệt đối cơ bản của CAD phụ thuộc chủ yếu vào tuổi, số ca CAD bổ sung do sử dụng estrogen-progestagen ở phụ nữ khỏe mạnh rất thấp gần như mãn kinh, nhưng sẽ tăng lên cùng tuổi tăng.

Chỉ chứa estrogen

Dữ liệu ngẫu nhiên có đối chứng cho thấy nguy cơ CAD không tăng lên ở những bệnh nhân cắt tử cung điều trị với một mình estrogen.

Đột quỵ do thiếu máu cục bộ

Điều trị kết hợp estrogen-progestagen và chỉ một mình estrogen gây tăng 1,5 lần nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ. Nguy cơ tương đối không thay đổi với tuổi hoặc thời gian từ khi mãn kinh. Tuy nhiên, do nguy cơ cơ bản của đột quỵ chủ yếu phụ thuộc vào tuổi, nguy cơ chung của đột quỵ ở phụ nữ dùng HRT sẽ tăng lên cùng với tuổi (xem mục “Tác dụng ngoại ý”).

Các bệnh khác

Estrogen có thể gây giữ nước, do đó bệnh nhân rối loạn chức năng tim hoặc thận cần được theo dõi kỹ.

Estriol là một chất ức chế gonadotrophin yếu, không có các tác dụng có ý nghĩa khác trên hệ nội tiết.

Sử dụng HRT không cải thiện chức năng nhận thức. Có một số bằng chứng về tăng nguy cơ giảm trí nhớ trên phụ nữ bắt đầu dùng HRT dạng kết hợp liên tục hoặc chỉ chứa estrogen sau tuổi 65.

Estrogen không được sử dụng để tránh thai.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Không có thông tin gợi ý thấy Ovestin ảnh hưởng đến khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc của bệnh nhân

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B1

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Ovestin không được chỉ định trong khi có thai. Nếu có thai trong thời gian dùng thuốc Ovestin, phải ngừng điều trị ngay. Cho đến nay, kết quả của phần lớn các nghiên cứu dịch tễ học liên quan đến sự vô tình tiếp xúc với estrogen trên thai nhi cho thấy không có tác dụng gây quái thai hoặc nhiễm độc thai.

Sự sinh sản

Ovestin chỉ được dùng để điều trị cho phụ nữ sau mãn kinh (tự nhiên và do phẫu thuật).

Thời kỳ cho con bú:

Ovestin không được chỉ định trong thời gian cho con bú. Estriol được tiết vào sữa mẹ và có thể làm giảm sự tạo sữa

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Theo các tài liệu y văn và theo dõi khảo sát tính an toàn, những phản ứng bất lợi sau đây đã được báo cáo

Hệ cơ quan Tác dụng bất lợi*
Rối loạn dinh dưỡng và chuyển hóa Giữ nước
Rối loạn dạ dày-ruột Buồn nôn
Rối loạn vú và hệ sinh sản Đau và khó chịu ở vú

Rỉ huyết ở thời kỳ sau mãn kinh

Tiết dịch cổ tử cung

Rối loạn chung và tại nơi đặt thuốc Kích thích và ngứa tại chỗ đặt thuốc

*MedDRA phiên bản 15.1

Những phản ứng bất lợi này thường thoáng qua, nhưng cũng có thể báo hiệu dùng liều quá cao.

Những phản ứng bất lợi khác đã được báo cáo khi điều trị với estrogen/progestagen

Các khối u lệ thuộc estrogen lành tính và ác tính, như ung thư nội mạc tử cung và ung thư vú. Để biết thêm thông tin xin xem “Chống chỉ định” và “Thận trọng và Cảnh báo đặc biệt”

Bệnh túi mật

Các rối loạn ở da và dưới da: nám mặt, ban đỏ đa hình, ban đỏ dạng nốt, ban xuất huyết mạch

Có thể sa sút trí tuệ sau tuổi 65 (xem “Thận trọng và Cảnh báo đặc biệt”)

Ung thư vú

Đã có báo cáo tăng gấp 2 lần nguy cơ ung thư vú được chẩn đoán ở những phụ nữ điều trị kết hợp estrogen-progestagen trên 5 năm.

Bất kỳ nguy cơ gia tăng nào ở người điều trị với một mình estrogen đều thấp hơn đáng kể so với người điều trị kết hợp estrogen-progestagen.

Mức độ nguy cơ phụ thuộc thời gian dùng thuốc (xem mục “Thận trọng và Cảnh báo đặc biệt”)

Kết quả từ một nghiên cứu lớn nhất ngẫu nhiên có đối chứng giả dược (nghiên cứu WHI) và nghiên cứu dịch tễ học rộng lớn nhất (MWS) đã được trình bày.

Nghiên cứu một triệu phụ nữ – Ước lượng nguy cơ bổ sung ung thư vú sau 5 năm dùng thuốc

Độ tuổi (năm) Số ca bổ sung trên mỗi 1000 người chưa từng sử dụng HRT trong 5 năm* Tỷ lê nguy cơ# Số ca bổ sung trên mỗi 1000 người sử dụng HRT trong 5 năm (95%CI)
HRT chỉ chứa estrogen
50-65 9-12 1,2 1-2 (0-3)
Kết hợp estrogen-progestagen
50-65 9-12 1,7 6 (5-7)

#Tỷ lệ nguy cơ chung. Tỷ lệ nguy cơ này không thống nhất nhưng sẽ tăng cùng với tăng thời gian dùng thuốc.

* Lấy từ tỷ lệ mắc phải cơ bản ở các nước đã phát triển.

Nhưng nghiên cứu WHI ở Mỹ – nguy cơ bổ sung ung thư vú sau 5 năm dùng thuốc

Độ tuổi (năm) Số ca mắc mới trên mỗi 1000 phụ nữ dùng placebo trong 5 năm Tỷ lê nguy cơ & 95%CI Số ca bổ sung trên mỗi 1000 người sử dụng HRT trong 5 năm (95%CI)
CEE chỉ chứa estrogen
50-79 21 0,8 (0,7- 1,0) -4 (-6 – 0)
CEE+MPA estrogen & progestagent
50-79 17 1,2 (1,0-1,5) +4 (0 – 9)

Nghiên cứu WHI – Nguy cơ bồ sung VTE trong 5 năm dùng thuốc

Khi phân tích được giới hạn cho những người không sử dụng HRT trước nghiên cứu không có nguy cơ tăng rõ ràng trong 5 năm điều trị đầu tiên: sau 5 năm nguy cơ cao hơn ở những người không sử dụng

Nghiên cứu WHI ở những phụ nữ không còn tử cung, không thấy tăng nguy cơ ung thư vú.

Ung thư buồng trứng

Sử dụng kéo dài HRT chỉ chứa estrogen và kết hợp estrogen-progestagen gây tăng nhẹ nguy cơ ung thư buồng trứng. Trong một nghiên cứu một triệu phụ nữ 5 năm dùng HRT có thêm 1 trường hợp trong mỗi 2500 người sử dụng.

Nguy cơ huyết khối tĩnh mạch

HRT gây tăng gấp 1,3-3 lần nguy cơ tương đối huyết khối tĩnh mạch (VTE), như huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc tắc mạch phổi. Biến cố này thường xuất hiện trong năm đầu tiên dùng thuốc (xem mục “Thận trọng và Cảnh báo đặc biệt”). Kết quả nghiên cứu WHI được trình bày dưới đây

Nghiên cứu WHI – Nguy cơ bồ sung VTE trong 5 năm dùng thuốc

Độ tuổi (năm) Số ca mắc mới trên mỗi 1000 phụ nữ dùng giả dược trong 5 năm Tỷ lê nguy cơ va 95% Cl Số ca bổ sung trên mỗi 1000 người dùng HRT
Chỉ chứa estrogen* đường uống
50-59 7 1,2 (0,6-2,4) 1 (-3-10)
Kết hợp estrogen-progestagen, đường uống
50-59 4 2,3 (1,2-4,3) 5(1 -13)

* Nghiên cứu ở phụ nữ không còn tử cung

Nguy cơ tương đối đột quỵ do thiếu máu cục bộ tăng gấp 1,5 lần ở những người dùng một mình estrogen và điều trị kết hợp estrogen-progestagen. Nguy cơ đột quỵ do xuất huyết không tăng trong thời gian dùng HRT.

Nguy cơ tương đối không phụ thuộc vào tuổi hoặc thời gian dùng thuốc, nhưng nguy cơ ban đầu phụ thuộc rất nhiều vào tuổi, nhìn chung nguy cơ đột quỵ ở phụ nữ dùng HRT sẽ tăng cùng với tuổi, xem mục “Thận trọng và Cảnh báo đặc biệt”).

Kết hợp nghiên cứu WHI – nguy cơ bổ sung đột quỵ do thiếu máu cục bộ* trong 5 năm dùng thuốc

Độ tuổi (năm) Số ca mắc mới trên mỗi 1000 phụ nữ dùng giả dược trong 5 năm Tỷ lê nguy cơ và 95%Cl Số ca bổ sung trên mỗi 1000 phụ nữ dùng HRT trong 5 năm
50-59 8 1,3 (1,1-1,6) 3 (1-5)

*không phân biệt đột quỵ do thiếu máu cục bộ và xuất huyết

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Buồn nôn và nôn là phản ứng đầu tiên của liệu pháp estrogen ở một số người, nhưng tác dụng này có thể hết theo thời gian và có thể giảm thiểu bằng cách uống estrogen cùng thức ăn hoặc ngay trước khi đi ngủ.

Vú có thể căng đau và phù, nhưng đôi khi triệu chứng này giảm khi giảm liều.

Nếu tăng huyết áp hoặc có bất cứ một triệu chứng nào của bệnh huyết khối nghẽn mạch, vàng da ứ mật, trầm cảm nặng hoặc đau nửa đầu dai dang nghiêm trọng hoặc tái phát, phải ngừng estrogen. Có thể cần bo sung acid folic nếu có thiếu hụt folat.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Không có các ví dụ tương tác giữa Ovestin và các thuốc khác được báo cáo trong thực hành lâm sàng. Mặc dù dữ liệu còn hạn chế, tương tác giữa Ovestin và những thuốc khác có thể xảy ra. Đã ghi nhận những tương tác sau đây khi sử dụng thuốc tránh thai kết hợp dạng uống và những tương tác này có thể liên quan tới Ovestin.

Chuyển hóa các estrogen có thể tăng khi dùng đồng thời với các chất đã biết gây cảm ứng các enzyme chuyển hóa thuốc, đặc biệt là các enzyme cytochrome P450, như thuốc chống co giật (như phenobarbital, phenytoin, Carbamazepin), và các thuốc chống nhiễm khuẩn (như rifampicin, rifabutin, nevirapine efavizenz)

Ritonavir và nelfinavir, tuy là những chất ức chế mạnh, nhưng lại có tính chất gây cảm ứng khi được dùng đồng thời với các hormon steroid.

Các chế phẩm chửa thảo dược của thánh John (Hypericum Perforatum) có thể gây cảm ứng chuyển hóa của các estrogen.

Về mặt lâm sàng, tăng chuyền hóa các estrogen có thể dẫn đến giảm tác dụng của Ovestin và thay đổi đặc tính xuất huyết tử cung.

4.9 Quá liều và xử trí:

Độc tính cấp của estriol trên động vật rất thấp. Do đó, các triệu chứng độc tính có thể không xảy ra khi uống cùng một lúc một vài viên thuốc. Trong trường hợp quá liều cấp tính, buồn nôn, nôn và ra máu âm đạo ở phụ nữ có thể xảy ra. Chưa rõ thuốc giải độc đặc hiệu. Điều trị triệu chứng khi cần.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm dược lý điều trị: estrogen tự nhiên và bán tổng hợp.

Mã ATC: G03CA04

Cơ chế tác dụng

Ovestin chứa estriol, một hormon nữ tự nhiên. Khác với các estrogen khác, estriol tác dụng ngắn do nó chỉ có thời gian lưu ngắn trong nhân của các tế bào nội mạc tử cung. Nó thay thế cho sự sản xuất estrogen đã mất ở phụ nữ mãn kinh và làm giảm các triệu chứng mãn kinh. Estriol đặc biệt hiệu quả trong điều trị các triệu chứng niệu-sinh dục. Trong trường hợp teo đường niệu-sinh dục dưới, estriol tạo ra sự bình thường hóa biểu mô niệu-sinh dục và giúp hồi phục hệ vi sinh vật bình thường và pH sinh lý ở âm đạo. Kết quả là, thuốc làm tăng sức đề kháng của tế bào biểu mô niệu-sinh dục đối với nhiễm khuẩn và viêm, làm giảm khó chịu ở âm đạo như giao hợp đau, khô, ngứa, nhiễm khuẩn âm đạo và đường niệu, khó chịu khi đi tiểu và tiều tiện mất tự chủ nhẹ.

Thông tin từ nghiên cứu lâm sàng

Giảm các triệu chứng mãn kinh trong những tuần đầu điều trị.

Hiếm có báo cáo về ra máu âm đạo sau khi điều trị bằng Ovestin

Cơ chế tác dụng:

Estriol hay E3 là hormone nữ tự nhiên trong cơ thể, được dùng điều trị các rối loạn do thiếu estrogène ở giai đoạn ngay trước khi mãn kinh và sau mãn kinh. Estriol hữu hiệu trong điều trị rối loạn tiết niệu sinh dục. Khi teo âm đạo, Estriol giúp phục hồi biểu mô, hệ vi sinh vật và pH acide ở âm đạo, nhờ vậy bảo vệ âm đạo không bị viêm nhiễm.

Khác với Estrone (E1) và Estradiol (E2), Estriol (Ovestin) tác động ngắn, không kích thích tăng sinh nội mạc tử cung khi dùng liều duy nhất mỗi ngày. Do đó khi dùng Ovestin, không cần dùng thêm progestogène và như thế không bị xuất huyết âm đạo.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu

Đặt estriol âm đạo đảm bảo cho hiệu lực tối ưu tại chỗ. Estriol cũng được hấp thu vào tuần hoàn chung, thể hiện bởi tăng nhanh nồng độ của estriol ở dạng không kết hợp trong huyết tương.

Phân bố

Nồng độ đỉnh của estriol không liên hợp trong huyết tương đạt được trong vòng 1-2 giờ sau khi đặt thuốc. Sau khi đặt 0,5 mg estriol vào âm đạo, nồng độ tối đa (Cmax) khoảng 100 mcg/ml, nồng độ tối thiểu (Cmin) khoảng 25 mcg/ml và nồng độ trung bình (Caverage) khoảng 70 mcg/ml. Sau 3 tuần đặt âm đạo 0,5mg estriol hàng ngày, nồng độ trung bình giảm xuống còn 40mcg/ml.

Chuyển hóa sinh học

Hầu hết (90%) estriol liên kết với albumin huyết tương và khác với các estrogen khác, estriol hầu như không liên kết với globulin gắn hormon sinh dục. Chuyển hóa của estrlol chủ yếu bao gồm sự liên hợp và khử liên hợp trong suốt chu trình tuần hoàn gan – ruột.

Thải trừ

Sản phẩm cuối cùng của chuyển hóa estrlol được bài tiết chủ yếu qua đường niệu ở dạng liên hợp. Chỉ một phần nhỏ (2%) được bài tiết qua phân, chủ yếu dưới dạng estriol không liên hợp

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Witepsol S-58

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản ở 2-25°C. Bảo quản trong bao bì gốc để tránh ánh sáng và ẩm ướt

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam