Thuốc Sindroxocin là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Sindroxocin (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Doxorubicin
Phân loại: Thuốc chống ung thư. Nhóm anthracyclin
Nhóm pháp lý: Thuốc kể đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01DB01.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: Sindroxocin
Hãng sản xuất : S.C.Sindan-Pharma SRL.
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Dung dịch đậm đặc để pha dung dịch truyền 2mg/ml
Hộp 1 lọ x 5ml, hộp 1 lọ x 25ml, hộp 1 lọ x 50ml, hộp 1 lọ x 100ml
Thuốc tham khảo:
| SINDROXOCIN | ||
| Mỗi ml dung dịch đậm đặc có chứa: | ||
| Doxorubicin | …………………………. | 2 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Là thuốc chống phân bào và độc tế bào. Doxorubicin được sử dụng hiệu quả để làm giảm sự phát triển của nhiều loại khối u như bệnh bạch cầu cấp, ung thư hạch bạch huyết, sacom mô mềm, u xương ác tính (sarcom xương), các ung thư ác tính ở trẻ em và khối u đặc ở người lớn; đặc biệt là ung thư phổi và ung thư vú. Doxorubicin thường được sử dụng phối hợp với các hóa trị liệu bằng các thuốc độc tế bào khác. Doxorubicin không thể sử dụng như là một thuốc kháng sinh.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Doxurubicin kích ứng mô rất mạnh bởi vậy không được dùng để tiêm bắp hoặc tiêm dưới da, chỉ được dùng theo đường tĩnh mạch. Pha thuốc thành dung dịch để sử dụng có nồng độ thuốc là 2 mg/ ml, có thể dùng dung môi là dung dịch natri clorid 0,9% hoặc dung dịch glucose 5%, lượng dung môi tùy thuộc vào chế phấm cụ thể: 5, 10, 25, 50 hay 75 ml dung môi tương ứng với lọ chứa 10, 20, 50, 100 hay 150 mg doxorubicin. Khi cho dung dịch hòa tan, thuốc sẽ tan nhanh trong 30 giây, chỉ cần lắc nhẹ, không cần dốc ngược lọ. Cần đeo găng tay cao su khi pha chế thuốc để tiêm. Tiêm tĩnh mạch là đường dùng phố biến nhất và nên tiêm vào tĩnh mạch lớn. Thuốc đã pha cho qua một dây truyền tĩnh mạch nhỏ giọt trong 2 – 3 phút, như vậy sẽ làm giảm tối đa nguy cơ huyết khối hoặc thuốc thoát ra ngoài tĩnh mạch gây hoại tử. Tiêm động mạch đã được dùng nhưng kỹ thuật này rất nguy hiểm và không được khuyến cáo.
Bơm nhỏ giọt vào bàng quang ngày càng được dùng nhiều để điều trị các u nhú bàng quang và carcinom tại chỗ, nhưng không được dùng để điều trị các u đã xâm lấn vào thành bàng quang. Nồng độ doxorubicin trong bàng quang phải là 50 mg/50 ml (1 mg/ml). Để tránh thuốc bị pha loãng do nước tiểu, người bệnh không được uống bất cứ dịch nào 12 giờ trước khi bơm nhỏ giọt bàng quang. Dung dịch phải được giữ 1 giờ trong bàng quang, trong thời gian đó phải hướng dẫn người bệnh cứ 15 phút lại thay đối tư thế (nằm nghiêng bên phải, bên trái) và cuối cùng phải đái hết.
Liều dùng:
Tổng liều doxorubicin trong mỗi chu kỳ điều trị có thể thay đổi tùy vào việc sử dụng trong trong một phác đồ điều trị cụ thể (ví dụ: sử dụng đơn độc hay phối hợp với các thuốc độc tế bào khác) và theo chỉ định.
Dung dịch truyền được đưa vào thông qua ống truyền tĩnh mạch trong khoảng thời gian không ít hơn 3 phút và không quá 10 phút mỗi lần truyền. Kỹ thuật này giảm thiểu nguy cơ thuyên tắc mạch hoặc thoát mạch quanh tĩnh mạch, những phản ứng có thể dẫn đến viêm tế bào nặng, phồng rộp và hoại tử mô tại chỗ. Tiêm tĩnh mạch trực tiếp không đuợc khuyến cáo do nguy cơ thoát mạch, có thể xảy ra ngay cả khi thấy máu được hút lên đù khi chọc hút bằng kim.
Liều thường được tính toán dựa trên diện tích da. Khi sử dụng đơn độc, liều khởi đầu tiểu chuẩn của doxorubicin trong mỗi chu kỳ điều trị ở người lớn là 60-75mg/m2 diện tích da cơ thể. Tổng liều khởi đầu của mỗi chu kì có thể dùng như 1 liều duy nhất hoặc chia ra trong 3 ngày liên tiếp hoặc dùng ngày thứ 1 và 8. Do điều kiện hồi phục từ độc tính của thuốc gây ra (đặc biệt là ức chế tủy xương và viêm miệng), mỗi chu kì điều trị sau 3 đến 4 tuần. Nếu sử dụng kết hợp với các thuốc chống ung thư khác có độc tính chéo cần giảm liều doxorubicin xuống còn 30-60mg/m2.
Nếu liều lượng tính toán dựa trên trọng lượng cơ thể, nó đã chứng minh đuợc doxorubicin liều duy nhất mỗi 3 tuân làm giảm đáng kể độc tính viêm niêm mạc. Tuy nhiên, vẫn còn một số tin rằng chia liều trong ba ngày liên tiếp (0,4-0,8mg/kg hoặc 20-25mg/rn mỗi ngày) cho hiệu quả cao hơn mặc dù tăng độc tính hơn. Nếu liều lượng được tính trên cơ sở trọng lượng cơ thể, liều 1,2-2,4 mg / kg nên được cho là một liều duy nhất mỗi ba tuần.
Việc sử dụng doxorubicin theo phác đồ hàng tuần được chứng minh có hiệu quả như một liều duy nhất trong 3 tuần. Liều lượng khuyến cáo là 20mg/m2 mỗi tuần, mặc dù thể hiện tác dụng ở liều 16 mg/m2. Sử dụng liều hàng tuần làm giảm độc tính trên tim.
Nên giảm liều với đối tượng trẻ em, người béo phì, người già.
Liều khỏi đầu thấp hơn hoặc thời gian điều trị kéo dài hơn với các bệnh nhân điều trị nặng hoặc bệnh nhân ung thư tủy xương.
Rối loạn chức năng gan
Trong trường hợp giảm chức năng gan, nên giảm liều theo bảng sau:
| Bilirubin huyết thanh | Liều khuyến cáo |
| 12-30 mcg/1 | 1/2 liều bình thường |
| > 30 mcg/1 | 1/4 liều bình thường |
Sindroxocin được chống chỉ định ở bệnh nhân có rối loạn chức năng gan nặng.
4.3. Chống chỉ định:
Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ tá dược nào.
Quá mẫn với các thuốc nhóm anthracyclins khác hoặc với nhóm anthracendiones.
Úc chế tủy xương kéo dài
Suy gan nặng
Suy cơ tim nặng
Nhồi máu cơ tim
Rối loạn nhịp tim nặng
Người bệnh đã điều trị bang doxorubicin hoặc daunorubicin, epirubicin, idarubicin, và / hoặc các anthracycline và anthracenedione khác với đủ liều tích lũy
4.4 Thận trọng:
Sindroxocin nên đưọc sử dụng dưới sự giám sát của một bác sĩ có kinh nghiệm trong việc sử dụng thuốc hóa trị liệu ung thư.
Bệnh nhân cần phục hồi khỏi các độc tính cấp của đợt điều trị thuốc gây độc tế bào trước đó (như viêm miệng, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, và nhiễm trùng toàn thân) trước khi bắt đầu điều trị bằng Sindroxocin. Độ thanh thải của doxorubicin với các bệnh nhân béo phì giảm (tức là > 130% trọng lượng thông thường).
Chức năng tim
Độc tính trên tim là một nguy cơ của việc điều trị bằng anthracyclin, có thể được biến cố sớm (cấp tính) hoặc muộn (chậm).
Các biến cố sớm (cấp tính): Độc tính trên tim biêu hiện sớm của Sindroxocin bao gồm chủ yếu là nhịp xoang nhanh và/hoặc ECG bất thường như thay đôi sóng ST-T không đặc hiệu. Loạn nhịp nhanh, bao gồm các co thắt thất sớm và nhịp nhanh thất, nhịp tim chậm, cũng như ức chế dẫn truyền nhĩ thất và block bó nhánh cũng đã được báo cáo.
Nhũng tác động này thường không dự đoán được mức độ nhanh chậm tiếp theo của tim, đây không phải là cân nhắc cho việc ngùng sử dụng doxorubucin.
Các biến cố muộn (chậm): Độc tính muộn trên tim thường phát triển ở giai đoạn cuối của liệu trình điều trị Sindroxocin hoặc trong vòng 2 đến 3 tháng sau khi kết thúc điều trị, nhung cũng đã có báo cáo về các biển cố muộn hơn, nhiều tháng đến nhiều năm sau khi hoàn thành điều trị. Bệnh cơ tim biểu hiện chậm được thể hiện bởi giảm phân số tống máu thất trái (LVEF) và/hoặc các dấu hiệu và triệu chứng của suy tim sung huyết (congestive heart failure – CHF) như khó thở, phù phổi, phù chi, tim và gan to, thiểu niệu, cổ trướng, tràn dịch màng phổi và nhịp ngựa phi. Các tác dụng bán cấp như viêm màng ngoài tim/viêm cơ tim cũng đã được báo cáo. CHF đe dọa tính mạng là biểu hiện nghiêm trọng nhất của bệnh cơ tim do anthracyclin gây ra và thể hiện độc tính giới hạn liều tích lũy của thuốc.
Chức năng tim cần được đánh giá trước khi bệnh nhân điều trị bằng Sindroxocin và phải được theo dõi trong suốt liệu trình để giảm thiểu nguy cơ suy tim nặng. Nguy cơ có thể giảm bằng cách giám sát thường xuyên LVEF trong quá trình điều trị, với việc ngừng ngay Sindroxocin khi có dấu hiệu đầu tiên của suy giảm chức năng. Các phưong pháp định lượng phù hợp để đánh giá lại chức năng tim (đánh giá LVEF) bao gồm chụp mạch phóng xạ hạt nhân (multi-gated radionuclide angiography – MUGA) hoặc siêu âm tim (echocardiography – ECHO). Khuyến cáo đánh giá tim trước khi điều trị bằng điện tim đồ (ECG) và thực hiện chụp mạch phóng xạ hạt nhân (MUGA scan) hoặc siêu âm tim (ECHO), đặc biệt là ở những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ gia tăng độc tính trên tỉm. cần thực hiện lại MUGA hoặc ECHO để xác định LVEF, đặc biệt khi sử dụng những liều anthracyclin cao hơn, liều tích lũy. Các kỹ thuật được sử dụng để đánh giá phải nhất quán trong suốt quá trình theo dõi.
Xác suất của việc phát triển suy tim xung huyết, ước tính khoảng 1% đến 2% ở liều tích lũy là 300 mg/m2 tăng lên từ từ đến tổng liều tích lũy là 450-550 mg/m2. Sau liều đó, nguy cơ phát triển suy tim tăng vọt và khuyến cáo không vưọt quá liều tích lũy tối đa 550 mg/m2.
Các yếu tố nguy cơ gây độc trên tim gồm bệnh tim biểu hiện triệu chứng và không biểu hiện triệu chứng, xạ trị trước hoặc đồng thời vào vùng trung thất/màng ngoài tim, điều trị trước đó với một thuốc nhóm anthracyclin hoặc anthracenedione khác và các thuốc có khả năng ức chế sự co bóp của tim hoặc các thuốc gây độc trên tim (như trastuzumab). Không nên sử dụng các anthracyclin bao gồm cả doxorubicin kết hợp với các tác nhản gây độc tim khác trừ khi theo dõi chặt chẽ các chức năng tim của bệnh nhân. Bệnh nhân sử dụng các anthracyclin sau khi ngừng điều trị với các thuốc gây độc trên tim khác, đặc biệt là nhũng thuốc có thời gian bán thải dài như trastuzuinab cũng có nguy cơ gây độc tính trên tim. Thời gian bán thải của trastuzumab là 28-38 ngày và có thể tồn tại trong vòng tuần hoàn đến 27 tuần. Do đó nên bắt đầu điều trị bằng anthracyclin ít nhất sau 27 tuân khi ngừng sử dụng trastuzumab. Nêu anthracyclin được điều trị trước khoảng thời gian này nên theo dõi cẩn thận chức năng tim.
Cần chú ý theo dõi chức năng tim ở những bệnh nhân dùng liều cao tích lũy hoặc những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên độc tính với tim có thể xảy ra ở liều tích lũy thấp hoặc không có các yếu tố nguy cơ.
Trẻ em và trẻ vị thành niên có nguy cơ cao phát triển độc tính chậm trên tim sau khi dùng doxorubicin. Phụ nữ có nguy cơ cao hơn nam giới, cần đánh giá theo dõi chức năng tim định kì.
Doxorubicin và các thuốc nhóm anthracyclin hoặc anthracenedion làm tăng độc tính của nhau.
Độc tính trên huyết học
Sindroxocin có thể gây ra ức chế tủy xương.
Cần đánh giá các thông số huyết học trước và giữa mỗi chu kỳ điều trị với Sindroxocin, bao gồm số lượng và công thức bạch cầu. Giảm bạch cầu có hồi phục, phụ thuộc vào liều, và/hoặc giảm bạch cầu hạt (bạch cầu trung tính) là biểu hiện chủ yếu của độc tính trên huyết học của Sindroxocin và là độc tính giới hạn liều cấp tính thường gặp nhất của thuốc này. Giảm bạch cầu và giảm bạch cầu trung tính nói chung đạt đáy thấp nhất trong khoảng từ ngày 10 đến ngày 14 sau khi dùng thuốc; đến ngày 21, số lượng bạch cầu/bạch cầu trung tính trở lại giá trị bình thường trong hầu hết các trường hợp. Giảm tiểu cầu và thiếu máu cũng có thể xảy ra. Hậu quả lâm sàng của suy tủy nặng bao gồm sốt, nhiễm trùng, nhiễm trùng nặng/ nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm trùng, xuất huyết, tình trạng thiếu oxy mô hoặc tử vong.
Bệnh bạch cầu thứ phát
Bệnh bạch cầu thứ phát, có hoặc không có một giai đoạn tiền triệu, đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị với các anthracyclins. Bệnh bạch cầu thứ phát thường gặp hơn khi các loại thuốc này được dùng kết hợp với các tác nhân chống ung thư gây tổn thưong DNA. khi các bệnh nhân đã được điều trị trước rất nhiều với các thuốc gây độc tế bào hoặc khi liều của các anthracyclins đã đưọc tăng lên. Những trường hợp bệnh bạch cầu này có thể có giai đoạn ủ bệnh từ 1-3 năm.
Hội chứng ly giải khối u
Sindroxocin có thể gây tăng uric máu như một hệ quả của sự gia tăng quá trình dị hóa purine, hiện tượng xảy ra cùng với việc ly giải nhanh tế bào ung thư do thuốc (hội chứng ly giải khối u). cần đánh giá nồng độ acid uric trong máu. kali, calcium phosphate và creatinin sau khi bắt đầu điều trị. Hydrat hóa (tăng bù nước), kiêm hóa nước tiểu, và dự phòng bằng allopurinol để phòng ngừa tăng uric máu có thể giảm thiểu các biến chứng có thể có của hội chứng ly giải khối u.
Khả năng gây ung thư, gây đột biến và giảm khả năng sinh sản
Sindroxocin là chất có độc tính trên gen và gây đột biển trong các thử nghiệm in vitro và in vivo và có thể gây vô sinh.
Ở phụ nữ, doxorubicin có khả năng gây vô sinh trong thời gian dùng thuốc. Doxorubicin có thể gây vô kinh. Sự rụng trứng và kinh nguyệt có thể xuất hiện lại sau khi ngừng sử dụng thuốc, mặc dù mãn kinh sớm có thể xảy ra.
Doxorubicin có thể gây đột biến và tổn thương nhiễm sắc thể trong tinh trùng người. Không có tinh trùng trong tinh dịch có thể là vĩnh viễn, mặc dù có một số báo cáo về số lượng tinh trùng trở về mức bình thường trong một số trường hợp. Điều này có thể xảy ra sau vài năm kết thúc điều trị với doxorubicin, nam giới khi điều trị với doxorubicin nên có các biện pháp tránh thai hiệu quả.
Chức năng gan
Con đường thải trừ chính của Sindroxocin là hệ gan mật. Bilirubin toàn phần trong huyết thanh cần được đánh giá trước và trong khi điều trị bằng Sindroxocin. Bệnh nhân có bilirubin cao có thể thanh thải thuốc chậm hơn với sự gia tăng độc tính chung. Khuyến cáo dùng liều thấp hơn ở nhũng bệnh nhân này. Nhũng bệnh nhân suy gan nặng không nên dùng Sindroxocin.
Khác
Doxorubicin có thể làm tăng độc tính của các liệu pháp chống ung thư khác. Đã có báo cáo về việc làm tăng viêm bàng quang xuất huyết cấp tính do cyclophosphamide gây ra và tăng độc tính trên gan của 6-mercaptopurine. Các độc tố do bức xạ gây ra (cơ tim, niêm mạc, da và gan). Cùng với các tác nhân gây độc tế bào khác, viêm tắc tĩnh mạch và hiện tượng huyết khối bao gồm thuyên tắc động mạch phổi (một số trường hợp đã tử vong) được báo cáo ngẫu nhiên với doxorubicin.
Các vắc-xin
Việc sử dụng các vắc-xin sống hoặc giảm động lực ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch bởi các thuốc háo trị liệu như doxorubicin có thể dẫn đến nhiễm khuẩn nghiêm trọng hoặc tử vong. Không khuyến cáo sử dụng; vắc-xin sống ở bệnh nhân sử dụng doxorubicin, vắc-xin chết hoặc bất hoạt có thể được sử dụng, tuy nhiên có thể giảm đáp ứng với vắc-xin.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Chưa có đánh giá về ảnh hưỏng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: D
US FDA pregnancy category: D
Thời kỳ mang thai:
Doxorubicin gây ảnh hưởng có hại trên phụ nữ có thai/thai nhi/trẻ sơ sinh.
Do khả năng gây độc trên thai nhi nên doxorubicin không sử dụng cho phụ nữ mang thai trừ trường hợp thật sự cần thiết. Nếu phụ nữ sử dụng thuốc trong thời kì mang thai hoặc có thai trong khi dùng thuốc thì nên được cảnh báo về nguy cơ tiềm ẩn đối với thai nhi. Phụ nữ có khả năng sinh sản nên sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả trong khi sử dụng thuốc
Thời kỳ cho con bú:
Doxorubicin được tiết vào sữa mẹ. Không nên cho con bú khi đang điều trị với doxorubicin.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Các phản ứng bất lợi được báo cáo khi sử dụng liệu pháp điều trị với doxorubicin được liệt kê dưới đây theo hệ thống MedDRA và theo tần suất.
Tần suất được định nghĩa là:
Rất thường gặp (ADR >1/10);
Thương gạp (1/100 < ADR < 1/10);
Ít gặp (l/1000 < ADR < 1/100);
Hiếm gặp (1/10000 < ADR < 1/1000);
Rất hiếm gặp (ADR <1/10000);
Chưa rõ (không thể ước tính được từ dữ liệu có sẵn).
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng
Rất thường gặp Nhiễm khuẩn
Thường gặp Nhiễm khuẩn huyết
U lành tính, u ác tính và không xác định (bao gồm u nang và polyp)
Chưa rõ Bệnh bạch cầu lympho cấp tính, bệnh bạch cầu myeloid cấp tính
Rối loạn máu và hệ bạch huyết
Rất thường gặp Giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu, giảm tiểu cầu
Rối loạn hệ thống miễn dịch
Chưa rõ Phản ứng phản vệ
Các rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
Rất thường gặp Chán ăn
Chưa rõ Mất nước, tăng acid uric máu
Các rối loạn mắt
Thường gặp Viêm kết mạc
Chưa rõ Viêm giác mạc, tăng tiết nước mắt
Các rối loạn trên tim
Thường gặp Suy tim sung huyết, nhịp xoang nhanh
Chưa rõ Block nhĩ thất, nhịp tim nhanh, block nhánh
Các rối loạn mạch máu
Ít gặp Thuyên tắc mạch
Chưa rõ Sốc. xuất huyết, viêm tĩnh mạch huyết khối, viêm tĩnh mạch, cơn bốc hỏa
Rối loạn hệ tiêu hóa
Rất thường gặp Viêm niêm mạc. viêm miệng, tiêu chảy, nôn. buồn nôn
Thường gặp Viêm thực quản, đau bụng
Chưa rõ Xuất huyết tiêu hóa. viêm loét dạ dày, viêm đại tràng, biển đôi niêm mạc
Các rối loạn da và mô dưới da
Rất thường gặp Hội chứng vết ban đỏ mất cảm giác ở lòng bàn tay-bàn chân, rụng tóc
Thường gặp Mề đay, phát ban. tăng sắc tố ở da và móng tay
Chưa rõ Tăng nhạy cảm với ánh sáng, hiện tượng Recal. ngứa, rối loạn da
Các rối loạn thận và tiết niệu
Chưa rõ Màu sẳc nước tiểu bất thường (a)
Các rối loạn sinh sản và rối loạn vú
Chưa rõ Vô kinh, vô sinh do không có tinh trùng, tinh trùng thấp
Các rối loạn toàn thân và tình trạng tại vị trí dùng thuốc
Rất thường gặp sốt, suy nhược, ớn lạnh
Thường gặp Phản ứng tại chồ tiêm
Chưa rõ Khó chịu
Nghiên cứu
Rất thường gặp Giảm phân suất tống máu. điện tâm đồ bát thường, bất thường enzym transaminase, tăng cân (b)
a Khoảng 1 đến 2 ngày sau khi sử dụng thuốc.
b Báo cáo ở những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn dầu sử dụng liệu pháp bổ trợ có chứa doxorubicin (thứ nghiệm NSABP B-15).
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Doxorubicin là cơ chất chính của cytochrom P450 CYP3A4, CYP2A6 và P-glycoprotein (P-gp). Đã có báo cáo về tương tác lâm sàng với các chất ức chế CYP3A4, CYP2A6 và P-gp (ví dụ verapamil), dẫn tới tăng nồng độ và tăng tác dụng lâm sàng của doxorubicin. Các chất cảm ứng CYP3A4 (ví dụ: phenobarbital, phenytoin, St. John’s Wort) và các chất cảm ứng P-gp có thể làm giảm nồng độ doxorubicin.
Việc sử dụng cyclosporine với doxorubicin có thể làm tăng AUC cho cả doxorubicin và doxorubicinol, có thể là do giảm thải trừ doxorubicin và giảm chuyển hóa doxorubicinol. Các báo cáo cũng chỉ ra việc sử dụng cyclosporine với doxorubicin dẫn đến độc tính huyết học tăng lên và kéo dài hơn so với sử dụng doxorubicin đơn độc. Quan sát thấy tình trạng hôn mê và co giật khi sử dụng phối hợp hai thuốc.
Sử dụng cyclosporin liều cao trong huyết thanh làm tăng nồng độ và bệnh tủy xương của doxorubicin. Doxorubicin thường được sử dụng phối hợp với các thuốc độc tế bào khác. Các độc tính có thể xảy ra đặc biệt trên tủy xương/ huyết học và tiêu hóa. Việc sử dụng doxorubicin tổng hóa trị liệu với các thuốc khác có thể làm tăng độc tính trên tim, cũng như kết hợp với các thuốc tác động trên tim (như thuốc chẹn kênh calci), cần giám sát chức năng tim trong quá trình điều trị. Các thay đôi về chức năng gan gây ra bởi liệu pháp kết hợp có thể anh hưởng tới chuyên hóa, dược động học, hiệu quả điều trị hoặc độc tính của doxorubicin. Paclitaxel có thể làm tăng nồng độ trong huyết tương của doxorubicin và các chất chuyển hóa của nó khi đưọc sử dụng trước doxorubicin. Các dữ liệu cũng cho thấy sự gia tăng nhẹ khi sử dụng doxorubicin trước paclitaxel.
Theo một nghiên cứu lâm sàng, AUC của doxorubicin tăng 21% khi sử dụng cùng với sorafenib 400 mg hai lần mỗi ngày. Chưa rõ về ý nghĩa lâm sàng của việc phát hiện này
4.9 Quá liều và xử trí:
Liều dùng duy nhất 250mg và 500mg đã gây tử vong. Sự quá liều có thể gây thoái hóa cấp cơ tim trong vòng 24 giờ và gây suy tủy nặng (chủ yếu là giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu), ảnh hưởng này mạnh nhất sau 10-15 ngày sử dụng.
Suy tim có thể xảy ra chậm (6 tháng sau khi dùng thuốc quá liều), cần điều trị hỗ trợ cho bệnh nhân trong thời gian này và nên sử dụng các biện pháp như truyền máu.
Quá liều cấp tính với doxorubicin sẽ dẫn đến các độc tính trên đường tiêu hóa (chủ yếu là viêm niêm mạc). Điều này thường xuất hiện sớm sau khi dùng thuốc nhưng hầu hết bệnh nhân sẽ hồi phục trong vòng ba tuần. Suy tim có thể xuất hiện chậm hơn sau 6 tháng khi quá liều. Bệnh nhân cần được theo dõi thận trọng và phát hiện các dấu hiệu bệnh tim, được điều trị như thông thường.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Mã ATC: L01DB01.
Nhóm dược lý điều trị: nhóm anthracyclines và các chất liên quan.
Doxorubicin là một tác nhân chống ung thư. Các tế bào ung thư có thể bị tiểu diệt do sự thay đổi tổng hợp acid nucleic do thuốc gây ra mặc dù cơ vẫn chưa biết rõ cơ chế chính.
Cơ chế của thuốc có thể là:
Xen kẽ vào cấu trúc DNA (dẫn đến ức chế tổng hợp DNA, RNA và protein), hình thành các gốc tự do và superoxit phản ứng cao, phức chelat với các cation hóa trị hai, ức chế bom Na-K+-ATPase và liên kết của doxorubicin với một số thành phần cố định của màng tế bào (đặc biệt là lipid màng, spectrin, cardlolipin). Nông độ thuốc cao nhất đạt được trong phổi, gan, lách, thận, ruột non và tủy xương. Doxorubicin không qua được hàng rào máu não
Cơ chế tác dụng:
Hoạt tính sinh học của doxorubicin là do doxorubicin gắn vào DNA làm ức chế các enzym cần thiết để sao chép và phiên mã DNA. Doxorubicin gây gián đoạn mạnh chu kỳ phát triển tế bào ở giai đoạn phân bào S và giai đoạn gián phân, nhưng thuốc cũng tác dụng trên các giai đoạn khác của chu kỳ phát triển tế bào.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Sau khi tiêm tĩnh mạch, quá trình thài trừ doxorubicin là quá trình ba pha với thời gian bán thải trung bình là 12 phút, 3,3 giờ và 30 giờ. Thời gian bán thải đầu và cuối của doxorubicin tương đối dài phản ánh sự phân bố của doxorubin và các mô sâu của cơ thể. Chỉ có khoảng 33% – 50% thuốc gắn huỳnh quang (hoặc các sản phẩm chuyển hóa của nó) xuất hiện trong nước tiểu, mật và phân sau 5 ngày tiêm tĩnh mạch. Phần thuốc còn lại được giữ trong lại ở các mô trong cơ thể một thời gian dài.
Ở các bệnh nhân ung thư, doxorubicin đuợc chuyển thành adriamycinol, một chất gây độc tế bào có hoạt tính. Sự chuyển hóa này được xúc tác bởi aldo-keto reductases phụ thuộc pH được tìm thấy trong tất cả các mô và đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định dược động học của doxorubicin. Doxorubicin và adriamycinol bị chuyển hóa bởi microsomal glycosidases có mặt ở hầu hết các mô thành anglycon không hoạt động, sau đó loại nhóm CH3, tiếp theo liên hợp với sulphat hoặc glucuronid và được bài tiết qua mật.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
sodium chlorid, hydrochloric acid 0.1N (để điều chỉnh pH), nước pha tiêm.
6.2. Tương kỵ :
Không được trộn Sindroxocin với heparin, do có thể hình thành kết tủa và không nên trộn với các thuốc khác. Doxorubicin không nên trộn lẫn với fluorouracil (như trong cùng túi truyền tĩnh mạch, hoặc truyền tĩnh mạch cùng) vì có có khả năng thủy phân thuốc. Nếu bắt buộc sử dụng doxorubicin cùng với fluorouracil thì nên rửa sạch dây truyền trước khi truyền thuốc khác. Nên tránh tiếp xúc lâu dài với bất kỳ dung dịch nào có pH kiềm vì sẽ dẫn đến thủy phân của thuốc.
6.3. Bảo quản:
Lọ đã mớ: Độ ôn định về hóa học và vật lý trong điều kiện sử dụng đã được chứng minh ở 2-8°C trong 28 ngày. Từ quan điểm về vi sinh vật, trừ khi phưong pháp mở lọ phòng ngừa được nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật. thuốc nên được sử dụng ngay lập tức. Nếu không được sử dụng ngay lập tức, thời gian và điều kiện bảo quản trong quá trình sử dụng là trách nhiệm của người dùng.
Dung dịch truyền đã pha chế: Độ ổn định về hóa học và vật lý sau khi pha loãng đã được chứng minh ở 2°c đến 8°c và 25°c, tránh ánh sáng, trong:
24 giờ trong dung dịch glucose 5% trong chai pp với các nồng độ 1,25 mg/ml và 0,5 mg/ml.
48 giờ trong dung dịch 0,9% natri chloride trong chai PE với nồng độ 1,25 mg/ml và 0,5 mg/ml.
Từ quan diêm về vi sinh vật, nên sử dụng sản phẩm ngay lập tức. Nếu không được sử dụng ngay lập tức, thời gian và điều kiện bảo quản (trong điều kiện sử dụng) trước khi dùng là trách nhiệm của người dùng và sẽ thường không kéo dài quá 24 giờ ở 2 °c đến 8 °c, trừ khi pha loãng được tiến hành trong điều kiện vô trùng được kiểm soát và thẩm định.
Thời gian lưu trữ của lọ đã mở ra và dung dịch tiêm truyền đã pha loãng không phải là thời gian cộng gộp.
Cảnh báo đặc biệt về bảo quản
Bảo quản trong tủ lạnh (2°c -8°C).
Giữ lọ trong hộp carton để tránh ánh sáng.
Đối với điều kiện bảo quan của sản phẩm thuốc đã pha loãng
6.4. Thông tin khác :
Cảnh báo về cách sử dụng và xử lý khác
Sindroxocin là một tác nhân gây độc tế bào mạnh mà chỉ nên kể đơn. pha chế và sử dụng bởi các chuyên gia đã được đào tạo trong việc sử dụng an toàn của thuốc. Các hướng dẫn sau đây cần được tuân thủ sau khi xử lý, pha chế và loại bỏ Sindroxocin.
Pha chế
(1). Các tác nhân độc tế bào nên được pha chế đế sử dụng bởi những người đã được đào tạo về xử lý an toàn các chế phâm như vậy. Tham khảo các hướng dẫn về thuốc gây độc tế bào tại cơ sở trước khi bắt đầu.
(2). Không nên để những nhân viên mang thai làm việc với các thuốc này.
(3). Nhân viên pha chế Sindroxocin nên mặc quần áo bảo hộ: kính, áo choàng, găng tay và khẩu trang dùng một lần.
(4). Tất cả các dụng cụ được sử dụng để đưa thuốc hoặc làm sạch, bao gồm găng tay, nên được đặt trong những túi xử lý chất thải nguy cơ cao để đốt ở nhiệt độ cao (700°C).
(5). Tất cả các vật liệu làm sạch nên được xử lý như đã trình bày ở trên.
(6). Luôn luôn rửa tay sau khi tháo găng tay.
Ô nhiễm
(1) Trong trường hợp tiếp xúc với da hoặc niêm mạc, rửa kỹ vùng bị ảnh hưởng bằng xà phòng và nước hoặc dung dịch natri bicarbonate. Tuy nhiên, không làm trầy da bằng cách sử dụng bàn chải chà. Có thể sử dụng một loại kem làm dịu để điều trị cảm giác đau nhức thoáng qua ở da
(2) Trong trường hợp tiêp xúc với mắt, giữ mí măt mở và rữa măt bị ảnh hường với thật nhiều nước trong ít nhất 15 phút hoặc dung dịch tiêm natri chloride 9 mg/ml (0.9%) thông thường, cần đi khám bác sĩ hoặc chuyên gia về nhãn khoa.
(3) Trong trường hợp bị tràn hay rò rỉ, xử lý bằng dung dịch sodium hypochlorite 1% hoặc đệm phosphat (pH> 8) cho đến khi dung dịch mất màu. Sử dụng một miếng vải/miếng bọt biên giữ trong khu vực quy định. Rửa sạch hai lần với nước. Đặt tất cả vào một túi nhựa và làm kín để đốt.
Xử lý
Chỉ sử dụng một duy nhất. Bất kỳ lượng thuốc nào không được sử dụng hoặc vật liệu thải phải được xử lý phù hợp với yêu cầu của cơ sở. Xem xét các hướng dẫn để xử lý các loại thuốc gây độc tế bào
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM