Dolutegravir

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Dolutegravir (DTG)

Phân loại: Thuốc kháng virus.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J05AX12.

Brand name:

Generic :

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén 10 mg, 25 mg, 50 mg.

Thuốc tham khảo:

TIVICAY
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Dolutegravir …………………………. 10 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

DTG được dùng ở người lớn và thanh thiếu niên để điều trị HIV cùng với các thuốc kháng retrovirus khác. Đây là lựa chọn có lợi cho các bệnh nhân đã từng điều trị vì khả năng kiểm soát mức HIV trong cơ thể-ngay cả khi có tình trạng kháng thuốc khác trong cùng công thức điều trị.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng đường uống.

Liều dùng:

50 mg một lần mỗi ngày cho người lớn và thanh thiếu niên trên 12 tuổi, nặng trên 40 kg, chưa từng dùng các thuốc kháng retrovirus hoặc đã dùng các loại thuốc kháng retrovirus nhưng chưa từng dùng các chất ức chế men tích hợp

50 mg hai lần mỗi ngày cho những người đã dùng các chất ức chế men tích hợp và có hoặc có nghi ngờ kháng lại các chất ức chế men tích hợp khác

50 mg hai lần mỗi ngày cho những người đang dùng bất kỳ loại thuốc nào trong các thuốc sau (bất kể có từng dùng các chất ức chế men tích hợp hay không): efavirenz, rifampin, ritonavir-boosted fosamprevir, ritonavir-boosted tipranavir.

4.3. Chống chỉ định:

Có phản ứng mẫn cảm trước đó với DTG

Đang điều trị với dofetilide (thuốc chống loạn nhịp tim cấp III) do khả năng tăng nồng độ dofetilide trong huyết tương và các tác dụng bất lợi nghiêm trọng và/hoặc đe doạ tính mạng (như QT kéo dài và nhịp nhanh thấy đa dạng).

4.4 Thận trọng:

Bệnh Lao: Có sự hạn chế thông tin về điều trị đồng nhiễm HIV/ TB với phác đồ điều trị dựa vào DTG. Các nghiên cứu liên quan đang diễn ra hoặc đang có kế hoạch thực hiện.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B1

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Không có ghi nhận bất thường nào trong các dữ liệu báo cáo về tính an toàn của DTG trong thai kỳ. Tuy nhiên, cở mẫu trong những bộ dữ liệu này khá nhỏ nên không cho phép đưa ra những kết luận chắc chắn. Một nghiên cứu ở Botswana về những phụ nữ bắt đầu phác đồ điều trị với EFV hoặc DTG cùng với TDF/FTC trong suốt quá trình mang thai cho thấy không có sự khác biệt đáng kể ở kết quả sinh nở

Thời kỳ cho con bú:

Không có dữ liệu báo cáo về tính an toàn của DTG trong thời gian cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Trong các nghiên cứu đăng ký, DTG được dung nạp tốt hơn efavirenz (EFV) hay darunavir/ritonavir (DRV/r) và mặc dù có tăng nguy cơ mất ngủ, các tác dụng phụ nghiêm trọng trên hệ thống thần kinh trung ương (CNS) như trầm cảm, có ý nghĩ tự tử là rất hiếm.

Sau các phê duyệt về quảng bá ra thị trường, các chứng cứ từ thực hành lâm sàng ngày càng cho thấy DTG có liên quan nhiều hơn đến các tác dụng phụ về tâm thần cao hơn so với kết quả trong các nghiên cứu quan sát lâm sàng.

Trong một nghiên cứu gồm 556 bệnh nhân tại Hà Lan, sau thời gian theo dõi 225 ngày, 15.3% bệnh nhân phải ngưng dùng DTG. Lý do ngừng là do khả năng dung nạp, mất ngủ, rối loạn giấc ngủ, các than phiền về đường ruột, và các triệu chứng tâm thần như hưng phấn, loạn thần và trầm cảm.11 Nhu cầu cần chuyển sang thuốc DTG cũng được ghi nhận nhiều hơn khi phác đồ ART có chứa abacavir (ABC).

Một nghiên cứu hồi cứu trên 1950 bệnh nhân ở Đức, bắt đầu dùng chất ức chế men tích hợp từ năm 2007 đến 2016, ước lượng rằng tỉ lệ biến cố bất lợi bất kỳ và biến cố bất lợi về tâm thần dẫn đến việc ngưng thuốc trong vòng 12 tháng là 7.6% và 5.6%với bệnh nhân dùng DTG, 7.6% và 0.7% với bệnh nhân dùng EVG, và 3.3% và 1.9% với bệnh nhân dùng RAL. Các biến cố bất lợi về tâm thần dẫn đến việc ngưng dùng DTG được ghi nhận nhiều hơn ở phụ nữ, ở những bệnh nhân trên 60 tuổi, và ở những bệnh nhân âm tính với kháng nguyên leucocyte (HLA)-B*5701 và bắt đầu dùng ABC cùng lúc.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

DTG có thể tương tác với một số loại thuốc kháng retrovirus và các loại thuốc khác. Cần điều chỉnh liều dùng hoặc theo dõi thường xuyên.

Etravirine: Làm giảm nồng độ của dolutegravir. Không nên dùng Dolutegravir với etravirine mà không dùng đồng thời atazanavir/ritonavir, darunavir/ritonavir, hoặc lopinavir/ritonavir.

Efavirenz: Làm giảm nồng độ của dolutegravir. Khuyến cáo dùng dolutegravir 50 mg hai lần mỗi ngày cho những bệnh nhân chưa từng điều trị hoặc đã từng được điều trị, chưa từng điều trị với thuốc có chất ức chế men tích hợp.

Nevirapine: Làm giảm nồng độ của dolutegravir. Nên tránh dùng đồng thời với nevirapine.

Fosamprenavir/ritonavir, tipranavir/ ritonavir: Làm giảm nồng độ của dolutegravir. Khuyến cáo dùng Dolutegravir 50 mg hai lần mỗi ngày cho những bệnh nhân chưa từng điều trị hoặc đã từng điều trị, chưa từng điều trị với thuốc có chất ức chế men tích hợp.

Oxcarbazepine, phenytoin phenobarbital, carbamazepine, St. John’s wort: Làm giảm nồng độ của dolutegravir Tránh sử dụng đồng thời với các thuốc chứa chất gây chuyển hoá này.

Các thuốc có chứa cation đa hoá trị: cation chứa chất kháng acit, hoặc nhuận trường, sucralfate, thuốc đêm: Làm giảm nồng độ của dolutegravir Dolutegravir nên được uống 2 giờ trước hoặc 6 giờ sau khi uống các loại thuốc chứa cation đa hoá trị.

Canxi uống hoặc các loại thuốc bổ sung sắt, bao gồm đa sinh tố chứa canxi hoặc sắt: Làm giảm nồng độ của dolutegravir Dolutegravir nên được uống 2 giờ trước hoặc 6 giờ sau khi uống các loại thuốc bổ sung canxi hoặc sắt. Cách khác, dolutegravir và các loại thuốc bổ sung chứa sắt hoặc canxi có thể uống cùng khi ăn.

Metformin Làm tăng nồng độ của metformin Với việc sử dụng đồng thời, giới hạn tổng liều dùng metformin ở mức 1000 mg khi bắt đầu metformin hoặc dolutegravir. Khi dừng sử dụng dolutegravir, liều dùng metformin có thể cần được điều chỉnh. Khuyến cáo giám sát lượng đường huyết trong máu khi bắt đầu đồng sử dụng metformin và dolutegravir và sau khi ngừng sử dụng dolutegravir.

Rifampin Làm giảm nồng độ của dolutegravir Khuyến cáo dùng dolutegravir 50 mg hai lần mỗi ngày ở những bệnh nhân chưa từng điều trị hoặc đã từng được điều trị, chưa từng điều trị với thuốc các chất ức chế men tích hợp.

4.9 Quá liều và xử trí:

Chưa có báo cáo quá liều. Nếu gặp phải theo dõi và điều trị triệu chứng.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Dolutegravir (DTG) thuộc nhóm thuốc kháng vi rút sao chép mã ngược (retrovirus) được gọi là chất ức chế men tích hợp integrase (INIs) hoặc chất ức chế các kết nối integrase (INSTIs).

DTG là thuốc kháng retrovirus dễ dung nạp và hiệu quả trong việc ức chế vi rút HIV, với liều dùng 1 lần mỗi ngày, và ít bị kháng thuốc. DTG ngày càng được xem là lựa chọn tiềm năng cho thuốc đầu tay điều trị HIV.

Trong các nghiên cứu lâm sàng so sánh DTG với các thuốc kháng retrovirus khác, DTG cho thấy hiệu quả tương đương các thuốc khác trên cùng quần thể nghiên cứu .Nghiên cứu sử dụng DTG trên các bệnh nhân đã từng điều trị và có kháng với chất ức chế men tích hợp cho kết quả 69% bệnh nhân có tải lượng vi rút không phát hiện được ở tuần 24.

Ở những phụ nữ chưa từng điều trị, công thức gồm DTG và abacavir (ABC) cùng với lamivudine (3TC) cho thấy tỉ lệ đạt mức ức chế vi rút ở tuần 48 tốt hơn đáng kể về mặt thống kê so với (HIV-1 RNA <50 tế bào/mL) atazanavir với ritonavir (ATV/r) và tenofovir disoproxil fumarate/emtricitabine (TDF/FTC)

Cơ chế tác dụng:

Dolutegravir (DTG) thuộc nhóm thuốc kháng vi rút sao chép mã ngược (retrovirus) được gọi là chất ức chế men tích hợp integrase (INIs) hoặc chất ức chế các kết nối integrase (INSTIs). Các chất ức chế men tích hợp (integrase inhibitors) hoạt động bằng cách ngăn chặn tích hợp, loại men cần thiết để đưa DNA của vi rút HIV vào DNA của tế bào chủ CD4.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thụ:

Thức ăn làm kéo dài thời gian hấp thu và giảm tỷ lệ hấp thu của dolutegravir. Các bữa ăn có hàm lượng chất béo thấp, trung bình và cao đã làm tăng tỷ lệ tương ứng của AUT lần lượt là 33%, 41% và 66%; tăng C max lần lượt là 46%, 52% và 67%; và kéo dài T max đến 3, 4, và 5 giờ từ 2 giờ (khi đói).

Phân phối

V d / F = ~ 17,4 L

Liên kết protein ≥98,9%

Chuyển hóa

Chủ yếu được chuyển hóa qua UGT1A1 với sự hỗ trợ của CYP3A

Bài tiết

Phân (53% dạng không thay đổi); nước tiểu (31% chất chuyển hóa, <1% là dạng không thay đổi)

Thời gian đạt đỉnh: 2 đến 3 giờ

Thời gian bán thải: ~ 14 giờ

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

D-mannitol, microcrystalline cellulose, povidone K29/32, sodium starch glycolate, sodium stearyl fumarate.

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam