Medi-Dapsone (Dapson 100mg) - Medisun

Dapsone – Medi Dapsone

Thông tin tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc Medi-Dapsone

Medi-Dapsone là một loại thuốc kê đơn do công ty cổ phần dược phẩm Me Di Sun sản xuất, thuốc có chứa dược chất Dapsone. Trước đây Dapsone được sử dụng trong phác đồ điều trị bệnh phong và phối hợp với pyrimethamin để phòng ngừa sốt rét. Tuy nhiên các bệnh này hiện nay rất ít gặp nên thuốc không còn được sản xuất nhiều. Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng của Thuốc Medi-Dapsone (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…):

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Dapsone (Dapson)

Phân loại: Kháng khuẩn, nấm, kí sinh trùng, virus > Thuốc trị lao và phong > Thuốc kháng khuẩn thuộc họ sulfon (kìm trực khuẩn Hansen gây bệnh phong).

Thuốc da liễu > Khác > Thuốc trị lao và phong.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): D10AX05, J04BA02.

Biệt dược gốc: Hiện chưa có thuốc đăng ký biệt dược gốc tại Việt Nam.

Biệt dược: Medi-Dapsone

Hãng sản xuất : Công ty cổ phần dược phẩm Me Di Sun.

Hãng đăng kí: Công ty cổ phần dược phẩm Me Di Sun..

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén 100 mg.

Hình ảnh tham khảo:

MEDI-DAPSONE 100
Mỗi viên nén có chứa:
Dapson …………………………. 100 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

Medi-Dapsone (Dapson 100mg) - Medisun

3. Thông tin dành cho người sử dụng:

3.1. Medi-Dapsone là thuốc gì?

Medi-Dapsone là một loại thuốc kê đơn do công ty cổ phần dược phẩm Me Di Sun sản xuất, thuốc có chứa dược chất Dapsone. Trước đây Dapsone được sử dụng trong phác đồ điều trị bệnh phong và phối hợp với pyrimethamin để phòng ngừa sốt rét. Tuy nhiên các bệnh này hiện nay rất ít gặp nên thuốc không còn được sản xuất nhiều.

3.2. Câu hỏi thường gặp phổ biến:

Dapsone có phải là thuốc kháng sinh không??

Đúng, Dapsone là một kháng sinh thuộc họ sulfon (sulfone) thường được dùng để điều trị vi khuẩn Mycobacterium leprae, tác nhân gây bệnh phong.

Tôi không thể mua được Dapsone, hiện tại có thuốc nào có thể mua thay thế được không?

Hiện nay do các bệnh phong còn ít người mắc nên người ta cũng sản xuất rất hạn chế các thuốc có chứa Dapsone. Vì vậy bạn cần hỏi lại bác sỹ để có phương án điều trị thay thế nếu không mua được Dapsone.

Dapsone có nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam không?

Dapsone CÓ nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam. Dapsone nằm trong nhóm thuốc điều trị bệnh da liễu; Vì vậy người bệnh có thể được sử dụng thuốc này tại các cơ sở khám chữa bệnh nếu có thuốc này.

4. Thông tin dành cho nhân viên y tế:

4.1. Chỉ định:

Là một phần trong phác đồ phối hợp nhiều thuốc điều trị tất cả các bệnh phong.

Điều trị viêm da dạng Herpes và các bệnh da khác.

Phối hợp với pyrimethamin trong phòng ngừa sốt rét.

Điều trị dự phòng viêm phổi do Pneumocystis jiroveci (P.carinii) ở các bệnh nhân suy giảm miễn dịch, đặc biệt là bệnh nhân AIDS.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Thuốc dùng đường uống.

Liều dùng:

Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi:

Bệnh phong nhiều vi khuẩn (phát đồ 3 thuốc): Uống dapson 100mg mỗi ngày trong ít nhất hai năm.

Bệnh phong nhiều vi khuẩn (phát đồ 2 thuốc): Uống dapson 100mg mỗi ngày trong ít nhất sáu tháng.

Dự phòng sốt rét: Uống dapson 100mg mỗi tuần với 12,5mg pyrimethamin.

Viêm da dạng Herpes: Khởi đầu uống dapson 50mg mỗi ngày, sau tăng dần đến 300mg mỗi ngày nếu cần thiết. Khi tổn thương đã bắt đầu giảm xuống, liều dùng nên được giảm đến mức tối thiểu càng sớm càng tốt, thường là 25-50mg mỗi ngày, có thể dùng tiếp tục một số năm. Liều duy trì thường giảm ở bệnh nhân có chế độ ăn không có gluten.

Viêm phổi do Pneumocystis jiroveci (P.carinii): kết hợp với trimethoprim, uống dapson 50-100mg hàng ngày; 100mg hai lần một tuần hoặc 200mg một lần mỗi tuần.

Trẻ em từ 6-12 tuổi:

Bệnh phonh nhiều vi khuẩn (phát đồ 3 thuốc): uống dapson 50mg mỗi ngày trong ít nhất hai năm.

Bệnh phong nhiều vi khuẩn (phát đồ 2 thuốc): uống dapson 50mg mỗi ngày trong ít nhất sáu tháng.

Người cao tuổi, người suy giảm chức năng gan nên giảm liều dùng.

4.3. Chống chỉ định:

Dị ứng với dapson hoặc sulfonamide; thiếu máu nặng.

Quá mẫn cảm với sulfon hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc; Porphyria; thiếu hụt G6PD nặng.

4.4 Thận trọng:

Cần thận trọng khi dùng dapson cho người thiếu hụt glucose 6-phosphat-dehydrogenase (G6PD), hoặc methemoglobin reductase hoặc hemoglobin M. Nếu người bệnh bị thiếu máu, phải điều trị thiếu máu trước khi bắt đầu dùng dapson.

Cần thận trọng khi kết hợp với các thuốc có khả năng gây huyết tán và ở người bệnh có bệnh kết hợp với tan máu (một số nhiễm khuẩn, đái tháo đường nhiễm ceton).

Phải thường xuyên làm huyết đồ như hàng tuần làm 1 lần trong tháng đầu, hàng tháng 1 lần trong 6 tháng sau, và sau đó, cách 6 tháng 1 lần. Nếu thấy giảm nặng tế bào máu, phải ngừng thuốc. Phải theo dõi test gan trước và trong khi điều trị dapson vì viêm gan nhiễm độc và vàng da ứ mật đã xảy ra.

Thuốc nên được sử dụng thận trọng ở bệnh nhân bị bệnh tim hoặc phổi.

Thuốc chứa lactose. Những bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp không dung nạp galactose, thiếu Lapp lactose hoặc kém hấp thu glucose – galactose không nên dùng thuốc này.

Thuốc chứa tartrazine là chất tạo màu có thể gây phản ứng dị ứng có thể biểu hiện như đỏ bừng, sự xuất hiện của mày đay, khó thở, ngất và/hoặc giảm huyết áp.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Chưa có báo cáo đầy đủ.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B2

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Lợi ích của dapson trong điều trị phong lớn hơn nguy cơ khi sử dụng trên bệnh nhân mang thai, có thể sử dụng axit folic 5mg hàng ngày cho bệnh nhân phong điều trị bằng dapson trong khi mang thai.

Thời kỳ cho con bú:

Dapson khuếch tán vào sữa mẹ và có nguy cơ gây thiếu máu tan huyết ở trẻ sơ sinh bú sữa mẹ. Cân nhắc không nên sử dụng dapson ở các bà mẹ đang cho con bú, trong khi các điều trị chung cho bệnh phong được tiếp tục ở những bệnh nhân phong.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Nên ngừng dapson hoặc giảm liều nếu phản ứng nghiêm trọng của bệnh phong ảnh hưởng đến mắt hoặc các thân thần kinh xảy ra.

Một “hội chứng dapson” có thể xảy ra sau khi điều trị 3 – 6 tuần; triệu chứng bao gồm phát ban, mà luôn luôn là hiện tại, sốt, và eosinophilia. Nếu dapson không được dừng lại ngay lập tức, các hội chứng có thể tiến triển đến viêm da tróc vảy, viêm gan, albumin niệu và rối loạn tâm thần. Thậm chí có thể tử vong. Hầu hết các bệnh nhân cần điều trị steroid trong vài tuần, có thể do thời gian thải trừ của thuốc kéo dài.

Tác dụng phụ hay gặp nhất khi dùng dapson là thiếu máu tan huyết và methemoglobin huyết có liên quan đến liều. Tan huyết xảy ra ở đa số người bệnh dùng 200 mg hoặc hơn mỗi ngày Nhà sản xuất cho rằng nồng độ hemoglobin thường giảm khoảng 1 – 2 g/dl, số lượng hồng cầu lưới tăng 2 – 12% và methemoglobin thường xảy ra. Trừ khi nặng, thường không cần ngừng thuốc.

Điều trị bệnh phong có hiệu quả bằng dapson và các thuốc chống phong khác thường dẫn đến thay đối đột ngột tình trạng lâm sàng của người bệnh. Các thay đối này được gọi là tình trạng phản ứng của bệnh phong. Tình trạng này được chia thành 2 typ: Phản ứng đảo ngược (typ 1) và phản ứng hồng ban nốt phong (typ 2) (erythema nodosum leprosum). Các phản ứng này được coi là một biểu hiện của bệnh hơn là một phản ứng có hại của phác đồ điều trị bệnh phong. Nói chung, phác đồ chống phong thông thường vẫn tiếp tục mặc dù có tình trạng bệnh phong phản ứng. Nếu có tốn thương thần kinh hoặc loét da nặng, dùng corticosteroid. Thuốc giảm đau, corticosteroid, hoặc phẫu thuật giảm chèn ép thân thần kinh bị phù nề thường được dùng để điều trị phản ứng đảo ngược (typ 1). Phản ứng typ 2 thường được điều trị bằng thuốc giảm đau, corticosteroid, và/hoặc thalidomid; clofazimin cũng có tác dụng chống viêm và có lợi trong điều trị typ 2.

Thường gặp, ADR > 1/100

Máu: Thiếu máu tan huyết, methemoglobin huyết.

Toàn thân: Quá mẫn (phát ban da).

Ít gặp, 1/1.000 < ADR < 1/100

Toàn thân: Đau đầu.

Tiêu hóa: Buồn nôn, nôn, chán ăn.

Gan: Viêm gan.

Hiếm gặp, ADR < 1/1.000

Máu: Rối loạn tạo máu, mất bạch cầu hạt.

Da: Viêm da tróc vảy, ban dát sần, hoại tử biểu bì ngộ độc (hội chứng Lyell) và hội chứng Stevens-Johnson.

Thần kinh: Ngộ độc hệ thần kinh trung ương, thay đối tâm thần hay tâm trạng, viêm thần kinh ngoại biên.

Gan: Tổn thương gan.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng ngay dapson nếu xảy ra phản ứng nhiễm độc da. Dùng liều cao corticosteroid, nếu dị ứng hoặc viêm dây thần kinh xuất hiện trong khi dùng dapson. Tiêm truyền tĩnh mạch xanh methylen 1 – 2mg/kg, tiêm nhắc lại sau 1 giờ nếu cần thiết, để điều trị methemoglobin máu. Không được dùng xanh methylen cho người bệnh thiếu hụt hoàn toàn G6PD vì sự khử của xanh methylen phụ thuộc vào G6PD. Có thể dự phòng một số tác dụng phụ của dapson về huyết học bằng acid ascorbic, folat và sắt. Điều trị tan huyết bằng cách truyền hồng cầu để thay thế hồng cầu bị phá hủy. Trừ khi nặng, huyết tán hoặc methemoglobin huyết thường không cần phải ngừng dapson.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Tác dụng kìm khuẩn của dapson bị giảm khi dùng đồng thời dapson với aminobenzoat. Sử dụng đồng thời dapson với dideoxinosin (ddI) làm giảm hấp thu dapson. Nồng độ thuốc trong máu của cả dapson và trimethoprim tăng lên khi sử dụng chúng đồng thời. Rifampicin và clofazimin làm giảm nồng độ huyết thanh của dapson từ 7 – 10 lần khi sử dụng chúng đồng thời; tuy nhiên, không cần điều chỉnh liều dapson vì nồng độ dapson vẫn cao hơn nồng độ tối thiểu ức chế.

Thuốc gây tác dụng phụ về huyết học: Vì các thuốc có các tác dụng phụ về huyết học tương tự, dùng đồng thời một thuốc kháng acid folic (thí dụ như pyrimethamin) với dapson, có thể làm tăng nguy cơ tác dụng phụ về huyết học. Phải giám sát huyết học thường xuyên hơn khi phối hợp pyrimethamin với dapson.

Bài tiết của dapson giảm và nồng độ trong huyết tương tăng dùng đồng thời với probenecid. Rifampicin đã được báo cáo để tăng thanh thải trong huyết tương của dapson.

Tăng nồng độ dapson và trimethoprim đã được báo cáo sau khi dùng đồng thời ở bệnh nhân AIDS.

4.9 Quá liều và xử trí:

Triệu chứng: Buồn nôn, nôn, sốt, kích thích, methemoglobin huyết. Co giật, xanh tím nặng. Huyết tán có thể xảy ra 7 – 14 ngày sau khi ngộ độc cấp.

Xử trí: Rửa dạ dày, dùng than hoạt. Khi người bệnh không thiếu hụt G6PD và bị methemoglobin huyết nặng, tiêm tĩnh mạch xanh methylen (1 – 2mg/kg tiêm tĩnh mạh chậm). Tác dụng thường hoàn toàn hết trong vòng 30 phút, nhưng có thể phải tiêm lại nếu methemoglobin trở lại. Thẩm tách máu có thể thúc đẩy việc thải trừ dapson và dẫn chất.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Dapson (4,4’-diaminodiphenylsulfon, DDS) là một sunfon tổng hợp có tính chất kìm khuẩn. Cơ chế tác dụng của dapson chưa được biết rõ. Do hoạt tính kháng khuẩn của dapson bị acid p-aminobenzoic (PABA) ức chế, nên có thể thuốc có một cơ chế tác dụng tương tự như sulfonamid ức chế các vi khuẩn nhạy cảm tổng hợp acid folic. Dapson còn có thể ức chế con đường chuyển hóa thứ hai hoạt hóa bổ thể và ngăn cản hệ thống gây độc cho tế bào qua trung gian myeloperoxidase của bạch cầu đa nhân trung tính. In vitro, dapson kích thích bạch cầu đa nhân trung tính di chuyển. Dapson cũng ức chế tổng hợp prostaglandin E2 của bạch cầu đa nhân lấy từ người lành hoặc người bị bệnh phong.

Cơ chế tác dụng của dapson trong điều trị viêm da dạng herpes (dermatitis herpetiformis) còn chưa rõ, tuy nhiên, dapson làm bệnh đỡ nhưng không tác động đến lắng đọng bổ thể và IgA ở da. Dapson có thể đã tác dụng như một thuốc điều hòa miễn dịch khi dùng để điều trị viêm da dạng herpes và một số bệnh ngoài da khác.

Phổ tác dụng: Dapson có tác dụng kìm khuẩn in vivo đối với trực khuẩn phong (Mycobacterium leprae). Cũng có tác dụng với trực khuẩn lao và một số loài Mycobacterium khác. Dapson còn có một số tác dụng chống Pneumocystis jiroveci (trước đây là Pneumocystis carinii) và ký sinh trùng sốt rét Plasmodium.

Kháng thuốc: Mycobacterium leprae lúc đầu nhạy cảm với dapson có thể trở thành kháng thuốc trong thời gian điều trị nhưng kháng thuốc phát triển chậm.

Kháng thuốc xảy ra 5 – 24 năm sau khi bắt đầu điều trị dapson. Kháng thuốc thường xảy ra nhất khi dùng liều thấp và gián đoạn. Kháng dapson nguyên phát hiếm có. Cho tới nay, chưa thấy có kháng chéo giữa dapson và clofazimin.

Trước đây dapson được dùng đơn độc để điều trị bệnh phong. Do sự gia tăng các chủng trực khuẩn phong kháng dapson, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo dùng phác đồ nhiều thuốc trên cơ sở rifampin để điều trị bệnh phong các thể (nhiều vi khuẩn hay ít vi khuẩn). Ngoài ra, dapson còn được dùng để điều trị viêm phổi do Pneumocystis jiroveci ở người mắc bệnh AIDS, bệnh Toxoplasma ở người nhiễm HIV, viêm da dạng herpes.

Dapson dùng phối hợp với pyrimethamin để điều trị hoặc dự phòng sốt rét do Plasmodium falciparum kháng cloroQuin, khi không có hoặc chống chỉ định dùng các thuốc khác như doxycyclin, sulphadoxin, mefloQuin.

Cơ chế tác dụng:

Dapsone có cơ chế chống lại vi khuẩn theo cùng cách như sulfonamid, tức là ức chế quá trình tổng hợp axit dihydrofolic thông qua cạnh tranh với para-amino-benzoat để giành vị trí hoạt động của dihydropteroat synthetase. Tác dụng chống viêm của thuốc không liên quan đến tác dụng kháng khuẩn của thuốc và chưa rõ cơ chế.

5.2. Dược động học:

Hấp thu: Dapson được hấp thu gần như hoàn toàn qua đường tiêu hóa, đạt nồng độ cao trong máu sau khi uống 2 – 8 giờ. Nồng độ ổn định ở khoảng 0,1 – 7 microgam/ml, trung bình là 2,3 microgam/ml sau 8 ngày điều trị với liều 200mg/ngày. Dapson và chất chuyển hóa monoacetyl của nó qua vòng tuần hoàn gan – ruột.

Phân bố: Thể tích phân bố của thuốc là 1,5 – 2,5 lít/kg. Thuốc phân bố trong hầu hết các mô của cơ thể như da, cơ, thận và gan. Dapson có ở mồ hôi, nước bọt, đờm, nước mắt và mật. Thuốc đi qua nhau thai và bài tiết vào sữa mẹ. Tỷ lệ gắn với protein huyết tương là 50 – 90%, monoacetyl dapson gắn hầu như hoàn toàn với protein huyết tương. Dapson có thể không vào mô mắt vì tổn thương mắt vẫn tiến triển tuy bệnh có thể đã được kiểm soát hoặc khỏi ở các nơi khác.

Đào thải: Nửa đời trong huyết tương của dapson biến thiên lớn giữa các người bệnh, dao động từ 10 đến 83 giờ, trung bình 20 – 30 giờ. Dapson acetyl hóa ở gan thành các dẫn chất monoacetyl và diacetyl. Chất chuyển hóa chính của dapson là monoacetyl dapson. Tốc độ acetyl hóa dapson phụ thuộc di truyền và thay đổi giữa các người bệnh. Thuốc cũng bị hydroxyl hóa ở gan thành hydroxylamin dapson.

Chất này làm dapson gây ra methemoglobin và tan huyết. Đào thải chủ yếu qua nước tiểu, 20% mỗi liều đào thải dưới dạng không chuyển hóa. 70 – 85% đào thải vào nước tiểu dưới dạng chất chuyển hóa hòa tan trong nước, và một lượng nhỏ vào phân.

Uống than hoạt hoặc thẩm phân máu làm tăng đào thải dapson và chất chuyển hóa monoacetyl dapson.

5.3. Hiệu quả lâm sàng:

Chưa có thông tin.

5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:

Chưa có thông tin.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Tinh bột mì, Calci hydro phosphat, Lactose, Povidon, Aerosil, Vàng Tartrazin, Sodium starch glycolat, Avicel 101, Magnesi sterat.

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản dưới 30oC. Tránh ánh sáng.

6.4. Thông tin khác :

Mô tả: Viên nén.

6.5 Tài liệu tham khảo:

HDSD Thuốc Medi-Dapsone do Công ty cổ phần dược phẩm Me Di Sun sản xuất (2017).

Ngân hàng dữ liệu ngành Dược.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM