Dapoxetine – Oxetine

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Dapoxetine

Phân loại: Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRIs).

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): G04BX14.

Biệt dược gốc: OXETINE

Biệt dược: Oxetine

Hãng sản xuất : Kusum Healthcare Private Limited

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén bao phim 30 mg, 60 mg.

Thuốc tham khảo:

OXETINE 60mg
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Dapoxetine hydrochloride …………………………. 60 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

OXETINE 30mg
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Dapoxetine hydrochloride …………………………. 30 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Xuất tinh sớm ở nam giới độ tuổi 18 – 64 tuổi, có tất cả các triệu chứng sau:

Xuất tinh giai dẳng và tái phát khi có kích thích tình dục ở mức độ tối thiểu, trước trong hoặc ngay sau khi thâm nhập, trước khi bệnh nhân có chủ định và có cảm giác lo lắng hoặc khó chịu như là hậu quả của xuất tinh sớm.

Khó kiểm soát hiện tượng xuất tinh.

Tiền sử xuất tinh sớm trong phần lớn các lần cố gắng quan hệ trong vòng > 6 tháng.

Thời gian trì hoãn xuất tinh trong âm đạo ít hơn 2 phút.

Chỉ nên dùng theo nhu cầu điều trị trước khi dự định quan hệ tình dục. Không được dùng thuốc này để trì hoãn xuất tinh ở nam giới vốn không đoán là xuất tinh sớm.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Thuốc được dùng theo đường uống. Oxetine có thể dùng cùng thức ăn hoặc không.

Được dùng theo đường uống. nên uống nguyên viên để tránh vị đắng cùng với 1 ly nước đầy. Người bệnh nên thận trọng để tránh tình trạng chấn thương do ngất hoặc do 1 số các triệu chứng báo trước như hắt hơi, đau đầu nhẹ.

Liều dùng:

Nam giới (18-64): Liều khỏi đầu khuyến cáo cho tất cả các bệnh nhân là 30mg, uống trước khi quan hệ tình dục từ 1 – 3 giờ. Nếu bệnh nhân không đáp ứng đủ với liều 30 mg hay các tác dụng không mong muốn có thể chấp nhận được hay bệnh nhân không có triệu chứng báo trước là sẽ ngất thì có thể dùng liều khuyến cáo tối đa là 60 mg, uống trước khi quan hệ tình dục từ 1 – 3 giờ. Liều tối đa khi sử dụng thường xuyên là 1 lần trong 24 giờ.

Với bác sỹ khi kê đơn Oxetine cần lượng giá được những nguy cơ với những hiệu quả mang lại cho người bệnh sau 4 tuần đầu tiên sử dụng hoặc sau 6 liều Oxetine để đánh giá sự cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ để xác định xem có thể tiếp tục điều trị Oxetine nữa hay không.

Người lớn tuổi (≥ 65 tuổi): tính an toàn và hiệu quả khi dùng thuốc này cho bệnh nhân ≥ 65 tuổi hiện vẫn chưa được thiết lập.

Trẻ em và thiếu niên: Không dùng Oxetine cho người dưới 18 tuổi.

Suy thận: Không cần điều chỉnh liều trên những bệnh nhân suy chức năng thận nhẹ và vừa, không dùng Oxetine cho những bệnh nhân suy chức năng thận nhẹ.

Suy gan: không cần điều chỉnh liều trên những bệnh nhân suy chức năng gan mức độ nhẹ. Chống chỉ định ở những bệnh nhân bị suy gan vừa và nhẹ.

Trên người kém chuyển hóa CYP2D6 và trên người bệnh sử dụng thuốc ức chế mạng CYP2D6:

Cần thận trọng ở những bệnh nhân chuyển hóa kém CYP2D6 và những bệnh nhân sử dụng thuốc ức chế mạnh hệ CYP2D6 khi tăng liều lên tới 60 mg.

Trên những bệnh nhân đang được điều trị với thuốc ức chế CYP3A4.

Không dùng đồng thời với các thuốc ức chế CYP3A4.

4.3. Chống chỉ định:

Quá mẫn với Depoxetin Hydrochloride hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Các bệnh lý về tim mạch mạn tính như: suy tim độ II – IV NYHA (đánh giá mức độ theo hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ NYHA), rối loạn dẫn truyền như block nhĩ thất cấp II – IV, hội chứng xoang) không được điều trị hoặc bệnh nhân đặt máy tạo nhịp, bệnh lý thiếu máu cơ tim rõ rệt, bệnh van tim mạn tính.

Có tiền sử hưng cảm hay trầm cảm nặng.

Không dùng đồng thời IMAO hoặc trong vòng 14 ngày kể từ khi ngừng điều trị IMAO & không dùng IMAO trong vòng 7 ngày sau khi ngừng sử dụng Oxetine.

Không dùng đồng thời thioridazin hoặc trong vòng 14 ngày sau khi ngừng sử dụng thioridazin và không dùng thioridazin trong vòng 7 ngày sau khi ngừng dùng Oxetine.

Không dùng đồng thời chất ức chế tái hấp thu serotonin (chất ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc, chất ức chế tái hấp thu serotonin – norepinephrin, chất chống trầm cảm 3 vòng, hay thuốc/thảo dược có tác dụng cường giao cảm như L-tryptophan, triptan, tramadol, linezolid, lithium, St. John’s Wort (Hypericum perforatum) hoặc trong vòng 14 ngày sau khi ngưng điều trị các thuốc/thảo dược trên & không dùng thuốc này trong vòng 7 ngày từ khi ngừng sử dụng Oxetine.

Dùng đồng thời thuốc ức chế mạnh CYP3A4 như ketoconazol, itraconazol, ritonavir, saquinavir, telithromycin, nefazadon, nelfinavir, atazanavir…

4.4 Thận trọng:

Khuyến cáo chung: chỉ sử dụng Oxetine để điều trị xuất tinh sớm ở nam giới mà đáp ứng tất cả các tiêu chí đã được liệt kê trong phần “Chỉ định”. Không dùng cho nam giới mà không được chân đoán là xuất tinh sớm. Tính an toàn chưa được thành lập và do đó không có dữ liệu về tác dụng trì hoãn xuất tinh ở nam giới mà không xuất tinh sớm

Các dạng rối loạn chức năng tình dục khác:

trước khi điều trị, những bệnh nhân bị các dạng rối loạn chức năng tình dục khác trong đó có rối loạn chức năng cương dương, cần được bác sĩ đánh giá cân thận. Không nên dùng thuốc ở những người bị rối loạn chức năng cương dương mà đang sử dụng chất ức chế PDE5

Hạ huyết áp khi đứng

bác sĩ cần kiểm tra bệnh nhân cần thận trước khi bắt đầu điều trị bao gồm tiền sử trước đây có các triệu chứng hạ huyết áp thế đứng, phải thực hiện một bài kiểm tra trước khi khởi đầu điều trị (huyết áp và nhịp tim, nằm ngứa và đứng). Trong trường hợp nghi ngờ hay trước đây đã từng có phản ứng thế đứng, nên tránh dùng Oxetine.

Hạ huyết áp thế đứng đã được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng. Bác sỹ kê toa nên tư vẫn cho bệnh nhân trước đó nếu bệnh nhân có triệu chứng có thể báo trước như lâng lâng ngay sau khi đứng, nên nằm xuống ngay lập tức, để đầu thấp hơn so với phần còn lại của cơ thể hoặc ngồi xuống với đầu giữa hai đầu gối cho đến khi hết triệu chứng. Bác sỹ kê toa cũngnên thông báo cho bệnh nhân không nên đứng dậy quá nhanh sau khi nằm hay ngồi thời gian dài

Ngất:

Tần số xuất hiện của ngất, biểu hiện bởi dấu hiệu mất ý thức cho thấy có sự khác biệt trong các nghiên cứu lâm sàng, tùy thuộc vào số ca tham gia nghiên cứu, từ 0,06% (30 mg) đến 0,23% (60 mg) đối với các trường hợp tham gia nghiên cứu có giả dược có kiểm soát giai đoạn 3 cho đến 0,64% (đối với tất cả các liều) trong nghiên cứu giai đoạn 1 trên người tình nguyện khỏe mạnh.

Các triệu chứng tiền triệu có thể có như buồn nôn, hoa mắt/ đau đầu nhẹ, toát mồ hôi, là những triệu chứng thường gặp được báo cáo trong số những bệnh nhân sử dụng Dapoxetine so với nhóm dùng giả dược. Ở nhóm ở bệnh nhân dùng liều 30mg trong nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3, tỉ lệ buồn nôn là 11%, hoa mắt: 5,8%, tăng tiết mồ hôi: 1,5%. Đối với nhóm sử dụng liều 60mg trong nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3, triệu chứng nôn là 21,2%, đau đầu 11,7% và tăng tiết mồ hôi là 1,5%. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của ngất và các dấu hiệu tiền triệu phụ thuộc vào liều dùng cho thấy tỷ lệ này cao hơn ở nhóm bệnh nhân dùng liều trên 60mg, cao hơn so với liều khuyến cáo tối đa mỗi ngày.

Các trường hợp ngất thường đặc trưng bởi sự mất ý thức ghi nhận được trong các nghiên cứu trên lâm sàng biểu hiện tình trạng co phế huyết quản và phần lớn xảy ra trong ba giờ đầu khi dùng thuốc, sau khi dùng liều đầu tiên hoặc có liên quan với các thủ thuật trên lâm sàng (như lấy máu, đứng dậy đột ngột, đo huyết áp). Các dấu hiệu tiền triệu như buồn nôn, chóng mặt, nhức đầu, trống ngực, mệt mỏi, lẫn lộn và toát mồ hôi thường xảy ra trong vòng 3 giờ đầu sau khi uống thuốc và thường dẫn đến choáng ngất. Bệnh nhân cần biết rằng tình trạng choáng ngất có thể xảy ra bất kỳ khi nào có hoặc không có triệu chứng báo trước trong thời gian điều trị Dapoxetine. Thầy thuốc cần giải thích cho bệnh nhân biết về tầm quan trọng của việc duy trì cân bằng nước và cách nhận biết các dấu hiệu tiền triệu để làm giảm nguy cơ ngã gây chấn thương trầm trọng do mất ý thức. Khi xuất hiện các dấu hiệu tiền triệu, ngay lập tức nằm đầu thấp hoặc ngồi cúi đầu giữa 2 đầu gối cho đến khi các triệu chứng mất đi và nên thận trọng để tránh xảy ra chấn thương như khi lái xe hoặc vận hành máy móc vì có thể xảy ra choáng ngất hoặc các phản ứng trên hệ thần kinh trung ương.

Uống rượu trong thời gian sử dụng Dapoxetine có thể làm tăng các phản ứng bất lợi trên hệ thần kinh và tim mạch như hiện tượng choáng ngất do đó có thể làm tăng nguy cơ gây tai nạn; vì vậy, bệnh nhân không nên uống rượu trong khi sử dụng Dapoxetine.

Các đối tượng có các bệnh lý về tim mạch đã bị loại trừ khỏi các nghiên cứu giai đoạn 3. Nguy cơ xảy ra các tác dụng ngoại ý trên hệ tim mạch từ hiện tượng choáng ngất ﴾ngất do nguyên nhân tim mạch hay do các nguyên nhân khác﴿ tăng lên ở những bệnh nhân có bệnh lý tim mạch tiềm tàng (ví dụ bệnh lý gây cản trở dòng chảy, bệnh van tim, bệnh hẹp động mạch cảnh, bệnh động mạch vành). Hiện chưa có dữ liệu đầy đủ xác định xem liệu tình trạng tăng nguy cơ gặp những tác dụng ngoại ý này có xảy ra với các trường hợp có các bệnh tiềm tàng hay không.

Bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ tim mạch: bệnh nhân bị bệnh tim mạch tiềm ẩn được loại trừ ra khỏi giai đoạn 3 của thứ nghiệm lâm sàng. Nguy cơ biến chứng xấu tim mạch từ việc ngất (ngất do tim và ngất do các nguyên nhân khác) tăng lên ở những bệnh nhân bị các bệnh về tim mạch tiềm ẩn (ví du như tắc nghẽn lưu lượng, bệnh van tim, hẹp động mạch cảnh và bệnh động mạch vành). Không đủ dữ liệu để xác định xem liệu nguy cơ gia tăng này kéo dài có dẫn đến cơn ngất mạch thần kinh phế vị ở những bệnh nhân có bệnh tim mạch tiểm ẩn hay không

Dùng với các thuấc kích thích: bệnh nhân không nên sử dụng Oxetine kết hợp với các loại thuốc kích thích. Các loại thuốc kích thích với hoạt tính cường giao cảm như ketamin, methylen dioxymethamphetamin (MDMA) và acid Iysergic diethylamid (LSD) có thể dẫn tới những phản ứng nghiêm trọng nếu kết hợp với Oxetine. Những phán ứng nảy bao gồm loạn nhịp tim, thân nhiệt cao, và hội chứng cường giao cảm. Sử dụng Oxetine với các loại thuốc kích thích có tác dụng an thần như chất gây ngủ hay benzodiazepin có thể làm tăng buồn ngủ và chóng mặt.

Rượu:

bệnh nhân được khuyên không nên dùng Oxetine với rượu, vi dùng chung có thể làm gia tăng tác dụng thần kinh nhận thức liên quan đến rượu và có thể làm gia tăng tác dụng không mong muốn thần kinh tim như ngất, do đó làm tang nguy cơ chấn thương do tai nạn, vì vậy bệnh nhân được khuyên nên tránh uống rượu trong khi đang dùng Oxetine

Dùng các thuốc có tính chất giãn mạch: dùng Oxetine thận trọng ở những bệnh nhân đang dùng các thuốc có tính chất giãn mạch (ví dụ như thuốc đối kháng thụ thể alpha adrenergie và nitrat) do làm giảm khả năng dung nạp tư thế đứng

Các chất ức chế CYP3A4 ở mức độ trung bình

Cần thận trọng và không dùng liều vượt quá 30 mg khi sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế CYP3A4 ở mức độ trung bình như Erythromycin, Clarithromycin, Fluconazole, Amprenavir, Fosamprenavir, Aprepitant, Verapamil và Diltiazem.

Với các thuốc ức chế CYP2D6 mạnh

Cần thận trọng khi tăng liều lên đến 60 mg ở những bệnh nhân dùng các chất ức chế mạnh CYP2D6 hay ở những bệnh nhân được biết là khó chuyển hóa CYP2D6 vì sẽ làm tăng độ phơi nhiễm dẫn tới tỷ lệ và mức độ mắc phải các tác dụng không mong muốn phụ thuộc vào liều sẽ cao hơn.

Hưng cảm:

không nên đùng Oxetine ở những bệnh nhân có tiền sử hưng cảm/ hưng cảm nhẹ hoặc rối loạn lưỡng cực và phải ngưng dùng thuốc ở bất kỳ bệnh nhân nào phát triển triệu chứng của những rối loạn này.

Tự sát/có ý nghĩ tự sát

Các thuốc chống trầm cảm bao gồm cả các thuốc chọn lọc ức chế tái hấp thu Seretonin (SSRI: Selective Sertonine Reuptake inhibitor), sẽ làm tăng nguy cơ khiến bệnh nhân có khuynh hướng tự tử và tự tử trong một số nghiên cứu ngắn hạn về những rối loạn trầm cảm cơ bản và rối loạn tâm thần ở trẻ em và thanh niên. Các nghiên cứu ngắn hạn này không cho thấy có sự tăng lên nguy cơ tự sát do các thuốc chống trầm cảm so với giả dược ở người lớn trên 24 tuổi. Trong những nghiên cứu đối với Dapoxetine trong điều trị tình trạng xuất tinh sớm, chưa có bằng chứng rõ ràng về mối liên quan giữa thuốc với tình trạng tự sát.

Động kinh

Do các thuốc ức chế chọn lọc tái hấp thu Seretonin SSRI có khả năng làm giảm ngưỡng gây co giật, do vậy nên ngừng sử dụng Dapoxetine khi bệnh nhân xuất hiện triệu chứng co giật và không chỉ định Dapoxetine cho những bệnh nhân có tiền sử động kinh không ổn định. Đối với những bệnh nhân động kinh được kiểm soát cần được theo dõi chặt chẽ.

Dùng thuốc ở trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi: không dùng cho trẻ em < 18 tuổi

Trầm cảm và/ hay rối loạn tâm thần:

nam giới có các biểu hiện trầm cảm cần được kiểm tra kỹ lưỡng trước khi điều trị Oxetine để loại trừ tình trạng rối loạn trầm cảm không được chẩn đoán. Chống chỉ định dùng đồng thời với thuốc chống trầm cảm, bao gồm SSRI và SNRI. Không khuyến cáo ngừng việc điều trị bệnh trầm cảm/lo âu để bắt đầu dùng Oxetine với mục đích trị xuất tỉnh sớm. Không chỉ định dùng Oxetine cho các rối loạn tâm thần và không nên dùng ở nam giới đang có những rối loạn này chẳng hạn như tâm thần phân liệt, hay những người đang mắc bệnh kèm khi mắc trầm cảm. Các bác sĩ nên khuyến khích bệnh nhân báo cáo bất kỳ suy nghĩ hay cảm xúc đau buồn vào bất cứ lúc nào và nếu bệnh nhân có phát triển bất kỳ có dấu hiệu và triệu chứng nào của bệnh trầm cảm trong khi điều trị, nên ngưng dùng Oxetine.

Xuất huyết

Đã có một số báo cáo về hiện tượng chảy máu bất thường khi điều trị SSRIs. Cần thận trọng khi sử dụng Dapoxetine, đặc biệt là khi sử dụng đồng thời với các thuốc có tác động lên chức năng của tiểu cầu (ví dụ như các thuốc điều trị rối loạn tâm thần không điển hình và phenothiazines, acetylsalicylic acid, thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), các chế phẩm chống kết tụ tiểu cầu) hoặc các thuốc chống đông máu (warfarin), cũng như đối với những bệnh nhân có tiền sử ưa chảy máu hoặc rối loạn đông máu.

Suy thận

không khuyến cáo dùng cho bệnh nhân suy thận nặng và cần thận trọng ở bệnh nhân suy thận nhẹ hoặc trung bình

Phản ứng khi ngưng điều trị đột ngột

Đã có báo cáo cho thấy khi đột ngột ngưng sử dụng dài ngày SSRIs trong điều trị các triệu chứng rối loạn trầm cảm mãn tính sẽ gây nên các triệu chứng như: cảm giác khó chịu, dễ kích động, trống ngực, hồi hộp, chóng mặt, rối loạn cảm giác (ví dụ cảm giác kiến bò, điện giật), lo âu, băn khoăn, đau đầu, ngủ lịm, tâm trạng không ổn định, mất ngủ, hưng cảm nhẹ.

Rối loạn mắt: dùng Oxetine có liên quan đến các tác dụng trên mắt như giãn đồng tử và đau mắt. Nên dùng thận trọng ở những bệnh nhân có tăng áp lực nội nhãn hoặc người có nguy cơ bị glaucom góc đóng.

Không dung nạp lactose: Bệnh nhân có vấn đề về di truyền hiếm gặp không dung nạp galactose, thiếu lactose – lactase hay kém hấp thu glucose — galactose thì không nên dùng thuốc này.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Thuốc có ảnh hưởng nhỏ hoặc vừa phải trên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Chóng mặt, rối loạn sự tập trung, choáng ngất, mắt nhìn mờ, tình trạng ngủ gà đã được báo cáo ở những đối tượng dùng Oxetine trong các thử nghiệm lâm sàng. Do đó, bệnh nhân nên được cảnh báo để tránh tình trạng có thể dẫn tới chấn thương bao gồm lái xe hay vận hành các máy móc nguy hiểm.

Sử dụng đồng thời aleohol với Oxetine có thể làm tăng những tác động về nhận thức liên quan tới rượu và có thể làm trầm trọng hơn các tác dụng ngoại ý trên hệ thần kinh và tim mạch như choáng ngất, dẫn đến tăng nguy cơ chấn thương do tai nạn, do vậy, nên khuyên bệnh nhân không sử dụng alcohol trong thời gian điều trị Oxetine.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: C

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Oxetine không chỉ định cho phụ nữ.

Không có những bằng chứng về khả năng sinh quái thai, hay gây nhiễm độc thai trên chuột và thỏ khi sử dụng tới liều tương ứng là 100mg/kg cân nặng (ở chuột) và 75mg/kg (ở thỏ).

Cũng không có những bằng chứng cho thấy sử dụng dapoxetine có ảnh hưởng lên đối tác đang trong thời kỳ thai nghén bởi vì các dữ liệu từ các nghiên cứu trên lâm sàng còn hạn chế. Không có những nghiên cứu có kiểm soát của Dapoxetine ở phụ nữ có thai.

Thời kỳ cho con bú:

Oxetine không chỉ định cho phụ nữ.

Người ta không biết liệu dapoxetin và chất chuyển hóa của nó có được bài xuất vào sữa mẹ hay không.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Từ các dữ liệu trên lâm sàng

Độ an toàn của OXETINE đã được đánh giá trên 6081 trường hợp xuất tinh sớm tham gia trong 5 nghiên cứu mù đôi, nghiên cứu giả dược có kiểm soát. Trong tổng số các trường hợp được đánh giá có 4222 trường hợp sử dụng OXETINE: 1615 sử dụng OXETINE 30 mg khi cần và 2607 sử dụng OXETINE với liều 60 mg khi cần hoặc sử dụng một lần mỗi ngày.

Tình trạng choáng ngất như mất ý thức đã được báo cáo trong các thử nghiệm trên lâm sàng và được coi như có liên quan đến thuốc sử dụng. Các trường hợp chủ yếu xảy ra trong vòng 3 giờ sau khi sử dụng, ngay khi dùng liều đầu tiên hoặc có liên quan đến các thủ thuật khác trên lâm sàng (như lấy máu và các hoạt động ở tư thế đứng và đo huyết áp). Các triệu chứng tiền triệu thường xuất hiện trước tình trạng choáng ngất (Xem phần Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng).

Hiện tượng giảm huyết áp khi đứng cũng đã được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng (Xem phần Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng)

Các tác dụng ngoại ý thường gặp (≥ 5%) được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng là đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, tiêu chảy, khó ngủ và mệt mỏi. Phần lớn các tác dụng ngoại ý dẫn đến việc ngưng sử dụng thuốc thường là buồn nôn (2,2% tổng số trường hợp sử dụng OXETINE) và chóng mặt (1,2% tổng số trường hợp điều trị OXETINE).

Các trường hợp tác dụng ngoại ý gặp ở ≥ 1% số người bệnh sử dụng trong các nghiên cứu lâm sàng được mô tả trong bảng 1 dưới đây:

Tác dụng không mong muốn được báo cáo ở một nghiên cứu mở dài hạn cũng tương ứng với báo cáo những nghiên cứu mù đôi và không có tác dụng ngoại ý nào khác được báo cáo

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc.

Để giúp giảm nguy cơ xảy ra ADR:

Dùng thuốc này với ít nhất một ly nước đầy.

Không dùng thuốc này nếu bạn bị mất nước. Điều này có thể xảy ra nếu:

Không uống nước trong vòng 4 đến 6 giờ trước đó.

Đổ mồ hôi trong một thời gian dài

Bị bệnh ở nhiệt độ cao, tiêu chảy hoặc khác.

Nếu cảm thấy có dấu hiệu ngất xỉu (như cảm thấy mệt mỏi, chóng mặt, bối rối, mồ hôi hoặc nhịp tim bất thường), hoặc cảm thấy chóng mặt khi bạn đứng lên, ngay lập tức nằm xuống để đầu bạn thấp hơn phần còn lại của cơ thể cho đến khi bạn cảm thấy tốt hơn. Điều này giúp không bị ngã và bị thương nếu ngất xỉu.

Không đứng dậy nhanh sau khi đã ngồi hoặc nằm trong một thời gian dài.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Tương tác dược lực hoc

Khả năng tương tác với các thuốc ức chế monoamine oxidase

Ở những bệnh nhân đang dùng một SSRI kết hợp với một chất ức chế monoamine oxidase (IMAO), đã có báo cáo những phản ứng nghiêm trọng, đôi khi gây tử vong bao gồm tăng thân nhiệt, cứng người, giật rung cơ, các đấu hiệu sinh tồn dao động nhanh và không ổn định, trạng thái tâm thần thay đổi bao gồm kích động nặng tiễn triển đến mê sảng và hôn mê.

Những phản ứng này cũng đã được báo cáo ở những bệnh nhân gần đây đã ngưng đùng một SSRI và bắt đầu dùng một IMAO. Một số trường hợp được biểu hiện với đặc tính tương tự như hội chứng thần kinh ác tính. Những dữ liệu trên động vật khi dùng kết hợp SSRI và IMAO đã cho thấy rằng 2 thuốc này có tác dụng hiệp đồng để nâng cao huyết áp, do đó dẫn tới kích thích hành vi. Do đó, không nên dùng Oxetine chung với một IMAO hay trong vòng l4 ngày sau khi ngừng dùng IMAO, tương tự, không nên dùng IMAO trong vòng 7 ngày sau khi ngừng dùng Ôxetine

Khả năng tương tác tiềm tàng với thioridazin

Dùng một mình thioridazin sẽ gây kéo dài khoảng QT — có liên quan tới chứng loạn nhịp thất nghiêm trọng. Các thuốc ức chế isoenzym CYP2Dó6 như Oxetine thì sẽ ức chế quá trình chuyển hóa của thioridazin và kết quả sẻ làm tăng nồng độ của thioridazin, do đó sẽ gây kéo dài khoảng QT. Không nên dùng Oxetine chung với thioridazin hay trong vòng 14 ngày sau khi ngừng dùng thioridazin, tương tự, không nên dùng thioridazin trong vòng 7 ngày san khi ngừng dùng Oxetine

Các thuốc/thảo dược có tác dụng cường giao cảm

như các SSRI khác, dùng đồng thời với các thuốc/thảo dược có tác dụng cường giao cảm (bao gồm MAOIs, L-tryptophan, triptans, tramadol, linezolid, SSRIs, SNRIs, lithium và St. John’s Wort (Hypericum perforatum) có thể làm tăng tác dụng cường giao cảm. Không nên sử dụng đồng thời Dapoxetine với các SSRI khác, MAOIs hoặc các thuốc/ thảo dược có tác dụng cường giao cảm hoặc trong vòng 14 ngày  sau khi ngưng sử dụng các loại thuốc đó. Tương tự như vậy, không sử dụng các loại chế phẩm nêu trên trong vòng 7 ngày sau khi ngưng sử dụng Oxetine.

Các thuốc tác động trên hệ thần kinh trung ương

Dùng Oxetine chung với các thuốc tác động vào hệ thần kinh trung ương (ví du: chống động kinh, chống trầm cảm, chống loạn thần, chống lo âu và thuốc an thần) đã không được đánh giá một cách có hệ thống ở những bệnh nhân xuất tỉnh sớm. Do đó, cần thận trọng khi cần thiết khi dùng chung Oxetine với những thuốc này

Tương tác dược đông hoc

Ảnh hưởng của các thuốc dùng đồng thời lên dược động học của Oxetine

Các nghiên cức trong in vitro trên gan, thận và ruột của người cho thấy Dapoxetine được chuyển hóa chủ yếu bởi hệ CYP2D6, CYP3A4 và flavin monooxygenase 1 (FMO1). Do vậy, các thuốc ức chế hệ enzyme này có thể làm giảm độ thanh thải của Dapoxetine.

Các chất ức chế CYP3A4

* Các chất ức chế mạnh CYP3A4

Dùng ketoconazol ﴾200 mg, ngày hai lần trong 7 ngày) sẽ làm tăng nồng độ đỉnh trong huyết thanh Cmaxvà diện tích đường cong dưới nồng độ AUC của dapoxentin (liều 60 mg/ngày) tương ứng là 35% và 99 %. Xét đến sự đóng góp của Dapoxetine không gắn kết và desmethyldapoxetine, nồng độ đỉnh của thành phần có hoạt tính (tổng lượng dapoxetine không gắn kết và desmethyldapoxetine) có thể tăng lên tới 25% và diện tích đường cong dưới nồng độ của thành phần có hoạt tính có thể tăng lên gấp đôi nếu sử dụng đồng thời với các chất ức chế mạnh CYP3A4. Nồng độ đỉnh Cmax và diện tích đường cong dưới nồng độ AUC của phần có hoạt tính có thể tăng đáng kể ở nhóm người suy giảm chức năng của hệ enzyme CYP2D6, ví dụ như những người kém chuyển hóa CYP2D6 hoặc sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế CYP2D6. Do vậy không sử dụng đồng thời Dapoxetine với các thuốc có khả năng ức chế CYP3A4 như ketoconazole, itraconazole, ritonavir, saquinavir, telithromycin, nefazodone, nelfinavir và atazanavir.

* Các chất ức chế vừa phải CYP3A4:

dùng đồng thời với các chất ức chế vừa phải CYP3A4 (ví dụ: erythromycin, clarithromycin, fluconazol, amprenavir, fosamprenavir, aprepitant, verapamil, diltiazem) cũng có thể làm tăng đáng kế độ phơi nhiễm của dapoxetin và desmethyldapoxetin, đặc biệt là ở những người chuyến hóa kém CYP2D6. Liều tối đa của Oxetine là 30 mg nếu dùng chung với bất kỳ thuốc nảo trong nhóm này

Bệnh nhân được biết là chuyên hóa rộng rãi CYP2D6, liều tối đa Oxetine là 30 mg khi dùng chung với chất ức chế mạnh CYP3A4 và thận trọng khi dùng liều 60 mg Oxetine chung với chất ức chế vừa phải CYP3A4

Các chất ức chế mạnh CYP2D6

Cmax và AUC của Oxetine (60 mg liều duy nhất) tăng 50% va 88%, theo thứ tự tương ứng khi có sự hiện diện của fluoxetin (60 mg/ngày trong 7 ngày).. Xem xét nồng độ của dapoxetin không gắn kết và desmethyldapoxetin, nồng độ tối đa Cmax của đạng có hoạt tính tăng khoảng 50% và diện tích đường cong dưới nồng độ AUC của dạng có hoạt tính tăng gấp đôi nếu dùng chung với các thuốc ức chế mạnh CYP2D6.. Cmax và AUC của dạng có hoạt tính tăng lên tương tự như ở những người chuyên hóa kém CYP2D6, do đó tý lệ mắc phải và mức độ nghiêm trong các tác dung không mong muốn sẽ cao hơn.

Chất ức chế PDE5

Không nên dùng Oxetine ở những bệnh nhân đang dùng chất ức chế PDES do khả năng làm giảm dung nạp tư thế đứng. Dược động học của dapoxetin (60 mg) kết hợp với tadalafil (20 mg) và sildenafil (100 mg) đã được đánh giá trong một nghiên cứu chéo, đơn liều. Tadalafil không ảnh hưởng đến dược động học của dapoxetin. Sildenafil gây ra thay đổi nhẹ trong dược động học của dapoxetin (AUC tăng 22%, Cmạy tăng 4%) nhưng không có ý nghĩa lâm sàng. Sử dụng đồng thời Oxetine với các thuốc ức chế PDE5 có thể dẫn đến hạ huyết áp thế đứng. Tính an toàn và hiệu quả của Oxetine ở bệnh nhân mắc đồng thời 2 bệnh xuất tỉnh sớm và rối loạn chức năng cương dương được điều trị với Oxetine và chất ức chế PDE hiện vẫn chưa được thiết lập

Tamsulosin

Sử dụng đồng thời một liều đơn hay nhiều liều liên tiếp 30 mg hoặc 60 mg Dapoxetine trên những bệnh nhân sử dụng Tamsulosin hàng ngày không làm thay đổi dược động học của Tamsulosin. Sự kết hợp của Dapoxetine với tamsulosin không làm thay đổi các thông số về huyết động khi đứng và không có sự khác biệt khi sử dụng đơn độc Tamsulosin hay kết hợp với Dapoxetine với liều 30 mg hoặc 60 mg; tuy nhiên nên thận trọng khi sử dụng Dapoxetine cho những bệnh nhân sử dụng các chất ức chế thụ thể alpha andreneric vì nó có thể làm giảm huyết áp khi đứng.

Những thuốc chuyển hóa qua CYP2D6

Dùng nhiều liều Oxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) cùng với liều đơn 50 mg desipramine sẽ làm tăng nồng độ tối đa bình quân Cmax và diện tích đường cong dưới nồng độ AUC của despiramine tương ứng là 11% và 19%, so với khi dùng desipramine. Oxetine có thể làm tăng nồng độ trong huyết tương của các thuốc chuyển hóa thông qua hệ CYP2D6.

Những thuốc chuyển hóa qua CYP3A

Dùng nhiều liều Oxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) sẽ làm giảm AUC của midazolam (8 mg liều duy nhất) khoảng 20%

Những thuốc chuyển hóa qua CYP2C19

Dùng nhiều liều Oxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) không ức chế sự chuyển hóa của một liều duy nhất 40 mg omeprazol. Oxetine không ảnh hưởng đến dược động học của các cơ chất CYP2C19 khác

Những thuốc chuyển hóa qua CYP2C9

Dùng nhiều liều Oxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) không ảnh hưởng đến dược động học hay dược lực học của liều duy nhất 5 mg glyburid. Oxetine không ảnh hưởng đến được động học của các cơ chất CYP2C9 khác

Warfarin và các chất được biết là ảnh hưởng đến sự đông máu và/hay chức năng của tiểu cầu

Không có dữ liệu đánh giá hiệu quả sử dụng lâu dài warfarin cùng với Oxetine, do đó cần thận trọng khi dùng Oxetine ở bệnh nhân dùng đang dùng warfarin lâu dài. Trong một nghiên cứu dược động học, Oxetine viên (60 mg / ngày trong 6 ngày) không ảnh hưởng đến dược động học hoặc dược (PT hoặc INR) của warfarin sau một liều duy nhất 25 mg.

Đã có báo cáo về chảy máu bất thường với SSRIs

Ethanol

Sử dụng Ethanol đơn liều 0,5 g/kg thể trọng (tương đương khoảng 2 cốc) khi đang dùng Oxetine (liều đơn 60 mg) không làm ảnh hưởng đến dược động học của Oxetine hay dược động học của Ethanol; tuy nhiên, sử dụng đồng thời Oxetine với Ethanol sẽ làm tăng triệu chứng ngủ gà và làm giảm rõ rệt sự tỉnh táo. Đánh giá dược lực học của tình trạng giảm sút nhận thức (đánh giá mức độ cảnh giác và các dấu hiệu thay thế) không cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm dùng giả dược so với nhóm dùng đơn thuần Oxetine hay Ethanol tuy nhiên cho thấy ảnh hưởng rõ rệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm dùng phối hợp Oxetine với Ethanol và nhóm dùng Ethanol đơn độc. Sử dụng đồng thời Oxetine với Ethanol làm tăng nguy cơ hoặc làm nặng thêm các tác dụng ngoại ý như: chóng mặt, đau đầu, phản ứng chậm  hoặc thay đổi óc phán đoán. Sự kết hợp giữa Oxetine với rượu có thể làm tăng các tác dụng ngoại ý trên hệ thần kinh và tim mạch như choáng ngất, do đó làm tăng nguy cơ gây chấn thương do tai nạn, nên khuyên bệnh nhân không uống rượu trong thời gian sử dụng Oxetine.

4.9 Quá liều và xử trí:

Không có báo cáo về trường hợp quá liều nào được ghi nhận trong thử nghiệm lâm sàng. Không có trường hợp tác dụng ngoại ý không dự tính trước nào được báo cáo trong các nghiên cứu về dược lý lâm sàng của Oxetine với liều hằng ngày lên tới 240 mg (mỗi lần dùng 120 mg cách nhau 3 giờ). Nhìn chung các triệu chứng quá liều đối với các thuốc ức chế chọn lọc tái hấp thu Serotonin bao gồm các phản ứng do chất trung gian serotonin như ngủ gà, rối loạn tiêu hóa như buồn nôn và nôn, nhịp tim nhanh, rung giật, trống ngực và chóng mặt.

Trong trường hợp dùng quá liều nên tiến hành biện pháp điều trị hỗ trợ. Do lượng gắn kết với protein cao và chất lượng dapoxetin hydrochlorid phân bố rộng khắp cơ thể, sử dụng thuốc lợi tiểu, chạy thận nhân tạo, truyền máu và thay dịch đường không có hiệu quả. Hiện chưa có thuốc giải độc cho Oxetine.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm dược lý: Thuộc nhóm thuốc dùng cho niệu khoa. Mã ATC: G04BX14

Cơ chế tác dụng của dapoxetine trong điều trị xuất tinh sớm được cho là có liên quan đến việc ức chế có chọn lọc tái hấp thu Serotonin của nơ ron thần kinh và hậu quả là ảnh hưởng đến hoạt động truyền tải nơ ron ở các thụ thể trước và sau synap. Sự xuất tinh ở nam giới chủ yếu được điều tiết bởi hệ thần kinh giao cảm. Sự xuất tinh xuất phát từ một trung tâm phản xạ ở tủy sống, do tế bào não điều tiết, khởi đầu từ một số nhân ở tế bào não (bên trong vùng dưới đồi và vùng dưới đồi). Ở chuột, dapoxetine ức chế hiện tượng xuất tinh thông qua tác động ở phía trên tủy sống với sự có mặt của nhân tế bào khổng lồ ở thùy bên, là phần não có cấu trúc cần thiết để gây nên hiện tượng xuất tinh. Dapoxetine điều chỉnh phản xạ xuất tinh ở chuột, làm tăng khả năng trì hoãn xuất tinh ngoài âm đạo và làm giảm khoảng thời gian xuất tinh ngoài âm đạo.

Cơ chế tác dụng:

Cơ chế tác dụng của thuốc vẫn chưa rõ ràng, được cho là có liên quan đến sự ức chế tái hấp thu serotonin và từ đó tăng cường hoạt động serotonin tự do. Các hệ giao cảm, phó giao cảm và tế bào soma, dưới sự kích thích của sinh dục và não bộ sẽ tích hợp và xử lý, phối hợp để điều khiển quá trình xuất tinh. Bằng chứng thực nghiệm chỉ ra rằng serotonin (5-HT), tạo ra một vai trò ức chế xuất tinh. Cho đến nay, ba phân nhóm thụ thể 5-HT (5-HT (1A), 5-HT (1B) và 5-HT (2C)) đã được nghiên cứu chứng minh là trung gian hoạt động điều hòa 5-HT khi xuất tinh.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu

Dapoxetine được hấp thu nhanh chóng với liều tối đa trong huyết tương (Cmax) đạt được trong vòng từ 1 – 2 giờ sau khi uống thuốc. Sinh khả dụng hoàn toàn là 42% (khoảng từ 15-76%). Sau khi dùng nhiều liều, giá trị AUC cho cả dapoxetin và chất chuyển hóa có hoạt tính desmethyldapoxetin (DED) sẽ tăng khoảng 50% khi so sánh với giá trị AUC khi dùng liều duy nhất.

Ăn nhiều chất béo sẽ làm giảm nhẹ Cmax (khoảng 10%) và tăng nhẹ diện tích đường cong dưới nồng độ AUC (khoảng 12%) của dapoxetine, do đó thời gian để dapoxetin đạt nồng độ đỉnh sẽ hơi chậm hơn so với bình thường. Những thay đổi này không đáng kể trên lâm sàng. Thuốc có thể dùng cùng hay không cùng với thức ăn

Phân bố

In vitro, Có hơn 99% dapoxetine được gắn kết với protein huyết tương của người trong các nghiên cứu in vitro. Chất chuyển hóa có hoạt tính là desmethyldapoxetine gắn kết tới 98.5% với protein. Dapoxetine được phân bố nhanh chóng với thể tích hằng định trung bình là 162L. Sau khi tiêm tĩnh mạch cho người , thời gian bán thải trung bình ban đầu, thời gian bán thải trung gian và thời gian bán thải cuối cùng tương ứng là 0,10 giờ, 2,19 giờ và 19,3 giờ.

Biến đổi sinh học

Các nghiên cứu in vitro gợi ý rằng dapoxetine được làm sạch bởi một hệ thống enzym ở gan và thận, chủ yếu là CYP2D6, CYP3A4, và flavin monooxygenase (FMO1). Sau khi uống thuốc, trong một nghiên cứu trên lâm sàng được thiết kế để tìm hiểu về sự chuyển hóa của 14C-dapoxetine, dapoxetine được chuyển hóa chủ yếu thành nhiều loại chất chuyển hóa, chủ yếu thông qua con đường biến đổi sinh học: N-oxidation, N-demethylation, naphthyl hydroxylation, glucuronidation và sulfation. Cũng có bằng chứng cho thấy đầu tiên thuốc trải qua quá trình chuyển hóa tiền hệ thống sau khi uống.

Dapoxetine không chuyển hóa và dapoxetine-N-oxide là 2 chất chủ yếu được lưu thông trong huyết tương. Các chất chuyển hóa phụ bao gồm desmethyldapoxetine, có đáp ứng tương đương với dapoxetine, và didesmethyldapoxetine, chiếm khoảng 50% hiệu lực của Dapoxetine. Cần lưu ý đến lượng Dapoxetine có hiệu lực và không gắn kết với protein huyết tương, chỉ có desmethyldapoxetine có thể góp phần tạo nên tác dụng của dapoxetine trong in vivo (xem phần Dược động học trên các nhóm bệnh nhân đặc biệt; suy gan và CYP2D6 Polymorphism). Thời gian bán hủy của desmethyldapoxetine tương đương với dapoxetine.

Thải trừ

Các chất chuyển hóa của dapoxetine chủ yếu được thải trừ qua nước tiểu ở dạng tiếp hợp. Phần thuốc không chuyển hóa không xác định được trong nước tiểu. Dapoxetine được thải trừ nhanh chóng, dựa vào bằng chứng cho thấy nồng độ còn lại rất thấp sau 24 giờ (dưới 5% so với nồng độ đỉnh). Có một lượng nhỏ Dapoxetine được tích lũy sau khi dùng liều hàng ngày. Thời gian bán hủy cuối cùng xấp xỉ vào khoảng 19 giờ sau khi uống thuốc.

Dược động học trên một số nhóm người bệnh đặc biệt

Chủng tộc: Phân tích các nghiên cứu về dược lý lâm sàng khi dùng liều đơn 60 mg Dapoxetine cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa người da trắng, da đen, người địa trung hải và châu Á. Trong một nghiên cứu so sánh về dược động học của Dapoxetine giữa người Nhật bản và người da trắng cho thấy nồng độ diện tích đường cong dưới nồng độ và nồng độ đỉnh trong huyết tương của người Nhật bản cao hơn tương ứng là 10% và 20% do cân nặng của người Nhật bản thấp hơn. Sự khác biệt nhỏ này không có ý nghĩa trên lâm sàng.

Người cao tuổi (trên 65 tuổi): Phân tích một nghiên cứu về dược lý lâm sàng khi sử dụng một liều đơn 60 mg Dapoxetine cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt về các thông số dược động học (nồng độ đỉnh trong huyết tương, diện tích đường cong dưới nồng độ và thời gian tối đa) giữa các đối tượng khỏe mạnh cao tuổi và những nam giới khỏe mạnh trẻ tuổi hơn.

Suy chức năng thận:

Trong một nghiên cứu dược lý lâm sàng sử dụng liều đơn 60mg Dapoxetine, không thấy có sự liên hệ giữa độ thanh thải creatinine và nồng độ đỉnh trong huyết tương và diện tích đường cong dưới nồng độ của Dapoxetine ở những trường hợp suy chức năng thận ở mức độ nhẹ (độ thanh thải Creatinine từ 50-80mL/phút), vừa (độ thanh thải Creatinine từ 30 đến < 50mL/phút) và nặng (độ thanh thải Creatinine < 30mL/phút). Chưa đánh giá được đặc tính dược động học của Dapoxetine trên những bệnh nhân lọc máu. Các dữ liệu về Dapoxetine trên bệnh nhân phải chạy thận nhân tạo còn rất khiêm tốn.

Suy chức năng gan:

Dược động học của dapoxetine và desmethyldapoxetine không thay đổi ở những bệnh nhân suy chức năng gan ở mức độ nhẹ. Đối với những bệnh nhân suy chức năng gan mức độ trung bình (Chil-Pugh nhóm B), nồng độ đỉnh trong huyết tương của Dapoxetine không gắn kết với Protein tăng 55% và diện tích đường cong dưới nồng độ tăng 120%. Nồng độ đỉnh trong huyết tương của dạng có hoạt tính Desmethyldapoxetine không gắn kết là không đổi trong khi đó diện tích đường cong dưới nồng độ tăng lên gấp đôi. Đối với bệnh nhân suy chức năng gan nặng, nồng độ đỉnh trong huyết tương của Dapoxetine không gắn kết là không đổi nhưng diện tích đường cong dưới nồng độ tăng lên trên 3 lần. Diện tích đường cong dưới nồng độ của phần có hoạt tính tăng lên nhiều lần.

Tình trạng chuyển hóa CYP2D6:

Trong một nghiên cứu dược lý lâm sàng dùng liều đơn 60mg Dapoxetine, nồng độ của Dapoxetine đối với những bệnh nhân ít chuyển hóa CYP2D6 cao hơn so với những cá thể chuyển hóa nhiều CYP2D6 (nồng độ đỉnh cao hơn 31% và diện tích đường cong dưới nồng độ cao hơn 36% với dapoxetine và nồng độ đỉnh cao hơn 98%, diện tích đường cong dưới nồng độ cao hơn 161% đối với desmethyldapoxetine). Do đó, nồng độ đỉnh của chất chuyển hóa Dapoxetine có thể tăng xấp xỉ 46% và diện tích đường cong dưới nồng độ tăng xấp xỉ 90%. Sự tăng lên này có thể gây hậu quả là làm tăng nguy cơ và mức độ nặng lên của các tác dụng ngoại ý phụ thuộc liều. Sự an toàn của Dapoxetine đối với bệnh nhân kém chuyển hóa CYP2D6 có liên đến việc sử dụng đồng thời các loại thuốc khác có thể gây ức chế quá trình chuyển hóa dapoxetine như chất ức chế CYP3A4 vừa và mạnh.

Nồng độ đỉnh trong huyết tương của Dapoxetine và desmethyldapoxetine ở những bệnh nhân chuyển hóa nhiều CYP2D6 sẽ bị giảm xuống.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

….

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

An toàn tiền lâm sàng

Trong những nghiên cứu sử dụng theo đường uống, dapoxetine không gây ung thư trên động vật gặm nhấm khi dùng thuốc theo đường uống hàng ngày trong khoảng 2 năm với liều lên tới 225 mg/kg/ngày, xấp xỉ gấp đôi liều khuyên dùng tối đa trên người (Maximum Recommended Human Dose (MRHD)) 60 mg/ngày. Dapoxetine cũng không gây nên các khối u trên chuột Tg.rasH2 mice khi dùng liều tối đa có thể lên tới 100 mg/kg trong 6 tháng và 200 mg/kg trong 4 tháng. Nồng độ ổn định của Dapoxetine trên chuột sau 6 tháng dùng thuốc ở liều 100 mg/kg/ngày thấp hơn so với khi dùng liều đơn 60 mg trên lâm sàng.

Khi sử dụng hàng ngày tại chỗ trong 6 tháng cho chuột có biến đổi gen Tg.AC transgenic mice ở liều 375, 750, hoặc 1500 mg/kg/ngày đã gây nên các khối u (u nhú tại chỗ dùng thuốc) ở liều 750 mg/kg/ngày hoặc cao hơn. Sự phơi nhiễm thuốc toàn thân, được xác định bằng diện tích đường cong dưới nồng độ của Dapoxetine và các chất chuyển hóa của nó trong cơ thể người cao hơn từ 1-2 lần khi dùng liều khuyên dùng tối đa cho nam giới 60 mg. Các phản ứng khi dùng tại chỗ không có mối liên hệ với việc dùng thuốc theo đường uống.

Dapoxetine và các chất chuyển hóa chính trong cơ thể con người không có khả năng gây ra các biến đổi về gen trong định lượng vi khuẩn Ames trên in vitro hoặc trong nghiên cứu biến đối gen ở tế bào lympho của chuột. Dapoxetine không gây biến đối chromosom ở tế bào buồng trứng của chuột Hamster Trung quốc trong định lượng gen trên in vivo.

Dựa vào các dữ liệu về một nghiên cứu khả năng gây ung thư kéo dài trong 2 năm ở động vật gặm nhấm, 6 tháng đối với Tg.rasH2 và độc tính về gen, cho thấy dapoxetine không có nguy cơ gây ung thư.

Thuốc không có tác dụng trên khả năng sinh sản, cơ quan sinh dụng và hình thái học ở chuột đực hay chuột cái và không có dấu hiệu về tác dụng có hại lên bào thai và thai nhi trên cả chuột và thỏ.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam