Ciprofloxacin – Aristin-C

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Ciprofloxacin

Phân loại: Thuốc Kháng sinh nhóm Quinolon, Fluoroquinolon thế hệ 2

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J01MA02, S01AE03, S02AA15, S03AA07.

Biệt dược gốc: CIPROBAY

Biệt dược: Aristin-C

Hãng sản xuất : Anfarm hellas S.A

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch tiêm truyền: hộp 1 chai x 100mL, hộp 48 chai x 100mL., Mỗi 100mL: Ciprofloxacin 200mg.

Thuốc tham khảo:

ARISTIN-C
Mỗi chai 100ml có chứa:
Ciprofloxacin …………………………. 200 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Aristin-C được chỉ định điều trị các nhiễm khuẩn do các tác nhân gây bệnh nhạy cảm , trong các trường hợp sau. Cần đặc biệt lưu ý các thông tin về đề kháng ciprofloxacin hiện có trước khi bắt đầu điều trị.

Cần cân nhắc hướng dẫn chính thức về việc sử dụng các tác nhân kháng khuẩn thích hợp

Người lớn

Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới do vi khuẩn Gram âm:

Đợt cấp tính trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Viêm phế quản phổi ở các bệnh nhân xơ nang hóa hoặc giãn phế quản.

Viêm phổi.

Viêm tai giữa mủ mạn tính.

Đợt cấp của viêm xoang mãn tính, đặc biệt do vi khuẩn Gram âm.

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu.

Viêm mào tinh hoàn bao gồm cả các trường hợp có nguyên nhân do lậu cầu khuẩn Neisseria gonorrhoeae.

Bệnh vùng xương chậu bao gồm cả các trường hợp có nguyên nhân do lậu cầu khuẩn Neisseria gonorrhoeae.

Trong các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục nêu ở trên, nếu nguyên nhân được nghi ngờ hay xác định là do lậu cầu khuẩn Neisseria gonorrhoeae, điều đặc biệt quan trọng là phải xác định được thông tin tỉ lệ đề kháng tại địa phương đối với Ciprofloxacin và xác nhận lại mức nhạy cảm dựa trên các kết quả thử nghiệm.

Nhiễm khuẩn dạ dày- ruột (VD: tiêu chảy du lịch).

Nhiễm khuẩn trong ổ bụng.

Nhiễm khuẩn da và mô mềm gây ra bởi các vi khuẩn gram-âm.

Viêm tai ngoài ác tính.

Nhiễm khuẩn xương khớp.

Bệnh than qua đường hô hấp (điều trị dự phòng sau phơi nhiễm và điều trị triệt để).

Ciprofloxacin cũng có thể được sử dụng điều trị các nhiễm khuẩn ở các bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính.

Trẻ em và trẻ vị thành niên

Nhiễm khuẩn phế quản-phổi trong bệnh xơ nang do Pseudomonas aeruginosa.

Nhiễm khuẩn đường niệu có biến chứng và viêm thận-bể thận.

Bệnh than qua đường hô hấp (điều trị dự phòng sau phơi nhiễm và điều trị triệt để).

Ciprofloxacin cũng có thể được sử dụng điều trị các loại nhiễm khuẩn nặng ở trẻ em và trẻ vị thành niên khi cần thiết.

Việc điều trị chỉ nên được bắt đầu bởi các bác sĩ có kinh nghiệm trong điều trị bệnh xơ nang và/hoặc các bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng ở trẻ em và trẻ vị thành niên.

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu không phức tạp: Do kháng sinh fluoroquinolon, trong đó có Ciprofloxacin Kabi liên quan đến phản ứng có hại nghiêm trọng và nhiễm khuẩn đường tiết niệu không có biến chứng ở một số bệnh nhân có thể tự khỏi, chỉ nên sử dụng Ciprofloxacin Kabi cho những bệnh nhân không có lựa chọn điều trị khác thay thế.

Đợt nhiễm khuẩn cấp của viêm phế quản mạn tính: Do kháng sinh fluoroquinolon, trong đó có Ciprofloxacin Kabi liên quan đến phản ứng có hại nghiêm trọng và đợt nhiễm khuẩn cấp của viêm phế quản mạn tính ở một số bệnh nhân có thể tự khỏi, chỉ nên sử dụng Ciprofloxacin Kabi cho những bệnh nhân không có lựa chọn điều trị khác thay thế.

Viêm xoang cấp tính do vi khuẩn: Do kháng sinh fluoroquinolon, trong đó có Ciprofloxacin Kabi liên quan đến phản ứng có hại nghiêm trọng và viêm xoang cấp tính do vi khuẩn ở một số bệnh nhân có thể tự khỏi, chỉ nên sử dụng Ciprofloxacin Kabi cho những bệnh nhân không có lựa chọn điều trị khác thay thế.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dung dịch tiêm truyền ciprofloxacin nên được kiểm tra bằng mắt trước khi sử dụng. Không sử dụng nếu bị đục

Ciproioxacin được dùng bằng đường truyền tinh mach. Ở trẻ em, thời gian tiêm truyền là 60 phút.

Ở người lớn, thời gian tiêm truyền là 60 phút khi dùng 400 mg Ciprofloxacin 2 mg/ml và 30 phút khi dùng 200 mg Aristin C. Truyền chậm vào tĩnh mạch sẽ làm giảm tối thiểu sự khó chịu ở bệnh nhân và giảm kích ứng mạch.

Dung dịch tiêm truyền Ciprofloxacin có thể được truyền trực tiếp hay sau khi phối trộn với các dung địch tiêm truyền phù hợp khác.

Liều dùng:

Liều dùng được xác định dựa vào triệu chứng, mức độ và vị trí nhiễm khuẩn. mức nhạy cảm của vi khuẩn đối với Ciprofloxacin, chức năng thận của bệnh nhân và trọng lượng cơ thể của trẻ em và thanh thiếu niên.

Thời gian điều trị phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh, diễn biến lâm sàng và chủng vi khuẩn, Sau khi điều trị ban đầu bằng đường truyền tĩnh mạch, phác đồ điều trị chuyển sang dạng uống với viên nén hay hỗn dịch tùy thuộc vào các dấu hiệu lâm sàng, theo sự chỉ định của bác sĩ. Chuyển sang đường uống sau khi truyền tĩnh mạch càng sớm càng tốt.

Sau khi điều trị ban đầu bằng đường truyền tĩnh mạch, phác để điều trị chuyển sang dạng uống với viên nén hay hỗn dịch tay thuộc vào các dấu hiệu lâm sàng, theo sự chỉ định của bác sĩ. Chuyển sang đường uống sau khi truyền tĩnh mạch càng sớm càng tốt.

Điều trị nhiễm khuẩn với các vi khuẩn chuyên biệt (như Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter hay Staphylococci) có thể phải dùng liều cao hơn và phối hợp với các kháng sinh khác.

Điều trị một số bệnh nhiễm khuẩn (như bệnh viêm tiểu khung, nhiễm khuẩn trong ổ bụng, nhiễm khuẩn ở bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính và nhiễm khuẩn xương và khớp) đòi hỏi phải phối hợp với các kháng sinh khác phụ thuộc vào tác nhân gây bệnh.

Người lớn:

Chỉ định Liều hàng ngày (tính theo mg) Thời gian điều trị tông cộng (bao gồm cả điều trị theo đường uống)
Các nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới 400 mg x 2 lần/ngày đến

400 mg x 3 lần/ngày

7 – 14 ngày
Các nhiễm khuân đường hô hấp trên Đợt cấp của viêm xoang mãn tính. 400 mg x 2 lần/ngày đến

400 mg x 3 lần/ngày

7 – 14 ngày
Viêm tai giữa mủ mạn tính 400 mg x 2 lần/ngày đến

400 mg x 3 lần/ngày

7 – 14 ngày
Viêm tai ngoài ác tính 400 mg x 2 lần/ngày đến

400 mg x 3 lần/ngày

28 ngày đến 3 tháng
Các nhiễm khuẩn đường tiết niệu Viêm thận có và không có biến chứng 400 mg x 2 lần/ngày đến

400 mg x 3 lần/ngày

7 – 21 ngày; trong các trường hợp đặc biệt (như áp xe), thuốc có thể được sử đụng kéo dài trên 21 ngày.
Viêm tuyến tiên liệt 400 mg x 2 lần/ngày đến

400 mg x 3 lần/ngày

2 – 4 tuần (cấp tính)
Các nhiễm khuẩn đường sinh dục Viêm mào tinh hoàn và các bệnh nhiễm khuẩn vùng xương chậu 400 mg x 2 lần/ngày đến

400 mg x 3 lần/ngày

Ít nhất 14 ngày
Các nhiễm khuẩn dạ dày ruột và nhiễm khuẩn trong ổ bụng Tiêu chảy do các vi khuẩn có hại bao gồm cả Shigella spp., các Shigella dysenteriae loại l khác và việc điều trị theo kinh nghiệm các trường hợp tiêu chảy du lịch nặng. 400 mg x 2 lần/ngày 1 ngày
Tiêu chảy do Shigella dysenteriae loại 1 400 mg x 2 lần/ngày 5 ngày.
Tiêu chảy do Vibrio cholerae 400 mg x 2 lần/ngày 3 ngày
Sốt thương hàn 400 mg x 2 lần/ngày 7 ngày
Các nhiễm khuẩn trong ổ bụng do vi khuẩn Gram-âm 400 mg x 2 lần/ngày đến

400 mg x 3 lần/ngày

5-14 ngày
Các nhiễm khuẩn da và mô mềm 400 mg x 2 lần/ngày đến

400 mg x 3 lần/ngày

7 – 14 ngày
Nhiễm trùng xương khớp 400 mg x 2 lần/ngày đến

400 mg x 3 lần/ngày

Tối đa 3 tháng
Điều trị hoặc dự phòng nhiễm khuẩn ở các bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính. Ciprofloxacin cần được phối hợp với các chất kháng khuẩn thích hợp khác theo hướng dẫn chung 400 mg x 2 lần/ngày đến

400 mg x 3 lần/ngày

Việc điều trị cần được kéo dài cho đến khi chấm đứt giai đoạn giảm bạch cầu trung tính

 

Bệnh than (phòng và chữa bệnh) đối với bệnh nhân yêu cầu điều trị theo đường tiêm. Trong trường hợp nghi ngờ hoặc xác định chắc chắn do Bacillus anthracis, ciprofloxacin cần được sử dụng càng sớm càng tốt. 400 mg x 2 lần/ngày 60 ngày từ khi xác nhận có tiếp xúc với Bacillus anthracis

Trẻ em và thanh thiếu niên

Chỉ định Liều hàng ngày (tính theo mg) Thời gian điều trị tổng cộng (bao gồm cả điều trị theo đường uống)
Xơ nang hóa 10 mg/kg thể trọng x 3 lần/ngày; liều tối đa lên tới 400mg cho mỗi lần 10 – 14 ngày
Viêm thận và các nhiễm khuẩn đường tiết niệu 6 mg/kg thể trọng x 3 lần/ngày; liều tối đa lên tới 400mg cho mỗi lần 10 – 21 ngày
Bệnh than (phòng và chữa bệnh) ở các bệnh nhân yêu cầu sử dụng đường tiêm. Trong các trường hợp nghi ngờ hoặc chắc chắn gây ra bởi Bacillus anthracis, cần chỉ định ciprofloxacin càng sớm càng tốt 10 mg/ kg thể trọng x 2 lần/ngày đến 15 mg/kg thể trọng x 2 lần/ngày, liều tối đa lên tới 400mg cho mỗi lần 60 ngày kể từ khi xác nhận có tiếp xúc với Bacillus anthracis
Các nhiễm khuẩn khác 10 mg/ kg thể trọng x 3 lần/ngày, liều tối đa lên tới 400mg cho mỗi lần Tùy theo kiểm nhiễm khuẩn

Người già:

Liều tùy thuộc vào mức độ nặng của nhiễm khuẩn và độ thanh thải creatinin.

Bệnh nhân suy gan, suy thận:

Liều khởi đầu và liều duy trì khuyến cáo cho bệnh nhân suy thận.

Độ thanh thải creatinin [ml/phút/1,73 m2] Mức creatinin huyết thanh [µmol/l] Liều tiêm tĩnh mạch [mg]
>60 < 124 Dùng liều thông thường
30 – 60 124 – 168 200 – 400 mg mỗi 12 giờ
<30 > 169 200 – 400 mg mỗi 24 giờ
Bệnh nhân thẩm tách máu > 169 200 – 400 mg mỗi 24 giờ (sau khi thẩm tách)
Bệnh nhân thẩm tách màng bụng > 169 200 – 400 mg mỗi 24 giờ

Không cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy giảm chức năng gan.

Chưa có các dữ liệu về liều dùng ở trẻ em bị suy gan và (hoặc) suy thận.

4.3. Chống chỉ định:

Aristin C chống chỉ định ở bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với ciprofloxacin, hoặc bất kỳ thuốc nào thuốc nhóm quinolon hoặc với bất cứ thành phần nào của thuốc.

Chống chỉ định dùng phối hợp với tizanidin.

Không được dùng cho phụ nữ mang thai , cho con bú, trừ khi buộc phải dùng.

4.4 Thận trọng:

Nhiễm khuẩn nặng và nhiễm nhiều loại vi khuẩn gram (+) và các vi khuẩn kỵ khí:

Đơn trị liệu với ciprofloxacin không phù hợp cho những nhiễm khuẩn nặng và các nhiễm khuẩn do vi khuẩn gram (+) và vi khuẩn kỵ khí gây ra. Với những nhiễm khuẩn như vậy, phải kết hợp ciprofloxacin với các kháng sinh khác.

Nhiễm tụ cầu (gồm cả Streptococcus pneumoniae):

Không khuyến cáo Ciprofloxacin dùng điều trị các nhiễm khuẩn Streptococcus do không có hiệu quả.

Nhiễm khuẩn đường sinh dục:

Viêm tinh hoàn-mào tinh hoàn và các bệnh viêm khung xương chậu có thể do lậu cầu Neisseria gonorrhoeae đề kháng fluoroquinolon.

Đối với viêm tinh hoàn-mào tinh hoàn và các bệnh viêm khung xương chậu, chỉ nên cân nhắc điều trị theo kinh nghiệm bằng ciprofloxacin kết hợp với một kháng sinh thích hợp khác (ví dụ cephalosporin) khi đã loại bỏ được nguyên nhân do Neisseria gonorrhoeae kháng ciprofloxacin gây ra. Nếu không có tiến triển sau 3 ngày điều trị, nên cân nhắc liệu pháp điều trị.

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu:

Tính đề kháng fluoroquinolon của Escherichia coli – tác nhân gây bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu thường gặp nhất – thay đổi trong cộng đồng châu Âu. Bác sĩ kê đơn nên xem xét đến tỷ lệ kháng thuốc tại địa phương của Escherichia coli đối với các fluoroquinolon.

Nhiễm khuẩn ổ bụng:

Các dữ liệu về tính hiệu quả của ciprofloxacin trong điều trị nhiễm khuẩn ổ bụng sau phẫu thuật còn hạn chế.

Tiêu chảy ở người đi du lịch:

Việc lựa chọn ciprofloxacin trong điều trị nên xem xét đến thông tin kháng thuốc ciprofloxacin của những tác nhân gây bệnh có thể gặp ở những vùng mà bệnh nhân đi du lịch.

Nhiễm khuẩn xương và khớp:

Nên kết hợp ciprofloxacin với các kháng sinh khác dựa vào kết quả hồ sơ vi sinh vật.

Bệnh than qua hô hấp:

Việc sử dụng thuốc trên người căn cứ vào dữ liệu về tính nhạy cảm in vitro và dữ liệu nghiên cứu trên động vật cùng với dữ liệu hạn chế trên người. Bác sĩ điều trị nên tham khảo các tài liệu được thừa nhận trong nước và/hoặc quốc tế về việc điều trị bệnh than.

Trẻ em:

Việc sử dụng ciprofloxacin ở trẻ em và trẻ vị thành niên nên tuân theo các hướng dẫn chính thống hiện có. Việc bắt đầu điều trị với ciprofloxacin chỉ nên được thực hiện bởi các bác sĩ có kinh nghiệm trong điều trị xơ nang và/hoặc nhiễm khuẩn nặng ở trẻ em và trẻ vị thành niên.

Ciprofloxacin có thể gây đau khớp ở các khớp chịu trọng lực trên động vật chưa trưởng thành. Chỉ nên tiến hành điều trị với ciprofloxacin sau khi đã đánh giá lợi ích/nguy cơ do những phản ứng bất lợi liên quan đến khớp và/hoặc mô xung quanh có thể xảy ra.

Nhiễm khuẩn phế quản-phổi ở bệnh xơ nang:

Đã có các nghiên cứu lâm sàng trên các đối tượng trẻ em và trẻ vị thành niên 5-17 tuổi. Có rất ít kinh nghiệm trong sử dụng ciprofloxacin cho trẻ từ 1 đến 5 tuổi.

Nhiễm khuẩn đường niệu có biến chứng và viêm thận-bể thận:

Chỉ nên cân nhắc dùng ciprofloxacin điều trị nhiễm khuẩn đường niệu khi không thể dùng các liệu pháp điều trị khác, và phải dựa trên kết quả của hồ sơ vi sinh vật.

Đã có các nghiên cứu lâm sàng trên trẻ em và trẻ vị thành niên 1-17 tuổi.

Các nhiễm khuẩn nặng khác:

Sử dụng ciprofloxacin cho các nhiễm khuẩn nặng khác theo hướng dẫn chính thống, hoặc sau khi đã đánh giá lợi ích-nguy cơ khi không thể sử dụng các liệu pháp điều trị khác, hoặc sau khi điều trị thất bại với các liệu pháp quy ước và khi hồ sơ vi sinh vật phù hợp với việc sử dụng ciprofloxacin.

Sử dụng ciprofloxacin để điều trị các nhiễm khuẩn nặng khác ngoài các loại nhiễm khuẩn đã đề cập ở trên chưa được đánh giá trong các thử nghiệm lâm sàng và kinh nghiệm điều trị còn hạn chế. Do vậy, nên thận trọng khi dùng ciprofloxacin trong điều trị các loại nhiễm khuẩn này.

Quá mẫn với thuốc:

Quá mẫn và các phản ứng dị ứng, bao gồm phản ứng phản vệ và các phản ứng dạng phản vệ có thể xảy ra sau khi dùng liều duy nhất và có thể đe dọa tính mạng. Nếu những phản ứng này xảy ra, nên ngừng dùng ciprofloxacin và tiến hành điều trị thích hợp.

Hệ cơ xương:

Thông thường, không nên sử dụng ciprofloxacin cho những bệnh nhân có tiền sử bị bệnh hoặc rối loạn về gân do điều trị với quinolon. Tuy nhiên, trong một số trường hợp rất hiếm gặp, sau khi đã có hồ sơ vi sinh vật của tác nhân gây bệnh và đã đánh giá cân bằng lợi ích/nguy cơ, có thể dùng ciprofloxacin để điều trị một số loại nhiễm khuẩn nặng, đặc biệt khi các điều trị quy ước đã thất bại hoặc có kháng thuốc, các dữ liệu vi sinh vật cho phép dùng ciprofloxacin.

Viêm gân và đứt gân (đặc biệt là gân Asin), đôi khi của cả hai chân, có thể xảy ra khi dùng ciprofloxacin, ngay trong vòng 48 giờ đầu tiên điều trị với ciprofloxacin. Viêm gân và đứt gân có thể xảy ra vài tháng sau khi ngừng điều trị với ciprofloxacin. Nguy cơ tổn thương gân có thể tăng lên ở người già hoặc ở những bệnh nhân được điều trị đồng thời với corticosteroid.

Khi có bất kỳ dấu hiệu nào của viêm gân (ví dụ, phồng đau, viêm), phải ngừng điều trị với ciprofloxacin. Phải dùng các biện pháp chăm sóc nhằm để chân bị tổn thương được nghỉ ngơi.

Phải thận trọng khi dùng ciprofloxacin cho những bệnh nhân bị bệnh nhược cơ, bởi vì các triệu chứng có thể nghiêm trọng hơn.

Các rối loạn về thị giác:

Cần tư vấn chuyên gia mắt ngay lập tức nếu có giảm thị lực hoặc có bất kỳ ảnh hưởng nào lên mắt.

Tăng nhạy cảm với ánh sáng:

Ciprofloxacin có thể gây phản ứng tăng nhạy cảm với ánh sáng. Nên khuyến cáo bệnh nhân dùng ciprofloxacin tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời cường độ cao hoặc tia UV trong quá trình điều trị.

Hệ thần kinh trung ương:

Tương tự như các quinolon khác, ciprofloxacin cũng gây các cơn co giật và làm giảm ngưỡng co giật. Đã có báo cáo về các tình trạng động kinh liên tục. Phải thận trọng khi sử dụng ciprofloxacin ở những bệnh nhân có rối loạn hệ thần kinh trung ương là các bệnh có thể dẫn đến cơn co giật. Nếu có cơn co giật xảy ra, nên ngừng ciprofloxacin. Các phản ứng tâm thần có thể xảy ra ngay khi dùng liều ciprofloxacin đầu tiên. Trong một số rất ít trường hợp, trầm cảm hoặc rối loạn tâm thần có thể dẫn đến ý nghĩ tự tử và đỉnh điểm là cố gắng tự tử hoặc tự tử thành công. Phải ngừng dùng ciprofloxacin nếu những trường hợp như trên xảy ra.

Đã có báo cáo về các trường hợp bị bệnh đa dây thần kinh (dựa trên các triệu chứng thuộc thần kinh như đau, nóng rát, rối loạn cảm giác hoặc yếu cơ, riêng lẻ hoặc kết hợp) khi dùng ciprofloxacin. Nên ngừng sử dụng ciprofloxacin ở những bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng của bệnh thần kinh, bao gồm đau, nóng rát, cảm giác ngứa ran, tê, và/hoặc mệt mỏi nhằm tránh dẫn đến tình trạng không hồi phục.

Các rối loạn tim mạch:

Phải thận trọng khi dùng các fluoroquinolon, bao gồm cả ciprofloxacin, ở những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ kéo dài khoảng QT như:

Hội chứng QT kéo dài bẩm sinh.

Dùng đồng thời các thuốc kéo dài khoảng QT (ví dụ các thuốc chống loạn nhịp nhóm IA và nhóm III, các thuốc chống trầm cảm ba vòng, macrolid, các thuốc chống loạn thần).

Rối loạn điện giải chưa được chữa trị (ví dụ giảm kali huyết, giảm magie huyết).

Bệnh tim (ví dụ suy tim, nhồi máu cơ tim, nhịp chậm).

Bệnh nhân cao tuổi và phụ nữ có thể nhạy cảm hơn với các thuốc kéo dài khoảng QT. Do vậy, cần thận trọng khi dùng các fluoroquinolon, bao gồm cả ciprofloxacin, ở những nhóm bệnh nhân này.

Hạ đường huyết:

Tương tự như các quinolon khác, đã có các báo cáo hạ đường huyết xảy ra nhiều nhất ở các bệnh nhân bị đái tháo đường, chủ yếu ở những người cao tuổi. Khuyến cáo theo dõi cẩn thận glucose huyết ở tất cả các bệnh nhân bị đái tháo đường khi điều trị với thuốc.

Hệ tiêu hóa:

Tiêu chảy nặng và kéo dài trong hoặc sau khi điều trị với thuốc (bao gồm vài tuần sau khi điều trị) có thể là biểu hiện của viêm đại tràng do kháng sinh (đe dọa tính mạng và có khả năng gây tử vong), cần phải được điều trị ngay lập tức. Với những trường hợp này, phải ngừng ciprofloxacin lập tức, và phải bắt đầu một liệu pháp điều trị thích hợp. Chống chỉ định dùng các thuốc giảm nhu động trong trường hợp này.

Hệ thận-tiết niệu:

Sự hình thành tinh thể niệu liên quan đến sử dụng ciprofloxacin đã được ghi nhận. Những bệnh nhân dùng ciprofloxacin nên được cung cấp đủ nước và tránh kiềm hóa nước tiểu quá mức.

Suy thận:

Do ciprofloxacin được thải trừ qua thận phần lớn ở dạng không chuyển hóa, cần phải điều chỉnh liều ở những bệnh nhân suy thận như được mô tả ở mục Liều lượng và Cách dùng để giảm các phản ứng bất lợi do tích lũy ciprofloxacin.

Hệ gan mật:

Các trường hợp hoại tử gan và suy gan đe dọa tính mạng đã được báo cáo khi dùng ciprofloxacin. Khi có bất kỳ dấu hiệu hay triệu chứng nào của bệnh gan (như chán ăn, vàng da, nước tiểu tối màu, ngứa, hoặc đau bụng), phải ngừng dùng ciprofloxacin.

Thiếu glucose-6-phosphat dehydrogenase:

Phản ứng tan máu đã được báo cáo khi dùng ciprofloxacin ở những bệnh nhân thiếu glucose-6-phosphat dehydrogenase. Không dùng ciprofloxacin ở những bệnh nhân này trừ khi lợi ích được cho là cao hơn nguy cơ. Trong trường hợp này, phải theo dõi khả năng xảy ra tan máu tiềm tàng.

Kháng thuốc:

Trong hoặc sau quá trình điều trị với ciprofloxacin, có thể phân lập vi khuẩn có biểu hiện kháng ciprofloxacin dù có hay không có bội nhiễm biểu hiện rõ trên lâm sàng. Có thể có nguy cơ vi khuẩn kháng chọn lọc ciprofloxacin trong thời gian điều trị kéo dài và khi điều trị nhiễm khuẩn bệnh viện và/hoặc nhiễm khuẩn do các chủng Staphylococcus và Pseudomonas.

Cytochrom P450:

Ciprofloxacin ức chế CYP1A2 và do đó có thể tăng nồng độ trong huyết tương của các thuốc dùng đồng thời được chuyển hóa qua enzym này (ví dụ theophylin, clozapin, olanzapin, ropinirol, tizanidin, duloxetin, agometatin). Do đó, cần theo dõi các triệu chứng lâm sàng của quá liều ở những bệnh nhân dùng đồng thời ciprofloxacin với các thuốc này, và có thể cần phải xác định nồng độ huyết tương (ví dụ như của theophyllin). Chống chỉ định dùng đồng thời ciprofloxacin và tizanidin.

Methotrexat:

Không khuyến cáo dùng đồng thời ciprofloxacin với methotrexat.

Tương tác với các test thử:

Tác dụng in vitro của ciprofloxacin trên Mycobacterium tuberculosis có thể cho kết quả xét nghiệm vi khuẩn âm tính giả với các mẫu xét nghiệm lấy từ những bệnh nhân đang dùng ciprofloxacin.

Phản ứng tại vị trí tiêm:

Đã có báo cáo các phản ứng tại vị trí tiêm khi dùng ciprofloxacin theo đường tĩnh mạch. Những phản ứng này xảy ra thường xuyên hơn nếu truyền trong thời gian 30 phút hoặc ngắn hơn. Đó có thể là các phản ứng tại chỗ và hết nhanh sau khi truyền xong. Có thể tiếp tục truyền theo đường truyền tĩnh mạch trừ khi các phản ứng này tiếp tục xuất hiện và tệ hơn.

Rối loạn tầm nhìn

Nếu tầm nhìn bị suy giảm hoặc có bất kỳ dấu hiệu nào về mắt. Nên đi khám bác sỹ chuyên khoa mắt,

Các phản ứng có hại nghiêm trọng có khả năng không hồi phục và gây tàn tật, bao gồm viêm gân, đứt gân, bệnh lý thần kinh ngoại biên và các tác dụng bất lợi trên thần kinh trung ương.

Các kháng sinh nhóm fluoroquinolon có liên quan đến các phản ứng có hại nghiêm trọng có khả năng gây tàn tật và không hồi phục trên các hệ cơ quan khác nhau của cơ thể. Các phản ứng này có thể xuất hiện đồng thời trên cùng bệnh nhân. Các phản ứng có hại thường được ghi nhận gồm viêm gan, đứt gân, đau khớp, đau cơ, bệnh lý thần kinh ngoại vi và các tác dụng bất lợi trên hệ thống thần kinh trung ương (ảo giác, lo âu, trầm cảm, mất ngủ, đau đầu nặng và lú lẫn). Các phản ứng này có thể xảy ra trong vòng vài giờ đến vài tuần sau khi sử dụng thuốc. Bệnh nhân ở bất kỳ tuổi nào hoặc không có yếu tố nguy cơ tồn tại từ trước đều có thể gặp những phản ứng có hại trên.

Ngưng sử dụng thuốc ngay khi có dấu hiệu hoặc triệu chứng đầu tiên của bất kỳ phản ứng có hại nghiêm trọng nào. Thêm vào đó, tránh sử dụng các kháng sinh nhóm fluoroquinolon cho các bệnh nhân đã từng gặp các phản ứng nghiêm trọng liên quan đến fluoroquinolon.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Ciprofloxacin có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc, do tác động lên hệ thần kinh trung ương

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B3

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

chưa rõ độ an toàn của ciprofloxacin trên phụ nữ có thai, dựa trên cơ sở các nghiên cứu trên động vật, chưa xác định được liệu dùng thuốc này có thể gây tổn thương sụn khớp ở bào thai không. Để phòng ngừa, không nên dùng ciprofloxacin ở phụ nữ có thai.

Thời kỳ cho con bú:

Ciprofloxacin tiết vào sữa mẹ. Ciprofloxacin không được sử dụng trong thời kỳ cho con bú vì tác dụng có hại lên sụn khớp.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Các phản ứng bất lợi của thuốc (ADRs) thường gặp nhất là buồn nôn, tiêu chảy, nôn, tăng transaminase thoáng qua, phát ban, và phản ứng tại vị trí tiêm truyền.

Các phản ứng bất lợi của thuốc thu được từ các nghiên cứu lâm sàng và theo dõi sau khi lưu hành của ciprofloxacin (đường uống, tĩnh mạch và điều trị theo tuần tự) được phân loại theo tần suất xảy ra như bảng dưới. Có sử dụng các dữ liệu từ cả việc dùng ciprofloxacin theo đường uống và tĩnh mạch trong phân tích tần suất tác dụng không mong muốn.

– xem Bảng 7.

Image from Drug Label Content

Những tác dụng không mong muốn sau thuộc nhóm có tần suất xảy ra cao trong phân nhóm bệnh nhân được điều trị theo đường tĩnh mạch hoặc điều trị theo trình tự (từ đường tĩnh mạch đến đường uống):

Thường gặp: Nôn, tăng thoáng qua nồng độ men transaminase, phát ban.
Không thường gặp: Giảm tiểu cầu, tăng tiểu cầu, lú lẫn và mất định hướng, ảo giác, rối loạn cảm giác, động kinh, chóng mặt, rối loạn thị giác, giảm thính lực, tim đập nhanh, giãn mạch, hạ huyết áp, tổn thương gan thoáng qua, vàng da, suy thận, phù.
Hiếm gặp: Giảm bạch cầu, giảm tuỷ xương, shock phản vệ, phản ứng loạn tâm thần, đau nửa đầu, rối loạn khứu giác, nghe kém, viêm mạch, viêm tuỵ, hoại tử gan, điểm xuất huyết, đứt gân.

Trẻ em

Tỷ lệ mắc bệnh khớp (đau khớp, viêm khớp) đề cập ở trên được thu thập từ dữ liệu trong các nghiên cứu trên người trưởng thành. Ở trẻ em, các báo cáo liên quan đến bệnh khớp là thường gặp.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ðể tránh có tinh thể niệu, duy trì đủ lượng nước uống vào, tránh làm nước tiểu quá kiềm.

Nếu bị ỉa chảy nặng và kéo dài trong và sau khi điều trị, người bệnh có thể đã bị rối loạn nặng ở ruột (viêm đại tràng màng giả). Cần ngừng ciprofloxacin và thay bằng một kháng sinh khác thích hợp (ví dụ vancomycin).

Nếu có bất kỳ dấu hiệu nào về tác dụng phụ cần ngừng dùng ciprofloxacin và người bệnh cần phải được điều trị tại một cơ sở y tế mặc dù các tác dụng phụ này thường nhẹ hoặc vừa và sẽ mau hết khi ngừng dùng ciprofloxacin.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Ảnh hưởng của các thuốc khác trên ciprofloxacin:

Các thuốc kéo dài khoảng QT: Tương tự như các fluoroquinolon khác, phải thận trọng khi sử dụng ciprofloxacin ở những bệnh nhân đang dùng các thuốc kéo dài khoảng QT (thuốc chống loạn nhịp nhóm IA và nhóm III, thuốc chống trầm cảm ba vòng, macrolid, thuốc chống loạn thần).

Probenecid: Probenecid cản trở sự thải trừ qua thận của ciprofloxacin. Dùng đồng thời ciprofloxacin và probenecid làm tăng nồng độ ciprofloxacin trong huyết tương.

Ảnh hưởng của ciprofloxacin trên các thuốc khác:

Tizanidin: Không được dùng đồng thời tizanidin với ciprofloxacin. Trong một nghiên cứu lâm sàng trên các đối tượng khỏe mạnh, nồng độ trong huyết tương của tizanidin tăng lên (Cmax tăng gấp 7 lần, trong khoảng 4-21 lần; diện tích dưới đường cong (AUC) tăng 10 lần, trong khoảng 6-24 lần) khi dùng đồng thời với ciprofloxacin. Nồng độ trong huyết tương của tizanidin tăng lên liên quan đến khả năng gây tác dụng hạ huyết áp và an thần.

Methotrexat: Vận chuyển methotrexat qua ống thận có thể bị ức chế do dùng đồng thời với ciprofloxacin, có thể làm tăng nồng độ huyết tương của methotrexat và tăng nguy cơ gây độc tính của methotrexat. Không khuyến cáo sử dụng đồng thời hai thuốc này.

Theophyllin: Sử dụng đồng thời ciprofloxacin và theophyllin có thể làm tăng nồng độ trong huyết tương của theophyllin. Điều này có thể gây ra tác dụng bất lợi của theophyllin hiếm khi có thể đe dọa tính mạng hoặc gây tử vong. Khi kết hợp hai thuốc này, phải kiểm tra nồng độ theophyllin trong máu và phải giảm liều theophyllin.

Các dẫn xuất xanthin khác: Khi dùng đồng thời ciprofloxacin và caffein hoặc pentoxifyllin (oxpentifyllin), đã có báo cáo tăng nồng độ trong huyết tương của những dẫn xuất xanthin này.

Phenytoin: Dùng đồng thời ciprofloxacin và phenytoin có thể làm tăng hoặc giảm nồng độ trong huyết tương của phenytoin, vì vậy khuyến cáo theo dõi nồng độ của thuốc.

Cyclosporin: Nồng độ creatinin trong máu tăng thoáng qua đã được ghi nhận khi dùng đồng thời ciprofloxacin với các thuốc có chứa cyclosporin. Do đó, phải kiểm soát nồng độ creatinin huyết tương thường xuyên (hai lần/tuần) ở những bệnh nhân này.

Các thuốc kháng vitamin K: Dùng đồng thời ciprofloxacin với các thuốc kháng vitamin K có thể làm tăng tác dụng chống đông máu của thuốc. Nguy cơ thay đổi tùy thuộc vào loại nhiễm khuẩn, tuổi và tình trạng chung của bệnh nhân, do vậy rất khó để đánh giá phần đóng góp của ciprofloxacin trong việc làm tăng chỉ số bình thường hóa quốc tế (INR). Cần theo dõi chỉ số INR trong khi và ngay sau khi dùng đồng thời ciprofloxacin với một thuốc kháng vitamin K (ví dụ warfarin, acenocoumarol, phenprocoumon, hoặc fluindion).

Duloxetin: Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy rằng việc sử dụng đồng thời duloxetin với các chất ức chế mạnh isozym CYP450 1A2 như fluvoxamin có thể làm tăng AUC và Cmax của duloxetin. Mặc dù không có dữ liệu lâm sàng về tương tác với ciprofloxacin, tác động tương tự có thể xảy ra khi dùng đồng thời.

Ropinirol: Một nghiên cứu lâm sàng cho thấy rằng sử dụng đồng thời ropinirol với ciprofloxacin là một chất ức chế trung bình isoenzym CYP450 1A2, làm tăng Cmax và AUC của ropinirol lần lượt là 60% và 84%. Khuyến cáo theo dõi tác dụng không mong muốn của ropinirol và điều chỉnh liều trong và ngay sau khi dùng đồng thời với ciprofloxacin.

Lidocain: Nghiên cứu trên các đối tượng khỏe mạnh cho thấy sử dụng đồng thời các thuốc có chứa lidocain với ciprofloxacin là một chất ức chế trung bình isozym CYP450 1A2 làm giảm độ thanh thải của lidocain đường tĩnh mạch 22%. Mặc dù, lidocain được dung nạp tốt, vẫn có thể tương tác với ciprofloxacin dẫn đến các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra nếu dùng đồng thời hai thuốc này.

Clozapin: Sau khi dùng đồng thời ciprofloxacin liều 250mg và clozapin trong 7 ngày, nồng độ huyết tương của clozapin và N-desmethylclozapin tăng lần lượt là 29% và 31%. Nên giám sát lâm sàng và điều chỉnh liều clozapin trong và ngay sau khi dùng đồng thời với ciprofloxacin.

Sildenafil: Cmax và AUC của sildenafil tăng gần 2 lần ở những đối tượng khỏe mạnh sau khi uống một liều 50mg sildenafil cùng với 500mg ciprofloxacin. Do vậy, cần thận trọng khi dùng ciprofloxacin đồng thời sildenafil và cân nhắc lợi ích và nguy cơ.

Agomelatin: Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy fluvoxamin, một chất ức chế mạnh isoenzym CYP450 1A2, ức chế rõ sự chuyển hóa agometatin dẫn đến nồng độ agometatin tăng gấp 60 lần. Mặc dù không có các dữ liệu lâm sàng về tương tác với ciprofloxacin là một chất ức chế trung bình CYP450 1A2, tác động tương tự có thể xảy ra khi dùng đồng thời hai thuốc này.

Zolpidem: Dùng đồng thời với ciprofloxacin có thể làm tăng nồng độ trong máu của zolpidem; không khuyến cáo dùng đồng thời.

4.9 Quá liều và xử trí:

Đã có báo cáo về các triệu chứng của độc tính nhẹ khi dùng quá liều 12g. Đã có báo cáo về quá liều cấp tính 16g gây ra suy thận cấp.

Các triệu chứng quá liều bao gồm choáng váng, run, đau đầu, mệt mỏi, động kinh, ảo giác, mất trí, đau bụng, suy gan và thận cũng như tinh thể niệu và tiểu ra máu. Độc tính trên thận có hồi phục đã được báo cáo.

Ngoài các biện pháp cấp cứu thường quy, khuyến cáo nên theo dõi chức năng thận, bao gồm pH nước tiểu và acid hóa nước tiểu nếu cần để tránh tạo tinh thể niệu. Nên cung cấp đủ nước cho bệnh nhân. Chỉ có một lượng nhỏ ciprofloxacin (< 10%) được thải trừ thông qua thẩm tách máu và thẩm tách màng bụng.

Trong trường hợp quá liều, nên tiến hành điều trị triệu chứng. Cần phải theo dõi điện tâm đồ do khả năng gây kéo dài khoảng QT.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm điều trị: Fluoroquinolon.

Mã ATC: J01MA02

Cơ chế tác dụng

Ciprofloxacin là một kháng sinh nhóm fluoroquinolon, tác dụng kháng khuẩn của ciprofloxacin là do khả năng ức chế cả hai loại topoisomerase II (DNA-gyrase) và topoisomerase IV, là những thành phần cần thiết cho quá trình sao chép, phiên mã, sửa chữa và tái tổ hợp DNA của vi khuẩn.

Cơ chế kháng thuốc

Trong nghiên cứu in vitro, sự đề kháng với ciprofloxacin có thể xảy ra thông qua một quá trình bậc thang do các đột biến tại vị trí đích trên cả DNA-gyrase và topoisomerase IV. Mức độ kháng chéo giữa ciprofloxacin và các fluoroquinolon khác có sự biến thiên. Những đột biến đơn lẻ có thể không gây kháng thuốc trên lâm sàng, nhưng đột biến phức tạp thường dẫn đến kháng thuốc trên lâm sàng đối với nhiều hoặc tất cả các hoạt chất trong nhóm.

Cơ chế kháng thuốc bằng tính không thấm nước và/hoặc cơ chế bơm thuốc ra khỏi tế bào có thể có những tác động khác nhau lên tính nhạy cảm của các fluoroquinolon, điều đó phụ thuộc vào các đặc tính hóa lý của các hoạt chất khác nhau trong nhóm và ái lực của hệ thống vận chuyển của mỗi hoạt chất. Tất cả các cơ chế kháng thuốc in vitro thường được theo dõi trong các thể phân lập lâm sàng. Những cơ chế kháng thuốc làm bất hoạt các kháng sinh khác như hàng rào chống thấm (thường gặp ở Pseudomonas aeruginosa) và cơ chế bơm thuốc ra ngoài có thể ảnh hưởng đến tính nhạy cảm của ciprofloxacin.

Đã có báo cáo về kháng thuốc qua trung gian plasmid mã hóa bởi gen qnr.

Phổ kháng khuẩn

Các điểm gãy (breakpoint) phân biệt các chủng nhạy cảm với các chủng nhạy cảm trung bình và các chủng đề kháng:

Khuyến cáo của EUCAST

– xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Mức độ phổ biến của kháng thuốc mắc phải có thể khác nhau theo địa lý và thời điểm có được thông tin về loài và địa phương kháng thuốc, đặc biệt khi điều trị các nhiễm khuẩn nặng. Khi cần thiết, nên tham khảo lời khuyên của chuyên gia nếu mức độ phổ biến của kháng thuốc ở địa phương là không đủ tin cậy khi dùng thuốc cho ít nhất một vài loại nhiễm khuẩn.

Phân nhóm các loài tương ứng theo độ nhạy cảm với ciprofloxacin

– xem Bảng 2.

Image from Drug Label Content

Cơ chế tác dụng:

Ciprofloxacin là thuốc kháng sinh bán tổng hợp, có phổ kháng khuẩn rộng, thuộc nhóm quinolon, còn được gọi là các chất ức chế DNA girase. Do ức chế enzym DNA girase, nên thuốc ngăn sự sao chép của chromosom khiến cho vi khuẩn không sinh sản được nhanh chóng. Ciprofloxacin có tác dụng tốt với các vi khuẩn kháng lại kháng sinh thuộc các nhóm khác (aminoglycosid, cephalosporin, tetracyclin, penicilin…) và được coi là một trong những thuốc có tác dụng mạnh nhất trong nhóm fluoroquinolon.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu

Sau khi truyền tĩnh mạch ciprofloxacin, nồng độ đỉnh trong huyết tương trung bình đạt được vào lúc kết thúc truyền. Ciprofloxacin có dược động học tuyến tính với khoảng liều lên tới 400mg theo đường truyền tĩnh mạch.

So sánh các thông số dược động học của ciprofloxacin truyền tĩnh mạch liều 2-3 lần/ngày cho thấy không có bằng chứng tích lũy thuốc và các chất chuyển hóa của nó.

Truyền tĩnh mạch 200mg ciprofloxacin trong 60 phút hoặc dùng liều 250mg ciprofloxacin theo đường uống, cả hai liệu trình đều dùng cách nhau mỗi 12 tiếng, cho thấy diện tích dưới đường cong (AUC) biểu diễn nồng độ theo thời gian là tương đương nhau.

Truyền tĩnh mạch 400mg ciprofloxacin trong 60 phút, mỗi 12 tiếng cho thấy AUC tương đương sinh học so với liều 500mg theo đường uống, mỗi 12 tiếng.

Truyền tĩnh mạch ciprofloxacin liều 400mg trong 60 phút cách nhau mỗi 12 tiếng cho Cmax tương tự khi dùng liều 750mg đường uống.

Truyền tĩnh mạch ciprofloxacin liều 400mg trong vòng 60 phút, cách nhau mỗi 8 tiếng cho thấy AUC tương đương với liều uống 750mg cách nhau mỗi 12 tiếng.

Phân bố

Khả năng gắn kết với protein của ciprofloxacin là thấp (20-30%). Ciprofloxacin có mặt trong huyết tương phần lớn ở dạng không ion hóa và có thể tích phân bố ở trạng thái ổn định lớn 2-3 L/kg thể trọng. Ciprofloxacin đạt nồng độ cao ở nhiều mô khác nhau như phổi (dịch biểu mô, túi phế nang, mô sinh thiết), xoang, các tổn thương do viêm (dịch bỏng sâu ban miêu), và tiết niệu-sinh dục (nước tiểu, tuyến tiền liệt, nội mạc tử cung) là nơi có nồng độ thuốc tập trung cao hơn trong huyết tương.

Chuyển hóa

Đã ghi nhận có một lượng nhỏ 4 chất chuyển hóa của ciprofloxacin gồm: desethyleneciprofloxacin (M1), sulphociprofloxacin (M2), oxociprofloxacin (M3) và formylciprofloxacin (M4). Các chất chuyển hóa này có tác dụng kháng khuẩn in vitro nhưng kém hơn so với ciprofloxacin.

Ciprofloxacin là một chất ức chế trung bình iso-enzym CYP450 1A2.

Thải trừ

Ciprofloxacin được thải trừ chủ yếu ở dạng không chuyển hóa qua thận và một lượng nhỏ hơn qua phân.

– xem Bảng 3.

Image from Drug Label Content

Độ thanh thải tại thận trong khoảng 180-300 mL/kg/giờ và độ thanh thải toàn thân nằm trong khoảng 480-600 mL/kg/giờ. Ciprofloxacin trải qua quá trình lọc cầu thận và thải qua ống thận. Suy thận nặng làm tăng thời gian bán thải của ciprofloxacin tới 12 giờ.

Độ thanh thải ciprofloxacin theo đường ngoài thận chủ yếu qua quá trình chuyển hóa và thải trừ vận chuyển chủ động ở ruột. 1% liều được thải trừ theo đường mật. Ciprofloxacin có mặt trong mật với nồng độ cao.

Trẻ em

Dữ liệu dược động học ở những bệnh nhân là trẻ em còn hạn chế.

Trong một nghiên cứu trên trẻ em, Cmax và AUC không phụ thuộc vào tuổi (trên 1 tuổi). Không quan sát thấy có sự tăng đáng kể của Cmax và AUC khi dùng nhiều liều (10 mg/kg, 3 lần/ngày).

Ở 10 bệnh nhân nhi bị nhiễm khuẩn huyết nặng, Cmax là 6,1 mg/L (trong khoảng 4,6-8,3 mg/L) sau khi truyền tĩnh mạch trong 1 giờ với liều 10 mg/kg thể trọng ở bệnh nhân là trẻ em nhỏ hơn 1 tuổi, trong khi Cmax là 7,2 mg/L (trong khoảng 4,7-11,8 mg/L) ở bệnh nhân là trẻ em từ 1 đến 5 tuổi. Giá trị AUC ở hai nhóm tuổi này lần lượt là 17,4 mg x giờ/L (trong khoảng 11,8-32,0 mg x giờ/L) và 16,5 mg x giờ/L (trong khoảng 11,0-23,8 mg x giờ/L).

Các giá trị này nằm trong khoảng đã được báo cáo ở người trưởng thành ở liều điều trị. Dựa trên phân tích dược động học dân số ở những bệnh nhân nhi với các loại nhiễm khuẩn khác nhau, thời gian bán thải trung bình của thuốc ước tính ở trẻ em là khoảng 4-5 giờ và sinh khả dụng của hỗn dịch đường uống nằm trong khoảng 50% đến 80%.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

….

6.2. Tương kỵ :

Không được trộn lẫn thuốc này với các sản phẩm thuốc khác ngoại trừ các dung dịch tiêm truyền sau: nước muỗi sinh lý, dung dich Ringer, dung dịcch Ringer lactat, dung dich glucose 5% và 10%, dung dich fructose 10%.

Vì nguy cơ nhiễm và nhạy cảm ánh sáng, phải dùng ngay lập tức sau khi pha dung dich truyền Aristin C với dung dịch truyền tương hợp khác

Trừ khi biết chắc chắn có sự tương thích của thuốc với các dung dịch / thuốc, dung dịch truyền căn bản nên dùng tách riêng. Các dấu hiệu bất tương thích có thể thấy được gồm : kết tủa, đổi màu.

Không tương hợp xuất hiện với tất cả dung dịch / thuốc bất ổn định về mặt vật lý và hóa học ở pH của dung dịch Ciprofloxacin (như penicillin, dung dịch heparin), đặc biệt khi kết hợp với dung dịch kiềm (pH của dung dịch Ciprofloxacin truyền : 3,9-4,5).

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hướng dẫn sử dụng thuốc Ciprofloxacin.