Busulfan Injection Kabi (Dung dịch đậm đặc để pha tiêm truyền. Mỗi ống có chứa 60 mg (6 mg/mL) busulfan)

Busulfan – Busulfan Injection Kabi

Thông tin tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc Busulfan Injection (Kabi)

Busulfan Injection là thuốc tiêm được dùng theo đường tiêm truyền tĩnh mạch do công ty Fresenius Kabi Oncology Ltd sản xuất, thuốc có chứa thành phần chính là dược chất Busulfan. Thuốc tiêm Busulfan được sử dụng kết hợp với cyclophosphamide trong phác đồ điều trị trước khi ghép tế bào gốc tạo máu đồng loại cho các bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính. Busulfan thuộc nhóm tác nhân alkyl hóa và hoạt động bằng cách can thiệp vào chức năng của tủy xương. Sự phát triển của các tế bào bình thường trong cơ thể cũng có thể bị ảnh hưởng bởi busulfan, nên người bệnh được sử dụng có thể gặp tác dụng phụ nghiêm trọng như gây suy tủy nghiêm trọng hoặc kéo dài ở liều khuyến cáo. Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng của Thuốc Busulfan Injection (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Busulfan

Phân loại: Thuốc chống ung thư > Chất alkyl hóa.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01AB01.

Biệt dược gốc: Hiện chưa có thuốc đăng ký biệt dược gốc tại Việt Nam.

Biệt dược: Busulfan Injection

Hãng sản xuất : Fresenius Kabi Oncology Ltd

Hãng đăng ký : Công ty Cổ phần Fresenius Kabi Bidiphar.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch đậm đặc để pha tiêm truyền. Mỗi ống có chứa 60 mg (6 mg/mL) busulfan.

Hình ảnh tham khảo:

BUSULFAN INJECTION
Mỗi ống 10ml thuốc tiêm có chứa:
Busulfan …………………………. 60 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

Busulfan Injection Kabi (Dung dịch đậm đặc để pha tiêm truyền. Mỗi ống có chứa 60 mg (6 mg/mL) busulfan)

3. Thông tin dành cho người sử dụng:

3.1. Busulfan Injection là thuốc gì?

Busulfan Injection là thuốc tiêm được dùng theo đường tiêm truyền tĩnh mạch do công ty Fresenius Kabi Oncology Ltd sản xuất, thuốc có chứa thành phần chính là dược chất Busulfan. Thuốc tiêm Busulfan được sử dụng kết hợp với cyclophosphamide trong phác đồ điều trị trước khi ghép tế bào gốc tạo máu đồng loại cho các bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính. Busulfan thuộc nhóm tác nhân alkyl hóa và hoạt động bằng cách can thiệp vào chức năng của tủy xương. Sự phát triển của các tế bào bình thường trong cơ thể cũng có thể bị ảnh hưởng bởi busulfan, nên người bệnh được sử dụng có thể gặp tác dụng phụ nghiêm trọng như gây suy tủy nghiêm trọng hoặc kéo dài ở liều khuyến cáo.

3.2. Câu hỏi thường gặp phổ biến:

Tôi có thể mua thuốc Busulfan đường uống ở đâu?

Tính tới năm 2024, tại Việt Nam không lưu hành biệt dược nào có chứa dược chất Busulfan và sử dụng qua đường uống. Chế phẩm Busulfan đường uống thường được lưu hành ở một số các nước khác dưới dạng viên nén 2mg với biệt dược Myleran.

Busulfan có nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam không?

Busulfan CÓ nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam. Do đó người bệnh có thể được sử dụng thuốc này tại các cơ sở khám chữa bệnh theo tuyến bảo hiểm y tế.

4. Thông tin dành cho nhân viên y tế:

4.1. Chỉ định:

Busulfan tiêm được sử dụng kết hợp với cyclophosphamid khi được sử dụng để chuẩn bị cho việc ghép tế bào gốc tạo máu dị gen trong bệnh bạch cầu mạn tính dòng tủy.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Lưu ý khi pha chế và sử dụng:

Không dùng xi-lanh làm từ chất liệu polycarbonat hay kim tiêm truyền từ polycarbonat khi sử dụng busulfan.

Cách pha dung dịch tiêm truyền tĩnh mạch:

Busulfan phải được pha loãng trước khi truyền tĩnh mạch với dung dịch NaCl 0,9% hoặc Dextrose 5%. Lượng dung dịch pha loãng nên gấp 10 lần lượng busulfan, để nồng độ cuối cùng của busulfan xấp xỉ 0,5 mg/ml. Cách tính liều cho bệnh nhân nặng 70 kg sẽ được thực hiện như sau:

70 (kg) x 0,8 (mg/kg) : 6 (mg/mL)= 9,3 (mL) busulfan (tương đương 56 mg)

Để pha dung dịch cuối cùng trước khi truyền, thêm 9,3 mL dung dịch busulfan vào 93 mL dung dịch pha (dung dịch NaCl 0,9% hoặc Dextrose 5%) theo công thức dưới đây:

(9,3 mL busulfan) x (10) = 93 mL dung dịch của một trong hai chất pha loãng nêu trên + 9,3 mL busulfan để cho nồng độ cuối cùng của busulfan là 0,54 mg/mL (9,3 mL x 6 mg/mL : 102,3 mL = 0,54 mg/mL).

Tất cả các quy trình vận chuyển và pha chế đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các kỹ thuật vô khuẩn, tốt nhất nên thao tác trong tủ hốt và đeo găng tay cùng với quần áo bảo hộ.

Không đưa busulfan vào túi tiêm tĩnh mạch hoặc ống tiêm thể tích lớn mà không chứa dung dịch NaCl 0,9% hoặc Dextrose 5%. Pha loãng busulfan bằng cách bơm thuốc vào dung dịch pha loãng, không được bơm dung dịch pha loãng vào thuốc. Trộn kỹ bằng cách lật ngược nhiều lần.

Nên sử dụng bơm truyền dịch để truyền dung dịch busulfan pha loãng. Đặt tốc độ dòng chảy của máy bơm để truyền toàn bộ liều busulfan chỉ định trong 2 giờ. Trước và sau mỗi lần truyền dịch, rửa dây truyền với khoảng 5 ml NaCl 0,9% hoặc Dextrose 5%.

Cảnh báo: Truyền thuốc với tốc độ nhanh vẫn chưa được kiểm tra và không được khuyến cáo sử dụng.

Liều dùng:

Liều khởi đầu:

Sử dụng busulfan kết hợp với cyclophosphamid khi được sử dụng để chuẩn bị cho việc thay tủy xương hay thay tế bào gốc tạo máu ngoại vi. Đối với bệnh nhân có trọng lượng trên 12 kg, liều khuyến cáo là:

– Busulfan 0,8 mg/kg trọng lượng cơ thể theo lý tưởng (Ideal Body Weight – IBW) hoặc trọng lượng cơ thể thực tế (Actual Body Weight – ABW), tùy theo mức nào thấp hơn, truyền qua catheter tĩnh mạch trung tâm trong 2 giờ liên tục, cứ 6 giờ một lần, trong 4 ngày liên tiếp với tổng cộng là 16 liều (ngày -7, 6, -5 và 4).

– Cyclophosphamid 60 mg/kg truyền tĩnh mạch 1 giờ trong 2 ngày, bắt đầu sớm nhất là 6 giờ sau khi dùng liều busulfan thứ 16 (ngày -3 và -2).

– Sử dụng các tế bào gốc tạo máu vào ngày 0

• Sử dụng các thuốc chống co giật cho bệnh nhân (ví dụ: benzodiazepin, phenytoin, acid valproic hoặc levetiracetam) để phòng ngừa động kinh được báo cáo là do sử dụng busulfan liều cao. Sử dụng thuốc chống co giật 12 giờ trước khi sử dụng busulfan đến 24 giờ sau khi sử dụng liều cuối cùng của busulfan.

• Sử dụng thuốc chống nôn trước khi dùng liều đầu tiên của busulfan và tiếp tục theo lịch trình cố định trong suốt quá trình sử dụng busulfan.

• Độ thanh thải busulfan được dự đoán là tốt nhất khi liều busulfan được chỉ định dựa trên trọng lượng cơ thể lý tưởng có điều chỉnh (Adjusted Ideal Body Weight – AIBW). Liều dùng busulfan dựa trên trọng lượng cơ thể thực tế, trọng lượng cơ lý tưởng hoặc các yếu tố khác có thể tạo ra sự khác biệt đáng kể trong việc thanh thải busulfan giữa các nhóm bệnh nhân gầy, bình thường và béo phì.

Cách tính toán trọng lượng cơ thể lý tưởng (IBW) (chiều cao theo cm và cân nặng theo kg):

Nam: IBW (kg)= 50 + 0,91 x (chiều cao -152)

Nữ: IBW (kg) = 45 + 0,91 x (chiều cao -152)

Đối với bệnh nhân béo phì hoặc béo phì nghiêm trọng, liều busulfan được tính dựa trên trọng lượng cơ thể lý tưởng có điều chỉnh (AIBW):

AIBW = IBW + 0,25 x (chiều cao thực – IBW).

4.3. Chống chỉ định:

Bệnh nhân có tiền sử mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

4.4 Thận trọng:

Các trường hợp thận trọng dưới đây liên quan đến tác dụng sinh lý khác nhau của busulfan trong quá trình cấy ghép tủy.

Sự ức chế tủy xương

Hậu quả nghiêm trọng thường gặp nhất của việc điều trị với busulfan theo liều và lộ trình khuyến cáo là kéo dài sự ức chế tủy xương, xảy ra ở tất cả các bệnh nhân (100%). Giảm bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu, thiếu máu, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào của chúng có thể xuất hiện. Cần phải cấy ghép tế bào gốc tạo máu để ngăn ngừa các biến chứng tiềm ẩn có thể gây tử vong do tình trạng ức chế tủy xương kéo dài. Theo dõi lượng tế bào máu, bao gồm cả những khác biệt về số lượng bạch cầu, số lượng tiểu cầu hàng ngày trong quá trình điều trị và cho đến khi việc cấy ghép được hoàn thiện. Số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối giảm xuống dưới 0,5 x 10L trung bình 4 ngày sau cấy ghép ở 100% bệnh nhân được điều trị với busulfan trong các thử nghiệm lâm sàng. Số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối được hồi phục sau thời gian trung bình là 13 ngày sau cấy ghép khi sử dụng G-CSF dự phòng ở đa số bệnh nhân. Giảm tiểu cầu (dưới 25.000/mm3 hoặc cần truyền tiểu cầu) xảy ra trung bình 5-6 ngày ở 98% bệnh nhân. Thiếu máu (hemoglobin dưới 8,0 g/dL) xảy ra ở 69% bệnh nhân. Cần sử dụng kháng sinh, bổ sung tiểu cầu và hồng cầu khi được chỉ định về mặt y khoa.

Động kinh

Động kinh đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng busulfan đường uống liều cao mà tại đó, nồng độ thuốc trong huyết tương đạt được tương tự như khi sử dụng liều khuyến cáo của busulfan. Mặc dù đã được điều trị dự phòng bằng phenytoin, cơn động kinh (1/42 bệnh nhân) vẫn xảy ra trong một thử nghiệm lâm sàng tự ghép của busulfan. Tình trạng này xảy ra trong giai đoạn sử dụng cyclophosphamid của chế độ chuẩn bị, 36 giờ sau liều busulfan cuối cùng. Phải bắt đầu điều trị dự phòng co giật trước khi điều trị bằng busulfan. Cần thận trọng khi dùng liều busulfan được khuyến cáo cho bệnh nhân có tiền sử rối loạn động kinh hoặc chấn thương đầu hoặc đang sử dụng các thuốc có khả năng gây ra các cơn động kinh khác.

Bệnh tắc tĩnh mạch gan (HVOD)

Các dữ liệu hiện có cho thấy những giá trị cao của diện tích dưới đường cong của busulfan theo thời gian (AUC) (> 1,500 uM phút) có thể liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh tắc tĩnh mạch gan (HVOD). Các bệnh nhân đã được xạ trị từ trước, đã trải qua 3 hoặc nhiều hơn 3 chu kỳ hóa trị, hoặc điều trị trước khi cấy ghép tế bào gốc có thể có nguy cơ mắc HVOD với liều và phác đồ khuyến cáo của busulfan. Dựa trên kết quả khám lâm sàng và xét nghiệm, tắc tĩnh mạch gan được chẩn đoán ở 8% (5/61) bệnh nhân được điều trị với busulfan trong quá trình cấy ghép, gây tử vong ở 2/5 trường hợp (40%), theo đó tổng số bệnh nhân tử vong do HVOD trong toàn bộ nghiên cứu là 2/61 (3%). 3 trong 5 bệnh nhân được chẩn đoán mắc HVOD cho thấy phù hợp với các tiêu chí đánh giá của Jones.

Tỷ lệ HVOD báo cáo trong tài liệu từ các thử nghiệm ngẫu nhiên, đối chứng là 7,7 – 12%. Cần theo dõi men gan, phosphatase kiềm và bilirubin hàng ngày thông qua BMT ngày +28 để phát hiện độc tính trên gan, có thể báo trước sự xuất hiện của HVOD.

Độc tính trên phôi thai

Busulfan có thể gây hại cho thai nhi khi sử dụng cho phụ nữ mang thai dựa trên những số liệu nghiên cứu trên động vật. Busulfan gây quái thai ở chuột nhắt, chuột cống và thỏ. Dung môi DMA cũng có thể gây hại cho thai nhi khi sử dụng cho phụ nữ mang thai dựa trên kết quả nghiên cứu trên động vật.

Cần tư vấn cho phụ nữ mang thai về nguy cơ tiềm ẩn cho thai nhi. Cũng cần tư vấn cho phụ nữ và nam giới về việc sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong và sau khi điều trị với busulfan.

Chèn ép tim

Chèn ép tim đã được ghi nhận ở bệnh nhân nhi mắc bệnh thiếu máu di truyền (8/400 hoặc 2% ở một nhóm) uống busulfan và cyclophosphamid liều cao như một phác đồ chuẩn bị cho việc cấy ghép tế bào gốc tạo máu. 6 trong số 8 trẻ em bị chết và 2 trường hợp được điều trị bởi thủ thuật chọc màng ngoài tim. Đau bụng và ói mửa trước khi bị chèn ép tim được quan sát thấy ở phần lớn bệnh nhân.

Cần theo dõi các biểu hiện và triệu chứng, nhanh chóng đánh giá và điều trị nếu nghi ngờ có chèn ép tim.

Loạn sản phế quản phổi

Loạn sản phế quản phổi có xơ hóa phổi là một biến chứng hiếm gặp nhưng nghiêm trọng khi điều trị bằng busulfan lâu dài. Thời gian trung bình khởi phát các triệu chứng là 4 năm sau khi điều trị (khoảng 4 tháng đến 10 năm).

Loạn sản tế bào

Busulfan có thể gây loạn sản tế bào ở nhiều cơ quan. Các bất thường về mặt tế bào được đặc trưng bởi các hạt nhân khổng lồ, tăng sắc tố đã được báo cáo ở các hạch bạch huyết, tuyến tụy, tuyến giáp, tuyến thượng thận, gan, phổi và tủy xương. Loạn sản tế bào có thể đủ nghiêm trọng để gây khó khăn trong việc biện giải các xét nghiệm tế bào gốc của phổi, bàng quang, vú và cổ tử cung.

Sử dụng trong nhi khoa

Hiệu quả của busulfan trong điều trị bệnh bạch cầu mạn tính dòng tủy chưa được nghiên cứu cụ thể ở bệnh nhân nhi. Nghiên cứu mở và không kiểm soát đánh giá dược động học của busulfan ở 24 bệnh nhân nhi dùng busulfan khi được sử dụng để chuẩn bị cho việc ghép tế bào gốc tạo máu cho nhiều bệnh lý ác tính liên quan đến huyết học (N = 15) hoặc không ác tính (N = 9). Độ tuổi của bệnh nhân dao động từ 5 tháng đến 16 tuổi (trung bình là 3 tuổi). Việc sử dụng liều busulfan được nhắm đến mục tiêu để đạt được diện tích dưới đường cong (AUC) là 900-1350 uMphút với liều ban đầu 0,8 mg/kg hoặc 1,0 mg/kg (dựa trên ABW) nếu bệnh nhân > 4 hoặc <4 tuổi. Liều được điều chỉnh dựa trên nồng độ trong huyết tương sau khi hoàn thành liều 1.

Bệnh nhân đã truyền liên tục busulfan trong 2 giờ, mỗi 6 giờ 1 lần trong 4 ngày với tổng cộng 16 liều, sau đó dùng cyclophosphamid 50 mg/kg mỗi ngày 1 lần trong 4 ngày. Sau một ngày nghỉ sẽ truyền các tế bào gốc tạo máu. Tất cả các bệnh nhân đều được sử dụng phenytoin để phòng ngừa động kinh. AUC mục tiêu (900-1350 ± 5% uMphút) đối với busulfan đạt được ở liều 1 ở 71% (17/24) bệnh nhân. Xét nghiệm dược động học ở trạng thái ổn định được thực hiện ở liều 9 và 13.

Nồng độ busulfan nằm trong phạm vi nồng độ mục tiêu đạt được với 21 trong số 23 bệnh nhân được đánh giá. Tất cả 24 bệnh nhân đều bị giảm bạch cầu trung tính (số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối < 0,5 x 10L) và giảm tiểu cầu (lượng tiểu cầu < 20.000/mm3). 79% bệnh nhân trải qua chứng giảm bạch cầu lympho (số lượng bạch cầu lymphơ tuyệt đối < 0,1 x 109). Ở 23 bệnh nhân, số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối phục hồi > 0,5 x 10L (thời gian phục hồi trung bình = BMT ngày +13, khoảng = BMT ngày +9 đến +22). Một bệnh nhân tử vong vào ngày +20 không thể hồi phục lại mức số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối >0,5 x 109/L.

4 bệnh nhân (17%) chết trong quá trình nghiên cứu. 2 bệnh nhân chết trong vòng 28 ngày sau khi cấy ghép; 1 người bị viêm phổi và hội chứng tăng tính thấm mao mạch, và người còn lại bị viêm phổi và tắc tĩnh mạch. 2 bệnh nhân chết trước ngày 100; 1 bệnh nhân do bệnh tiến triển và người còn lại do suy đa tạng.

Các tác dụng không mong muốn được báo cáo ở tất cả 24 bệnh nhân trong thời gian nghiên cứu (BMT ngày -10 đến BMT ngày +28) hoặc thời gian giám sát sau nghiên cứu (ngày +29 đến +100).

Các triệu chứng này bao gồm nôn mửa (100%), buồn nôn (83%), viêm miệng (79%), viêm tắc tĩnh mạch gan (HVOD) (21%), tế bào ghép chống lại vật chủ (GVHD) (25%) và viêm phổi (21%).

Dựa trên kết quả của thử nghiệm lâm sàng trên 24 bệnh nhân này, một phác đồ điều trị được đề nghị ở bệnh nhân nhi như sau:

Bảng liều busulfan
Cản nặng thực tế của bệnh nhân (ABW) Liều busulfan
≤ 12kg 1,1 (mg/kg)
> 12kg 0,8 (mg/kg)

Mô phỏng dựa trên mô hình dược động học trên trẻ em cho thấy khoảng 60% bệnh nhân sẽ đạt được mức (AUC) nằm trong khoảng từ 900 đến 1350 µM.phút với liều đầu tiên của busulfan sử dụng biểu đồ liều lượng này. Cần theo dõi và điều chỉnh liều sau liều đầu tiên của busulfan.

Điều chỉnh liều lượng dựa trên việc giám sát quá trình điều trị

Hướng dẫn để xác định AUC của busulfan ở liều đầu và công thức điều chỉnh cho những liều tiếp theo để đạt được AUC mục tiêu (1125 µM.phút), được thể hiện như sau:

Liều điều chỉnh (mg) = Liều thực tế (mg) x AUC mục tiêu (µM.phút)/AUC thực tế (µM.phút)

Ví dụ, nếu bệnh nhân sử dụng liều 11 mg busulfan có AUC tương ứng là 800 µM.phút, để đạt được AUC mục tiêu là 1125 µM.phút, liều busulfan cần được điều chỉnh như sau:

Liều điều chỉnh (mg)= 11 x 1125/800 = 15,5

Việc điều chỉnh liều busulfan cũng có thể được thực hiện bằng việc sử dụng công thức này và hướng dẫn sau đây.

Lấy mẫu máu để xác định AUC

Tính AUC (µM.phút) dựa trên các mẫu máu được thu thập tại các thời điểm sau:

Đối với liều đầu tiên: 2 giờ (kết thúc truyền), 4 giờ và 6 giờ (ngay trước khi sử dụng busulfan theo lịch trình tiếp theo). Thời gian thực tế lấy mẫu cần được ghi lại.

Đối với liều khác liều đầu tiên: Trước khi truyền (đường cơ sở), 2 giờ (kết thúc truyền), 4 giờ và 6 giờ (ngay trước khi sử dụng busulfan theo lịch trình tiếp theo).

Việc tính AUC dựa trên ít hơn ba mẫu có thể dẫn đến kết quả xác định AUC không chính xác.

Đối với mỗi mẫu máu dự kiến, lấy từ 1 đến 3 mL máu vào ống Vacutainer đã được heparin hóa (Na hoặc Li heparin). Các mẫu máu nên được đặt trên đá ướt ngay sau khi lấy và nên được ly tâm (ở 4°C) trong vòng một giờ. Để huyết tương thu được vào các ống cryovial thích hợp, sau đó đông lạnh ngay lập tức ở -20°C. Tất cả các mẫu huyết tương phải được gửi ở trạng thái đông lạnh (ví dụ: trên đá khô) đến phòng thí nghiệm để xác định nồng độ busulfan trong huyết tương.

Cách tính AUC

Cách tính AUC của Busulfan có thể được thực hiện bằng việc sử dụng các hướng dẫn sau đây và công thức dược động học tiêu chuẩn thích hợp:

AUCvô cực = AUC0-6 giờ + AUCngoại suy, trong đó AUC0-6 giờ được ước tính dựa trên công thức tuyến hình thang và AUCngoại suy có thể tính được bằng cách lấy tỉ số nồng độ busulfan lúc 6 giờ và hằng số tỉ lệ kết thúc thải trừ λz. λz phải được tính toán dựa từ pha kết thúc thải trừ của nồng độ busulfan so với đường cong thời gian. Cần giả định một nồng độ “0” trước khi dùng busulfan, và dùng nó để tính toán AUC.

Nếu đánh giá AUC tiếp sau liều 1, trạng thái-ổn định của AUCss (AUC0-6 giờ) được ước lượng từ vùng giữa các nồng độ lúc 2 giờ, 4 giờ và 6 giờ dùng công thức tuyến hình thang.

Hướng dẫn sử dụng thuốc và thu thập mẫu máu để giám sát quá trình điều trị

Sử dụng bộ truyền với dung tích giữ lại tối thiểu (đuổi khí) (1-3 mL) để đảm bảo truyền chính xác liều lượng quy định và đảm bảo có thể lấy chính xác các mẫu máu nhằm theo dõi quá trình điều trị và điều chỉnh liều.

Đuổi khí hệ thống truyền với thuốc trước để có thể xác định chính xác về thời gian bắt đầu truyền busulfan. Lấy mẫu máu từ một tĩnh mạch ngoại vi để tránh nhiễm bẩn với thuốc tiêm truyền. Nếu mẫu máu được lấy trực tiếp từ catheter tĩnh mạch trung tâm (CVC), KHÔNG LẤY MẪU MÁU KHI ĐANG TRUYỀN THUỐC để đảm bảo rằng việc kết thúc mẫu truyền không bị nhiễm bất kỳ lượng tàn dư của bất kỳ một loại thuốc nào khác. Khi kết thúc truyền dịch (2 giờ), ngắt kết nối ống tiêm và rửa CVC với 5 ml nước muối sinh lý trước khi thu mẫu truyền cuối cùng từ cổng CVC.

Lấy các mẫu máu từ một vị trí khác với đường truyền busulfan. Khi ghi thời gian ngừng truyền busulfan, cần loại bỏ thời gian rửa catheter. Hủy bỏ bộ truyền khi kết thúc 2 giờ truyền dịch.

Sử dụng thuốc ở người cao tuổi

5 trong số 61 bệnh nhân trong thử nghiệm lâm sàng điều trị với busulfan đã qua tuổi 55 (khoảng 57-64). Tất cả các bệnh nhân đều đạt được kết quả việc loại bỏ tủy và ghép mô.

Suy thận

Busulfan chưa được nghiên cứu trên bệnh nhân suy thận.

Suy gan

Busulfan chưa được sử dụng trên bệnh nhân bị suy giảm chức năng gan.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Hiện chưa có dữ liệu về ảnh hưởng của busulfan lên khả năng lái xe và vận hành máy. Tác dụng không mong muốn đối với những hoạt động này không thể tiên đoán được từ đặc tính dược lý của thuốc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: NA (IV); D (uống)

Thời kỳ mang thai:

Tóm tắt nguy cơ:

Busulfan có thể gây hại cho thai nhi khi dùng cho phụ nữ có thai dựa vào dữ liệu trên động vật. Busulfan gây quái thai ở chuột nhắt, chuột cống và thỏ sau khi dùng trong quá tình hình thành các cơ quan. Dung môi DMA cũng có thể gây hại cho thai nhi khi dùng cho phụ nữ mang thai. Ở chuột cống, liều DMA xấp xỉ 40% liều hàng ngày của DMA trong busulfan dựa trên mg/m được cho trong quá trình sinh thiết tạo nên những dị thường phát triển đáng kể. Không có dữ liệu thử nghiệm trên người cho thấy các nguy cơ liên quan đến thuốc. Cần tư vấn cho phụ nữ mang thai những nguy cơ tiềm ẩn cho thai nhi.

Nguy cơ về các dị tật bẩm sinh nghiêm trọng và sẩy thai trên các nhóm đối tượng được chỉ định busulfan chưa được biết đến. Tuy nhiên, nguy cơ về các dị tật bẩm sinh nghiêm trọng trong dân số chung ở Hoa Kỳ chiếm 2-4% và sẩy thai là 15-20% các trường hợp được ghi nhận mang thai trên lâm sàng.

Dữ liệu trên động vật:

Khi điều trị trong quá trình hình thành các cơ quan ở động vật, busulfan gây dị tật và bất thường, bao gồm sự thay đổi nghiêm trọng trong hệ thống cơ xương, tăng cân và kích cỡ cơ thể. Ở chuột cống mang thai, busulfan gây vô sinh ở chuột con, cả con đực và con cái do không có tế bào mầm ở tỉnh hoàn và buồng trứng. Dung môi DMA ở liều 400 mg/kg/ngày (xấp xỉ 40% liều DMA hàng ngày trong busulfan tính trên mg/m) trong quá trình hình thành các cơ quan gây ra những bất thường phát triển lớn trên sự phát triển. Các bất thường nghiêm trọng nhất bao gồm phủ toàn thân, hở vòm miệng, bất thường về cột sống, xương sườn và những bất thường nghiêm trọng trên mạch máu của tim.

Thời kỳ cho con bú:

Hiện tại vẫn chưa xác định được thuốc có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Do có nhiều thuốc có thể được bài tiết qua sữa mẹ và những nguy cơ tiềm ẩn về tình trạng gây ung thư trong những nghiên cứu trên người và động vật, cần ngưng việc cho con bú trong quá trình điều trị với busulfan.

Ảnh hưởng trên khả năng sinh sản ở nam và nữ:

*Ngừa thai:

Nữ giới: Busulfan có thể gây hại cho thai nhi khi dùng cho phụ nữ mang thai. Tư vấn cho phụ nữ có khả năng có con để sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong và sau khi điều trị với busulfan.

Nam giới: Busulfan có thể gây hại cho tinh trùng và mô tinh hoàn, dẫn đến bất thường về di truyền của thai thi. Nam giới nên sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong và sau khi điều trị với busulfan.

*Vô sinh:

Nữ giới: Ức chế buồng trứng và vô kinh thường xảy ra ở phụ nữ tiền mãn kinh đang sử dụng phác đồ với busulfan, liều thấp đối với bệnh bạch cầu mạn tính.

Nam giới: Tình trạng vô sinh, vô sinh do không có tinh trùng và teo tinh hoàn đã được báo cáo ở bệnh nhân nam.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Những tác dụng không mong muốn sau đây được trình bày chi tiết hơn ở các mục khác của tờ hướng dẫn sử dụng này:

• Giảm tủy xương

• Động kinh

• Bệnh tắc tĩnh mạch gan (HVOD)

• Độc tính trên phôi – thai nhi

• Chèn ép tim

• Loạn sản phế quản phổi

• Loạn sản tế bào

Kinh nghiệm thử nghiệm lâm sàng

Do các thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trong những điều kiện khác nhau, tỷ lệ tác dụng không mong muốn được quan sát thấy trong các thử nghiệm lâm sàng của một loại thuốc không thể so sánh trực tiếp với tỷ lệ trong các thử nghiệm lâm sàng của một loại thuốc khác và có thể không phản ánh tỷ lệ trong thực tế. Thông tin về tác dụng không mong muốn chủ yếu được tổng hợp từ nghiên cứu lâm sàng (N = 61) của busulfan và các dữ liệu thu được đối với điều trị busulfan liều cao trong việc thiết lập các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên và được kiểm soát thông qua việc nghiên cứu tài liệu.

Trong thử nghiệm lâm sàng cấy ghép tế bào gốc tạo máu dị gen, tất cả các bệnh nhân đều được điều trị với busulfan 0,8 mg/kg khi truyền liên tục trong 2 giờ, 6 giờ một lần với tổng số 16 liều trong 4 ngày, kết hợp với cyclophosphamid 60 mg/kg x 2 ngày. 93% bệnh nhân duy trì mức AUC dưới 1.500 µM.phút cho liều 9, thường được coi là mức giảm thiểu nguy cơ tối đa với HVOD.

Bảng 1. Tóm tắt tần suất (>20%) các phản ứng có hại không-liên quan đến huyết học đến tận ngày BMT +28 ở bệnh nhân đã dùng busulfan trước khi ghép tế bào gốc tạo máu đồng loại
Phản ứng có hại không liên quan đến huyết học* % Tần suất
TOÀN THÂN
Sốt 80
Đau đầu 69
Suy nhược 51
Rùng mình 46
Đau 44
Phù chung 28
Phản ứng dị ứng 26
Đau ngực 26
Viêm chỗ tiêm truyền 25
Đau lưng 23
HỆ TIM MẠCH
Tim đập nhanh 44
Tăng huyết áp 36
Huyết khối 33
Giãn mạch 25
HỆ TIÊU HÓA
Buồn nôn 98
Viêm miệng (Viêm niêm mạc) 97
Nôn 95
Chán ăn 85
Tiêu chảy 84
Đau bụng 72
Khó tiêu 44
Táo bón 38
Khô miệng 26
Rối loạn trực tràng 25
Trướng bụng 23
HỆ THỔNG CHUYỀN HÓA VÀ DINH DƯỠNG
Giảm magiê máu 77
Tăng glucose máu 66
Giảm kali máu 64
Giảm canxi máu 49
Tăng bilirubin máu 49
Phù 36
Tăng SGPT 31
Tăng creatinin 21
HỆ THẦN KINH
Mất ngủ 84
Lo âu 72
Chóng mặt 30
Suy nhược 23
HỆ HÔ HẤP
Viêm mũi 44
Rối loạn phổi 34
Ho 28
Chảy máu cam 25
Khó thở 25
DA
Phát ban 57
Ngứa 28
*Bao gồm tất cả các phản ứng có hại được báo cáo không tính đến mức độ nghiêm trọng (mức độ độc 1-4).

Các tác dụng không mong muốn khác theo hệ thống

Huyết học: Thời gian prothrombin kéo dài

Tiêu hóa: Viêm thực quản, tắc ruột, nôn ra máu, viêm tụy, khó chịu trực tràng

Gan: Tăng phosphatase kiềm, vàng da, gan to

Bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ: Bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ. Có 3 người chết (5%) do bệnh này

Phù: Tăng lưu lượng máu hoặc tăng cân

Nhiễm khuẩn: Nhiễm khuẩn, viêm phổi (một bệnh nhân tử vong và 3% bệnh nhân trong tình trạng đe dọa đến tính mạng)

Tim mạch: Loạn nhịp tim, rung tâm nhĩ, ngoại tâm thu thất, blốc tim mức độ 3, huyết khối (tất cả

các giai đoạn đều liên quan đến catheter tĩnh mạch trung tâm), hạ huyết áp, đỏ bừng và nóng, tim to, ECG bất thường, suy tim trái và tràn dịch màng ngoài tim

Hô hấp: thở gấp, xuất huyết phế nang (tử vong 3%), viêm họng, nấc cục, hen, xẹp phổi, tràn dịch màng phổi, giảm oxy máu, ho ra máu, bệnh phổi mô kẽ (gây tử vong cho 1 trường hợp)

Thần kinh: xuất huyết não, hôn mê, mê sảng, kích động, bệnh não, lú lẫn, ảo giác, ngủ lịm, ngủ gà.

Thận: tăng BUN, chứng khó tiểu, tiểu ít, tiểu ra máu, viêm bàng quang xuất huyết

Da: rụng tóc, ban có mụn nước, ban sần, viêm da tróc vảy, hồng ban nút, mụn trứng cá, đổi màu da

Chuyển hóa: hạ phosphat máu, hạ natri máu

Các hiện tượng khác: đau tại nơi tiêm, đau cơ, đau khớp, rối loạn tai

Các tác dụng không mong muốn khác

Bởi vì những tác dụng không mong muốn này được báo cáo tự nguyện từ một nhóm bệnh nhân với số lượng không chắc chắn nên không phải lúc nào cũng có thể xác định được nguyên nhân là do tiếp xúc với thuốc. Các phản ứng phụ sau đây đã được xác định:

Rối loạn máu và hệ bạch huyết: sốt giảm bạch cầu

Rối loạn tiêu hóa: thiếu sản men răng

Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: hội chứng tiêu khối u

Rối loạn mạch máu: huyết khối mao mạch (TMA)

Nhiễm khuẩn và nhiễm kí sinh trùng: nhiễm khuẩn, nhiễm virút nghiêm trọng (cytomegalovirus

viremia) và nhiễm nấm nghiêm trọng; nhiễm khuẩn huyết.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Nếu huyết cầu giảm nặng, phải ngừng thuốc. Sự phục hồi sau ngừng thuốc thường chậm hơn so với các thuốc alkyl hóa khác, có thể kéo dài 1 tháng đến 2 năm. Vì vậy, nếu loại huyết cầu nào giảm nhiều, thì phải truyền loại huyết cầu đó. Phải xét nghiệm, đếm tế bào máu hàng ngày cho đến khi phục hồi. Phải điều trị tích cực chống nhiễm khuẩn.

Để phòng ngừa co giật, nhất là người bệnh đã có tiền sử co giật, hoặc bị chấn thương ở đầu, hoặc đã dùng thuốc gây co giật, cần dùng thuốc chống co giật như phenytoin.

Để tránh bệnh tắc tĩnh mạch gan, đe dọa đến tính mạng người bệnh trong phác đồ điều trị trước khi ghép tế bào gốc tạo máu, cần xét nghiệm phosphatase kiềm, bilirubin, AST, ALT khi dùng busulfan và xét nghiệm hàng ngày từ khi ghép cho đến ngày thứ 28 để phát hiện sớm độc với gan. Các yếu tố nguy cơ bị tắc tĩnh mạch gan là khi tổng liều busulfan vượt quá 16 mg/kg, hoặc dùng phối hợp với các thuốc alkyl hóa khác, hoặc trước đó đã dùng liệu pháp tia xạ, đã dùng hóa trị liệu 3 lần trở lên, hoặc đã ghép tủy trước đó.

Khi thấy có biểu hiện bệnh thận do acid uric, sỏi thận, suy thận cấp, cần bù đủ dịch, kiềm hóa nước tiểu và dùng chất ức chế xanthin oxidase như alopurinol.

Khi phát hiện có dấu hiệu đầu tiên của hội chứng “phổi do busulfan”, phải ngừng thuốc ngay. Có thể dùng corticosteroid, hô hấp nhân tạo; chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Itraconazol làm giảm độ thanh thải của busulfan lên đến 25%, do đó AUC có thể > 1500 µM.phút ở một số bệnh nhân. Fluconazol (200 mg) đã được sử dụng cùng với busulfan.

Phenytoin làm tăng độ thanh thải của busulfan lên đến 15% hoặc hơn, có thể do sự kích thích của glutathion-S-transferase. Kể từ khi dược động học của busulfan được nghiên cứu trên bệnh nhân điều trị bằng phenytoin, độ thanh thải của busulfan ở liều khuyến cáo có thể thấp hơn và AUC cao hơn ở bệnh nhân không điều trị với phenytoin.

Vì busulfan được đào thải khỏi cơ thể dưới dạng liên hợp với glutathion, việc sử dụng acetaminophen trước (dưới 72 giờ) hoặc cùng với busulfan có thể dẫn tới việc làm giảm độ thanh thải của busulfan dựa trên những đặc tính đã biết của acetaminophen là làm giảm nồng độ glutathion trong máu và mô.

4.9 Quá liều và xử trí:

Không có thuốc giải độc đặc hiệu nào khi quá liều busulfan ngoài việc cấy ghép tế bào gốc tạo máu.

Trong trường hợp không thể thực hiện cấy ghép tế bào gốc tạo máu, liều khuyến cáo cho busulfan sẽ gây ra quá liều. Mặc dù độc tính chủ yếu của busulfan là giảm sản hoặc bất sản tủy xương và giảm toàn thể huyết cầu nhưng hệ thống thần kinh trung ương, gan, phổi và đường tiêu hóa có thể bị ảnh hưởng. Tình trạng huyết học nên được theo dõi chặt chẽ và cần có các biện pháp hỗ trợ tích cực như các chỉ định về y khoa. Sự sống sót sau khi dùng một liều 140 mg busulfan viên nén ở trẻ 18 kg, 4 tuổi đã được báo cáo. Việc dùng liều busulfan uống cao hơn liều khuyến cáo (2,1 mg/kg, tổng liều 23,3 mg/kg) xảy ra ở trẻ 2 tuổi trước khi ghép tủy xương theo lộ trình mà không có biến chứng. Một liều cấp tính 2,4 g đã gây tử vong cho 1 bé trai 10 tuổi. Có 1 báo cáo cho thấy busulfan có thể được loại bỏ bằng thẩm phân máu, do đó có thể cân nhắc sử dụng thẩm phân máu trong trường hợp quá liều.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm điều trị: Thuốc chống ung thư, nhóm alkyl sulfonat, mã ATC: L01AB01.

Busulfan là một tác nhân alkyl hóa, trong đó hai nhóm methanesulfonat không bền được gắn vào các đầu đối diện nhau của mạch alkyl có 4 carbon. Trong nước, busulfan thủy phân để giải phóng các nhóm methanesulfonat. Điều này tạo ra ion carbon hoạt động, có thể alkyl hóa DNA. Nguyên nhân gây tổn thương DNA được cho là do độc tố của busulfan.

Cơ chế tác dụng:

Busulfan là một thuốc alkyl hóa, có tác dụng ngăn cản sự sao chép ADN và phiên mã ARN, nên làm rối loạn chức năng của acid nucleic, và có tác dụng không đặc hiệu đến các pha của chu kỳ phân chia tế bào. Busulfan có 2 nhóm methansulfonat không bền, đính vào các đầu đối diện nhau của mạch alkyl có 4 carbon.

Trong nước, busulfan bị thủy phân, giải phóng ra các nhóm methansulfonat, và sản sinh ra các ion carbon hoạt động, có khả năng alkyl hóa ADN, nên gây độc tế bào. Busulfan có hoạt tính ức chế miễn dịch yếu.

XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Dược động học của busulfan đã được nghiên cứu ở 59 bệnh nhân tham gia vào một thử nghiệm lâm sàng tiến cứu khi được sử dụng để chuẩn bị cho việc ghép tế bào gốc tạo máu dị gen sử dụng busulfan-cyclophosphamid. Bệnh nhân được truyền 0,8 mg/kg busulfan mỗi 6 giờ, tổng cộng 16 liều trong 4 ngày. 55 trong số 59 bệnh nhân (93%) sử dụng busulfan có giá trị AUC luôn được duy trì thấp hơn giá trị mục tiêu (<1500 µM.phút).

Bảng 3. Các thông số Dược động học ở trạng thái ổn định sau khi truyền busulfan (busultan) (0,8 mg/kg, N-59)
. Giá trị trung bình CV (%) Khoảng
Cmax (ng/mL) 1.222 18 496 – 1.684
AUC (µM.phút) 1.167 20 556 – 1.673
CL (mL/phút/kg)* 2,52 25 1,49 – 4,31
*Độ thanh thải đã được bình thường hóa theo cân nặng thực tế của tất cả các bệnh nhân.

Dược động học của busulfan cho thấy tính nhất quán giữa liều 9 và liều 13 như thể hiện thông qua khả năng lặp lại trạng thái ổn định của Cmax cùng với hệ số biến thiên thấp đối với tham số này.

Phân bố: Busulfan đạt được nồng độ trong dịch não tủy xấp xỉ bằng với nồng độ trong huyết tương. Busulfan chủ yếu liên kết với albumin (trung bình + độ lệch chuẩn = 32,4 ±2,2%).

Chuyển hóa: Busulfan được chuyển hóa chủ yếu bằng cách liên hợp với glutathion, cả tự phát và cả bằng xúc tác bởi S-transferase glutathion (GST). Hợp chất liên hợp này bị oxi hóa mạnh ở gan.

Đào thải: Sau khi tiêm busulfan, khoảng 30% chất phóng xạ đã được bài tiết qua nước tiểu trong 48 giờ; một lượng không đáng kể đã được đào thải qua phân.

Dược động học trên nhóm dân số đặc biệt

Trẻ em:

Trong một nghiên cứu về dược động học của busulfan ở 24 bệnh nhi, dược động học ước tính trên nhóm dân số (PPK) của busulfan cho độ thanh thải (CL) và khối lượng phân bố (V) được xác định.

Đối với trọng lượng cơ thể thực tế, ước tính PPK của CL và V là 4,04 L/giờ/20 kg (3,37 mL/phút/kg, sự biến thiên các cá thể 23%); và 12,8 L/20 kg (0,64 L/kg, sự biến thiên giữa các cá thể 11%).

5.3. Hiệu quả lâm sàng:

Dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của busulfan khi được sử dụng để chuẩn bị cho việc ghép tế bào gốc tạo máu được lấy từ hai nguồn:

i) Phân tích một thử nghiệm lâm sàng tiến cứu về busulfan trên 61 bệnh nhân được chẩn đoán có các khối u ác tính liên quan đến huyết học khác nhau, và

ii) Các báo cáo đã được công bố về các thử nghiệm đối chứng, ngẫu nhiên có kiểm soát sử dụng busulfan đường uống liều cao khi được sử dụng để chuẩn bị cho việc cấy ghép, được xác định trong một bài đánh giá tổng quan tài liệu dựa trên 5 cơ sở dữ liệu đã được thiết lập.

Thử nghiệm lâm sàng tiến cứu của busulfan: Thử nghiệm tiến cứu 1 nhánh, nhãn mở được thực hiện trên 61 bệnh nhân sử dụng busulfan khi được sử dụng để chuẩn bị cho việc cấy ghép tế bào gốc tạo máu. Nghiên cứu bao gồm những bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp tính đã trải qua lần thuyên giảm đầu tiên (tái phát lần đầu hoặc sau đó), với lần thuyên giảm đầu tiên có nguy cơ cao, hoặc với thất bại với điều trị ban đầu; Bệnh bạch cầu mạn tính dòng tủy (CML) trong giai đoạn mạn tính, giai đoạn tiến triển, giai đoạn chuyển cấp; Bệnh Hodgkin kháng hoặc tái phái hoặc ung thư lympho không phải Hodgkin; Và hội chứng rối loạn sinh tủy. 48% bệnh nhân (29/61) được điều trị cẩn thận trước đó là một trong những trường hợp sau: xạ trị trước đó, ≥ 3 lần hóa trị liệu, hoặc ghép tế bào gốc tạo máu trước đó. 75% bệnh nhân (46/61) được cấy ghép khi các bệnh ở thể hoạt động.

Bệnh nhân sử dụng 16 liều busulfan 0,8 mg/kg trong 2 giờ, 6 giờ 1 lần trong 4 ngày, theo sau đó là cyclophosphamid 60 mg/kg mỗi ngày 1 lần trong hai ngày (phác đồ BuCy). Tất cả bệnh nhân đều được sử dụng 100% chế độ liều busulfan theo lộ trình. Không có sự điều chỉnh liều nào được thực hiện. Sau một ngày nghỉ, tiêm các tế bào gốc máu tạo máu vào. Các thông số về tính hiệu quả trong nghiên cứu này là việc loại bỏ tủy (được xác định là một trong những thông số sau đây: số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối [ANC] dưới 0,5 x 109/L, số lượng bạch cầu lympho [ALC] dưới 0,1 x 109/L, giảm tiểu cầu được định nghĩa là số lượng tiểu cầu dưới 20.000/mm3 hoặc cần phải yêu cầu truyền máu) và ghép mô (ANC ≥ 0,5 x 109/L).

Tất cả các bệnh nhân (61/61) đều trải qua sự loại bỏ tủy. Thời gian trung bình để giảm bạch cầu trung tính là 4 ngày. Tất cả các bệnh nhân được đánh giá (60/60) được ghép mô với thời gian trung bình sau cấy ghép là 13 ngày (khoảng 9 đến 29 ngày); Một bệnh nhân được xem là không thể đánh giá được do tử vong vì viêm phổi do nhiễm nấm 20 ngày sau khi ghép máu và tủy (ngày BMT) và trước khi ghép mô. Tất cả bệnh nhân trừ 13 người đều được điều trị dự phòng bằng G-CSF. Bằng chứng về việc ghép mô tế bào do hiến tặng và di truyền học đã được ghi nhận ở tất cả các bệnh nhân có chất chỉ điểm nhiễm sắc thể giới tính hoặc chất chỉ điểm bệnh bạch cầu (43/43) và không có bệnh nhân nào có bằng chứng về di truyền học của việc cấy ghép mô dị gen bị mất mảnh ghép sau đó. Không có báo cáo nào của việc ghép mô bị thất bại trong tổng số bệnh nhân được nghiên cứu. Số lượng trung bình phải truyền tiểu cầu theo đầu người là 6 và số lượng trung bình cần truyền hồng cầu theo đầu người là 4.

23 bệnh nhân (38%) tái phát sau thời gian trung bình là 183 ngày sau khi cấy ghép (khoảng 36 đến 406 ngày). 62% bệnh nhân (38/61) khỏi bệnh với thời gian theo dõi trung bình là 269 ngày sau cấy ghép (khoảng từ 20 đến 583 ngày). 43 bệnh nhân (70%) sống sót sau khi theo dõi 288 ngày sau cấy ghép (khoảng 51 đến 583 ngày). Có 2 bệnh nhân tử vong trước ngày BMT + 28 và 6 bệnh nhân khác đã tử vong trước ngày BMT +100. 10 bệnh nhân (16%) đã tử vong sau ngày BMT + 100, trung bình là 199 ngày sau khi cấy ghép (khoảng từ 113 đến 275 ngày).

5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:

Không có thông tin.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Tá dược: N,N Dimethylacetamid, polyethylen glycol 400 vừa đủ.

6.2. Tương kỵ :

Thuốc tiêm busulfan tương kỵ với nhiều loại thuốc, vì vậy, không được trộn hoặc truyền dung dịch busulfan với các dung dịch khác, nếu không biết rõ là có tương hợp.

Không được dùng bơm tiêm bằng polycarbonat để pha thuốc hoặc để tiêm thuốc.

6.3. Bảo quản:

ĐIỀU KIỆN BẢO QUẢN

Bảo quản trong tủ lạnh (2°C đến 8°C).

Busulfan pha loãng trong dung dịch tiêm NaCl 0,9% hay Dextrose 5% ổn định ở nhiệt độ phòng (25°C) trong thời gian là 8 tiếng và cần phải được sử dụng trong khoảng thời gian này.

Tại nhiệt độ 2-8°C, busulfan pha loãng trong dung dịch tiêm NaC1 0,9% ổn định trong vòng 12 tiếng và cần phải được sử dụng hết trong khoảng thời gian này.

6.4. Thông tin khác :

Busulfan là một thuốc độc. Vì vậy, cần tuân thủ các quy tắc và quy trình đặc biệt về an toàn. Phản ứng da có thể xảy ra nếu như vô tình bị tiếp xúc với thuốc. Phải sử dụng găng tay khi pha chế. Nếu thuốc hay dung dung dịch thuốc đã pha loãng vô tình tiếp xúc với da hay niêm mạc, cần phải rửa sạch với nước.

Kiểm tra kỹ bằng mắt thường để xem thuốc có các tiểu phân lạ hay bị đổi màu hay không trước khi sử dụng. Không sử dụng nếu thuốc có các tiểu phân lạ hay bị đổi màu.

6.5 Tài liệu tham khảo:

HDSD Thuốc Busulfan Injection do Fresenius Kabi Oncology Ltd sản xuất (2019).

Ngân hàng dữ liệu ngành Dược.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM