cấu trúc hóa học của dược chất Bevacizumab (Bevacizumab chemical)

Bevacizumab – (Hoạt chất)

Thông tin chung về hoạt chất, dược chất Bevacizumab

Bevacizumab là một loại kháng thể đơn dòng được sử dụng đường tiêm kết hợp với các loại thuốc hóa trị khác để điều trị một số loại ung thư đại tràng hoặc trực tràng di căn, ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC), u nguyên bào thần kinh đệm (một loại khối u não), ung thư tế bào thận, ung thư cổ tử cung, và ung thư buồng trứng, ống dẫn trứng … Bevacizumab thường được bào chế dưới dạng dung dịch đậm đặc để pha tiêm truyền có nồng độ 25mg/ml. Dưới đây là thông tin chung của hoạt chất, thuốc Bevacizumab (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…):

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Bevacizumab

Phân loại: Thuốc chống ung thư > Kháng thể đơn dòng.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01XC07.

Biệt dược gốc: Avastin

Biệt dược, thuốc Generic:

Tên thuốc NĐ-HL Doanh nghiệp sản xuất
Abevmy – 100 100mg/4ml Biocon Biologics Limited
Abevmy – 400 400mg/16ml Biocon Biologics Limited
Avegra Biocad 100mg/4ml 100mg/4ml Biocad Closed Joint Stock Company
Avegra Biocad 400mg/16ml 400mg/16ml Biocad Closed Joint Stock Company
Mvasi 400mg/16ml Cơ sở sản xuất: Patheon Manufacturing Services LLC – Cơ sở đóng gói và xuất xưởng: Amgen Manufacturing Ltd
Mvasi 100mg/4ml Cơ sở sản xuất: Patheon Manufacturing Services LLC – Cơ sở đóng gói và xuất xưởng: Amgen Manufacturing Ltd

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch đậm đặc để pha tiêm truyền 25 mg/ml

Hình ảnh cấu trúc hóa học của dược chất:

cấu trúc hóa học của dược chất Bevacizumab (Bevacizumab chemical)

3. Thông tin dành cho người sử dụng:

3.1. Bevacizumab là thuốc gì?

Bevacizumab là một loại kháng thể đơn dòng được sử dụng đường tiêm kết hợp với các loại thuốc hóa trị khác để điều trị một số loại ung thư đại tràng hoặc trực tràng di căn, ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC), u nguyên bào thần kinh đệm (một loại khối u não), ung thư tế bào thận, ung thư cổ tử cung, và ung thư buồng trứng, ống dẫn trứng … Bevacizumab thường được bào chế dưới dạng dung dịch đậm đặc để pha tiêm truyền có nồng độ 25mg/ml.

3.2. Câu hỏi thường gặp phổ biến:

Bevacizumab tác động tới ung thư như thế nào?

Bevacizumab thuộc nhóm thuốc gọi là thuốc chống tạo mạch. Bevacizumab hoạt động bằng cách ngăn chặn sự hình thành các mạch máu mang oxy và chất dinh dưỡng đến khối u (ung thư). Hệ quả là có thể làm chậm sự phát triển và lan rộng của khối u (ung thư).

Bevacizumab có nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam không?

Bevacizumab CÓ nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam. Tuy nhiên Quỹ bảo hiểm y tế chỉ thanh toán 50% giá trị tiền thuốc nếu được sử dụng tại bệnh viện hạng đặc biệt, hạng I và bệnh viện chuyên khoa ung bướu hạng II; Vì vậy người bệnh có thể được sử dụng thuốc này tại các cơ sở khám chữa bệnh theo tuyến bảo hiểm y tế.

4. Thông tin dành cho nhân viên y tế:

4.1. Chỉ định:

Ung thư đại – trực tràng di căn (mCRC)

Bevacizumab, phối hợp với phác đồ hoá trị có fluoropyrimidine, được chỉ định trong điều trị cho bệnh nhân ung thư đại tràng hoặc trực tràng di căn.

Ung thư vú tái phát khu trú hoặc ung thư vú di căn (mBC)

Bevacizumab, phối hợp với thuốc nhóm taxel, được chỉ định trong điều trị bước một cho bệnh nhân ung thư vú tái phát khu trú hoặc ung thư vú di căn.

Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, không vảy, tiến triển, di căn hoặc tái phát (NSCLC)

Bevacizumab, bổ sung vào phác đồ hóa trị có platin, được chỉ định trong điều trị bước một cho bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, không vảy, tiến triển không phẫu thuật được, di căn hoặc tái phát.

Ung thư tế bào thận tiến triển và/hoặc di căn (mRCC)

Bevacizumab, phối hợp với interferon alfa-2a được chỉ định trong điều trị bước một cho bệnh nhân ung thư tế bào thận tiến triển và/hoặc di căn.

U nguyên bào thần kinh đệm – U tế bào thần kinh đệm ác tính (Giai đoạn IV-WHO)

Bevacizumab, đơn trị liệu hoặc phối hợp với irinotecan, được chỉ định trong điều trị bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm tái phát.

Off-label:

Bevacizumab được dùng off- label để điều trị bệnh thoái hóa hoàng điểm tuổi già, phù hoàng điểm trong tắc tĩnh mạch, tân mạch thứ phát do cận thị hay rạn màng Bruch, giãn mạch cạnh hoàng điểm nguyên phát, bệnh võng mạc trẻ đẻ non, glôcôm tân mạch, bệnh võng mạc đái tháo đường tăng sinh.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dịch truyền Bevacizumab không được truyền cùng hoặc pha lẫn với dung dịch dextrose hoặc dung dịch glucose.

Không được tiêm tĩnh mạch nhanh.

Bevacizumab nên được nhân viên y tế chuẩn bị với kỹ thuật vô khuẩn. Rút lượng bevacizumab cần thiết và pha loãng trong một thể tích cần dùng dung dịch chloride natri 0,9%. Nồng độ dung dịch bevacizumab cuối cùng nên nằm trong khoảng từ 1,4 đến 16,5mg/ml.

Bỏ phần thuốc còn lại trong lọ, vì sản phẩm không có chất bảo quản. Các sản phẩm thuốc sử dụng đường tiêm truyền đều nên được kiểm tra bằng mắt thường xem có cặn và đổi màu hay không trước khi sử dụng.

Liều dùng:

Nguyên tắc chung

Bevacizumab nên được chuẩn bị bởi nhân viên y tế sử dụng kỹ thuật vô khuẩn.

Liều khởi đầu Bevacizumab nên được truyền tĩnh mạch trong vòng 90 phút. Nếu lần truyền đầu dung nạp tốt, lần truyền lần thứ hai có thể truyền trong 60 phút. Nếu lần truyền trong 60 phút được dung nạp tốt, những lần truyền tiếp theo có thể truyền trong vòng 30 phút.

Không nên giảm liều Bevacizumab khi xảy ra các biến cố bất lợi.

Ung thư đại trực tràng di căn (UTĐTTdc)

Liều khuyên dùng của Bevacizumab theo đường truyền tĩnh mạch như sau:

Điều trị bước một: 5mg/kg cân nặng, một lần mỗi 2 tuần; hoặc 7,5mg/kg cân nặng, một lần mỗi 3 tuần.

Điều trị bước hai: 10mg/kg cân nặng, một lần mỗi 2 tuần; hoặc 15mg/kg cân nặng, một lần mỗi 3 tuần.

Nên tiếp tục điều trị Bevacizumab cho đến khi bệnh tiến triển.

Ung thư vú tái phát khu trú hoặc ung thư vú di căn (UTVdc)

Liều khuyên dùng của Bevacizumab theo đường truyền tĩnh mạch là 10mg/kg cân nặng, một lần mỗi 2 tuần; hoặc 15mg/kg cân nặng, một lần mỗi 3 tuần.

Hiệu quả lâm sàng trên bệnh nhân UTVdc cũng đã được chứng minh khi sử dụng ở liều 7,5mg/kg cân nặng truền tĩnh mạch một lần mỗi 3 tuần. Chi tiết xin xem thêm phần Các nghiên cứu về hiệu quả trên lâm sàng.

Ung thư vú tái phát tại chỗ hoặc ung thư vú di căn (UTVdc)

Nên tiếp tục điều trị Bevacizumab cho đến khi bệnh tiến triển.

Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, tiến triển, di căn hoặc tái phát (UTPKTBN)

Bevacizumab được dùng để bổ sung vào phác đồ hóa trị có platin trong 6 chu kỳ điều trị, sau đó dùng Bevacizumab đơn trị cho đến khi bệnh tiến triển.

Liều khuyên dùng của Bevacizumab để bổ sung cho phác đồ hóa trị có cisplatin là 7,5mg/kg cân nặng, truyền tĩnh mạch một lần mỗi 3 tuần.

Liều khuyên dùng của Bevacizumab để bổ sung cho phác đồ hóa trị có carboplatin là 15mg/kg cân nặng, truyền tĩnh mạch một lần mỗi 3 tuần.

Ung thư tế bào thận tiến triển và/hoặc di căn (UTTBTdc)

Liều khuyên dùng của Bevacizumab theo đường truyền tĩnh mạch là 10mg/kg cân nặng, một lần mỗi 2 tuần.

U nguyên bào thần kinh đệm – U tế bào thần kinh đệm ác tính (Giai đoạn IV-WHO)

Liều khuyên dùng là truyền tĩnh mạch 10mg/kg cân nặng một lần mỗi 2 tuần hoặc 15mg/kg cân nặng một lần mỗi 3 tuần.

Nên tiếp tục điều trị Bevacizumab cho đến khi bệnh tiến triển.

Trẻ em và thanh thiếu niên: Tính an toàn và hiệu quả của Bevacizumab trên trẻ em và thanh thiếu niên chưa được nghiên cứu.

Người già: Không cần phải điều chỉnh liều dùng cho người già.

Suy thận: Tính an toàn và hiệu quả của Bevacizumab chưa được nghiên cứu trên bệnh nhân suy thận.

Suy gan: Tính an toàn và hiệu quả của Bevacizumab chưa được nghiên cứu trên bệnh nhân suy gan.

4.3. Chống chỉ định:

Chống chỉ định Bevacizumab trên bệnh nhân được biết là quá mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc hoặc với những sản phẩm làm từ tế bào buồng trứng chuột lang Trung Quốc hoặc các kháng thể người tái tổ hợp hay các kháng thể nhân hóa khác.

Chống chỉ định Bevacizumab trên bệnh nhân có di căn đến hệ thần kinh trung ương chưa được điều trị.

4.4 Thận trọng:

Thủng đường tiêu hóa

Bệnh nhân có thể tăng nguy cơ thủng đường tiêu hóa khi được điều trị Bevacizumab. Nên ngừng hẳn Bevacizumab trên những bệnh nhân bị thủng đường tiêu hóa.

Đường rò

Bệnh nhân có thể bị tăng nguy cơ xuất hiện đường rò khi được điều trị Bevacizumab. Nên ngừng hẳn Bevacizumab trên những bệnh nhân bị rò khí-thực quản hoặc bất kỳ đường rò độ 4 nào. Có rất ít thông tin về việc tiếp tục dùng Bevacizumab cho những bệnh nhân bị các đường rò khác. Trong trường hợp đường rò nội tạng không xuất phát từ đường tiêu hóa, nên ngưng dùng Bevacizumab.

Xuất huyết

Bệnh nhân được điều trị với Bevacizumab sẽ tăng nguy cơ bị xuất huyết, đặc biệt là xuất huyết liên quan khối u. Nên ngưng hẳn Bevacizumab trên bệnh nhân có chảy máu độ 3 hoặc 4 trong quá trình điều trị với Bevacizumab. Nguy cơ xuất huyết hệ thần kinh trung ương trên những bệnh nhân có di căn tới hệ thần kinh trung ương sử dụng Bevacizumab chưa được đánh giá đầy đủ, bởi vì những bệnh nhân này bị loại khỏi các thử nghiệm lâm sàng. Bệnh nhân cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của xuất huyết thần kinh trung ương và nên dừng điều trị Bevacizumab nếu có xuất huyết nội sọ.

Xuất huyết phổi/Ho ra máu

Những bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được điều trị với Bevacizumab có thể có nguy cơ bị xuất huyết phổi/ho ra máu nghiêm trọng, và một số trường hợp đã tử vong. Không nên dùng Bevacizumab cho những bệnh nhân vừa mới bị xuất huyết phổi/ho ra máu (> 1/2 thìa cà-phê máu tươi)

Tăng huyết áp

Ghi nhận tăng tỉ lệ tăng huyết áp trên bệnh nhân được điều trị với Bevacizumab. Các dữ liệu an toàn lâm sàng gợi ý tỉ lệ tăng huyết áp có thể phụ thuộc vào liều. Tăng huyết áp đã có từ trước phải được kiểm soát đầy đủ trước khi bắt đầu điều trị với Bevacizumab. Không có thông tin về tác động của Bevacizumab trên bệnh nhân tăng huyết áp không được kiểm soát lúc bắt đầu điều trị Bevacizumab. Nên theo dõi huyết áp trong suốt quá trình điều trị với Bevacizumab.

Trong phần lớn các trường hợp, tăng huyết áp đều có thể được kiểm soát thỏa đáng bằng cách dùng thuốc hạ huyết áp thông thường một cách phù hợp cho từng bệnh nhân. Nếu tăng huyết áp nặng không thể kiểm soát được với các thuốc hạ huyết áp; hoặc nếu bệnh nhân lên cơn tăng huyết áp hoặc bị bệnh não do tăng huyết áp, nên ngưng sử dụng Bevacizumab.

Hội chứng bệnh lý chất trắng não sau có thể hồi phục được (RPLS)

Đã có một số trường hợp hiếm gặp những bệnh nhân đang được điều trị với Bevacizumab bị các dấu hiệu và triệu chứng phù hợp với hội chứng bệnh lý chất trắng não sau có thể hồi phục được (RPLS). Đây là một rối loạn thần kinh hiếm gặp, thể hiện bằng các dấu hiệu và triệu chứng sau: co giật, đau đầu, trạng thái tâm thần thay đổi, rối loạn thị giác, hoặc mù vỏ não, có hoặc không kèm cao huyết áp. Cần phải có hình ảnh não để xác định chẩn đoán RPLS. Đối với những bệnh nhân bị RPLS, việc điều trị các triệu chứng đặc hiệu bao gồm kiểm soát huyết áp được khuyến cáo cùng với việc ngừng Bevacizumab. Tính an toàn của việc tái điều trị Bevacizumab ở những bệnh nhân đã bị RPLS chưa được biết.

Thuyên tắc huyết khối động mạch

Trong những thử nghiệm lâm sàng, tỉ lệ biến cố thuyên tắc huyết khối động mạch bao gồm tai biến mạch máu não, cơn thoáng thiếu máu não (TIA) và nhồi máu cơ tim (NMCT) trên những bệnh nhân sử dụng Bevacizumab phối hợp với hóa trị cao so với những bệnh nhân sử dụng hoá trị đơn thuần.

Nên ngưng Bevacizumab vĩnh viễn ở những bệnh nhân bị biến cố thuyên tắc huyết khối động mạch.

Bệnh nhân sử dụng Bevacizumab phối hợp với hóa trị có tiền sử bị thuyên tắc huyết khối động mạch hoặc tuổi trên 65 sẽ tăng nguy cơ bị biến cố thuyên tắc huyết khối động mạch trong quá trình điều trị với Bevacizumab. Nên thận trọng khi điều trị Bevacizumab trên những bệnh nhân này.

Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch

Bệnh nhân có nguy cơ bị biến cố thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch kể cả thuyên tắc phổi trong quá trình điều trị với Bevacizumab. Nên ngưng Bevacizumab ở những bệnh nhân bị thuyên tắc phổi nặng dọa tử vong (độ 4). Những bệnh nhân bị độ 3 trở xuống cần phải được theo dõi kỹ.

Suy tim sung huyết

Những biến cố phù hợp với suy tim sung huyết đã được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng. Những triệu chứng thay đổi từ giảm phân suất tống máu thất trái không có triệu chứng đến suy tim sung huyết có triệu chứng, cần phải được điều trị hoặc nhập viện.

Phần lớn bệnh nhân bị suy tim sung huyết đều có ung thư vú di căn và được điều trị trước đó với anthracyclines, được xạ trị thành ngực trái trước đó hoặc có những yếu tố nguy cơ dễ bị suy tim sung huyết khác như bị bệnh tim mạch vành từ trước hoặc được điều trị đồng thời với các thuốc gây độc cho tim.

Cần phải thận trọng khi điều trị Bevacizumab cho những bệnh nhân bị bệnh tim mạch nặng hoặc bị suy tim sung huyết sẵn từ trước.

Giảm bạch cầu trung tính

So với những bệnh nhân chỉ dùng hóa trị liệu đơn thuần, người ta thấy có sự tăng tỷ lệ giảm bạch cầu trung tính nặng, sốt giảm bạch cầu trung tính hoặc nhiễm trùng có giảm bạch cầu trung tính nặng (kể cả một vài trường hợp tử vong) ở những bệnh nhân được điều trị với một số phác đồ hóa chất gây độc cho tủy cùng với Bevacizumab so với hóa trị đơn thuần.

Quá trình lành vết thương

Bevacizumab có thể có tác động ngoại ý trên quá trình lành vết thương. Nên chờ ít nhất 28 ngày sau khi đại phẫu hoặc cho đến khi vết thương phẫu thuật đã lành hoàn toàn mới bắt đầu điều trị Bevacizumab. Đối với bệnh nhân có biến chứng trong quá trình lành vết thương khi điều trị Bevacizumab, nên ngưng sử dụng Bevacizumab cho đến khi vết thương lành hoàn toàn. Nên tạm ngưng điều trị Bevacizumab trong những trường hợp phẫu thuật theo chương trình.

Đạm niệu

Trong những thử nghiệm lâm sàng, tỷ lệ xuất hiện đạm niệu ở những bệnh nhân dùng Bevacizumab phối hợp với hóa trị liệu cao hơn so với những bệnh nhân chỉ dùng hóa trị liệu đơn thuần. Đạm niệu độ 4 (hội chứng thận hư) ít gặp ở những bệnh nhân dùng Bevacizumab. Nên ngừng Bevacizumab trên bệnh nhân bị đạm niệu độ 4.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Chưa tiến hành nghiên cứu về tác động của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Tuy nhiên, không có bằng chứng về việc điều trị Bevacizumab làm tăng biến cố bất lợi có thể dẫn đến giảm khả năng lái xe và vận hành máy móc hoặc suy giảm khả năng trí tuệ.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Sự sinh mạch được biết là có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển của bào thai. Ức chế sinh mạch do sử dụng Bevacizumab có thể gây hậu quả xấu trong thai sản.

Không có nghiên cứu kiểm chứng tốt và đầy đủ trên phụ nữ có thai. Người ta biết rằng IgG qua được hàng rào nhau thai, và Bevacizumab có thể ức chế sự sinh mạch ở bào thai. Vì vậy, không nên sử dụng Bevacizumab trong quá trình mang thai. Những phụ nữ có khả năng mang thai nên áp dụng các biện pháp tránh thai thích hợp trong quá trình điều trị Bevacizumab. Dựa trên tính toán về dược động học, nên tiếp tục dùng các biện pháp tránh thai trong ít nhất 6 tháng kể từ khi sử dụng liều Bevacizumab cuối cùng.

Thời kỳ cho con bú:

Không biết liệu bevacizumab có tiết qua sữa mẹ hay không. Vì IgG của mẹ được tiết qua sữa mẹ và Bevacizumab có thể gây hại cho sinh trưởng và phát triển của trẻ, nên khuyên phụ nữ ngưng cho con bú trong khi điều trị Bevacizumab và không cho con bú trong ít nhất 6 tháng kể từ liều Bevacizumab cuối cùng.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Những phản ứng có hại nghiêm trọng nhất của thuốc là:

Thủng đường tiêu hóa

Xuất huyết kể cả xuất huyết phổi/ho ra máu, thường xảy ra ở những bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (UTPKTBN).

Thuyên tắc huyết khối động mạch.

Các phân tích dữ liệu an toàn trên lâm sàng gợi ý rằng tăng huyết áp và protein niệu xảy ra khi điều trị với Bevacizumab có thể phụ thuộc liều.

Các phản ứng có hại của thuốc thường được ghi nhận nhất trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân sử dụng Bevacizumab là: tăng huyết áp, mệt mỏi hoặc suy nhược, tiêu chảy và đau bụng.

Những phản ứng có hại của thuốc do sử dụng Bevacizumab phối hợp với những phác đồ hóa trị khác nhau trong nhiều chỉ định. Những phản ứng có hại của thuốc được liệt kê trong bảng nằm trong hai mức sau: Rất hay gặp (≥ 10%) và Hay gặp (≥ 1% – < 10%).

Các phản ứng có hại của thuốc rất hay gặp và hay gặp

Nhóm hệ thống cơ quan Các phản ứng mức độ 3-5 theo NCI-CTC (≥ 2% sự khác biệt giữa những nhóm nghiên cứu trong ít nhất một thử nghiệm lâm sàng Các phản ứng ở mọi mức độ (≥ 10% sự khác biệt giữa những nhóm nghiên cứu trong ít nhất một thử nghiệm lâm sàng
Rất hay gặp Hay gặp Rất hay gặp
Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng Nhiễm khuẩn huyết Áp-xe Nhiễm trùng
Các rối loạn máu và hệ bạch huyết Sốt giảm bạch cầu trung tính Giảm bạch cầu Giảm bạch cầu trung tính Giảm tiểu cầu. Thiếu máu
Các rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng Mất nước Chán ăn
Các rối loạn hệ thần kinh Bệnh thần kinh cảm giác ngoại biên Tai biến mạch máu não Ngất Tình trạng ngủ gà Nhức đầu Loạn vị giác Nhức đầu
Các rối loạn ở mắt Rối loạn về mắt Tăng tiết nước mắt
Các rối loạn ở tim Suy tim sung huyết Nhịp tim nhanh trên thất
Các rối loạn mạch Tăng huyết áp Thuyên tắc huyết khối (động mạch) Huyết khối tĩnh mạch sâu Xuất huyết Tăng huyết áp
Các rối loạn về hô hấp, lồng ngực và trung thất Tắc mạch phổi Khó thở Giảm oxy huyết Chảy máu cam Khó thở Chảy máu cam Viêm mũi
Các rối loạn đường tiêu hóa Tiêu chảy Buồn nôn Nôn Thủng ruột Liệt ruột Tắc ruột Đau bụng Rối loạn tiêu hóa Viêm miệng Táo bón Viêm miệng Xuất huyết trực tràng
Các rối loạn ở da và mô dưới da Hội chứng loạn cảm giác đỏ lòng bàn tay-bàn chân Viêm da tróc vảy Da khô Đổi màu da
Các rối loạn về xương, hệ thống cơ xương và mô liên kết Yếu cơ Đau cơ Đau khớp
Các rối loạn ở thận và tiết niệu Đạm niệu Nhiễm trùng tiết niệu Đạm niệu
Các rối loạn toàn thân và vị trí tiêm thuốc Suy nhược Mệt mỏi Đau Chứng ngủ lịm Viêm niêm mạc Sốt Suy nhược Đau Viêm niêm mạc

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Tác động của thuốc chống ung thư lên dược động học của bevacizumab.

Dựa trên những kết quả phân tích dược động học dân số, người ta thấy không có tương tác dược động học liên quan đến lâm sàng khi dùng đồng thời hóa trị liệu với Bevacizumab. Không có sự khác biệt về độ thanh thải của Bevacizumab giữa những bệnh nhân sử dụng Bevacizumab đơn trị và những bệnh nhân dùng Bevacizumab phối hợp phác đồ tiêm nhanh IFL (Irinotecan/5-Fluorouracil/Leucovorin). Tác động của những hóa trị liệu khác (như 5-FU-LV, carboplatin-paclitaxel, capecitabin hoặc doxorubicin) lên độ thanh thải Bevacizumab khi dùng phối hợp được xem là không có ý nghĩa về mặt lâm sàng.

Tác động của bevacizumab lên dược động học của những thuốc chống ung thư khác.

Những kết quả từ nghiên cứu AVF3135g về tương tác thuốc-thuốc, cho thấy bevacizumab không có tác động đáng kể lên dược động học của irinotecan và chất chuyển hoá có hoạt tính của nó là SN38.

Những kết quả từ nghiên cứu NP18587 cho thấy bevacizumab không có tác động đáng kể lên dược động học của capecitabine và các chất chuyển hóa của nó; cũng như lên dược động học của oxaliptatin, và điều này đã được xác định qua giá trị platin tự do và platin toàn phần.

Những kết quả từ nghiên cứu B017705 cho thấy bevacizumab không có tác động đáng kể lên dược động học của interferon alfa-2a.

Những kết quả từ nghiên cứu BO17704 cho thấy bevacizumab không có tác động đáng kể lên dược động học của cisplatin.

Do có sự biến thiên giữa các bệnh nhân và hạn chế của cỡ mẫu thử nghiệm, những kết quả từ nghiên cứu BO17704 không cho phép kết luận chắc chắn về ảnh hưởng của bevacizumab lên dược động học của gemcitabine.

Phối hợp giữa bevacizumab với sunitinib malate

Trong hai nghiên cứu lâm sàng trên bệnh nhân ung thư thận đã ghi nhận 7 trong số 19 bệnh nhân có xuất hiện thiếu máu huyết tán bệnh lý vi mạch (microangiopathic hemolytic anemia viết tắt là MAHA) khi điều trị kết hợp bevacizumab (10mg/kg cân nặng mỗi 2 tuần) với sunitinib malate (50mg mỗi ngày).

MAHA là hiện tượng huyết tán có biểu hiện là hồng cầu bị vỡ, thiếu máu và giảm tiểu cầu. Thêm vào đó, một số những bệnh nhân này còn có các biểu hiện tăng huyết áp (bao gồm cả cơn tăng huyết áp), tăng creatinine và các triệu chứng của hệ thần kinh. Tất cả các triệu chứng trên cải thiện khi ngưng sử dụng bevacizumab và sunitinib malate (xem thêm phần Tăng huyết áp, Protein niệu, RPLS trong phần Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng)

Xạ trị

Tính an toàn và hiệu quả khi phối hợp xạ trị với Bevacizumab vẫn chưa được xác lập.

4.9 Quá liều và xử trí:

Liều cao nhất được thử nghiệm trên người (20mg/kg cân nặng, tiêm tĩnh mạch mỗi 2 tuần) có liên quan đến tình trạng đau nửa đầu nặng trên một vài bệnh nhân.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Bevacizumab (Bevacizumab) một kháng thể đơn dòng kháng yếu tố tăng sinh nội mạch A (VEGF-A), một hoạt chất chủ yếu giúp tăng sinh mạch máu (angiogenesis).

Bevacizumab là thuốc kháng thể nhân tạo (IgG1) được sử dụng để điều trị ung thư thận, ung thư cổ tử cung, ung thư buồng trứng, ung thư đại tràng và trực tràng. Bevacizumab cũng được sử dụng để điều trị ung thư phổi (loại tế bào ung thư lớn), một số loại khối u não, và ung thư tìm thấy trong các ống dẫn trứng hoặc thành bụng (màng bụng). Thuốc hoạt động bằng cách ngăn chặn protein nhất định (VEGF) qua đó giảm việc cung cấp máu đến khối u và làm chậm tốc độ tăng trưởng khối u.

Thuốc đã được thử nghiệm lâm sàng trên các bệnh :

Ung thư đại trực tràng di căn (mCRC)

Ung thư vú di căn hoặc tái phát khu trú (UTVdc)

Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, tiến triển, tái phát hoặc di căn (UTPKTBN)

Ung thư tế bào thận tiến triển và/hoặc di căn (UTTBTdc)

U nguyên bào thần kinh đệm và U tế bào thần kinh đệm ác tính

Cơ chế tác dụng:

Bevacizumab là một kháng thể đơn dòng toàn phần nhân hóa từ chuột biến đổi gen. Chuỗi acid amin của kháng thể này có khoảng 93% từ người và 7% từ chuột có phân tử lượng 156 KdB. Bevacizumab có khả năng xuyên qua hàng rào máu, thuốc kết hợp với mọi loại isoforme của VEGF nhằm ngăn sự kết hợp của VEGF với receptor của nó (Flt-1 và KDR) trên bề mặt tế bào nội mạc và ức chế con đường tín hiệu qua receptor để giảm sinh mạch của khối u, vì vậy ức chế sự tăng trưởng của khối u.

5.2. Dược động học:

Dược động học của bevacizumab được mô tả trên những bệnh nhân có các loại khối u đặc khác nhau. Những liều được thử nghiệm là 0,1-10mg/kg mỗi tuần trong nghiên cứu pha I; 3-20mg/kg mỗi 2 tuần hoặc mỗi 3 tuần trong nghiên cứu pha II; 5mg/kg (mỗi 2 tuần) hoặc 15mg/kg mỗi 3 tuần trong nghiên cứu pha III. Trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng, bevacizumab được sử dụng theo đường truyền tĩnh mạch.

Như đã được ghi nhận ở các kháng thể khác, dược động học của bevacizumab được biểu thị rõ qua mô hình kiểu hai khoang. Nhìn chung, trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng, bevacizumab có đặc điểm là có độ thanh thải thấp, thể tích giới hạn ở khoang trung tâm (Vc) và thời gian bán thải dài. Điều này giúp cho nồng độ của bevacizumab trong huyết tương ở mức đạt mục tiêu điều trị có thể được duy trì trong các loại chu kỳ điều trị (ví dụ như dùng một lần mỗi 2 tuần hoặc dùng một lần mỗi 3 tuần).

Trong phân tích dược động học theo quần thể, không có sự khác biệt đáng kể về dược động học của bevacizumab liên quan đến tuổi tác (không có sự tương quan giữa độ thanh thải bevacizumab và độ tuổi của đối tượng nghiên cứu [trung vị của độ tuổi là 59, với bách phân vị thứ 5 và thứ 95 của độ tuổi là 37 đến 76 tuổi])

Nồng độ albumin thấp và phosphatase kiềm cao nhìn chung biểu thị độ nặng của bệnh và tổng khối u. Độ thanh thải Bevacizumab cao hơn khoảng 20% ở những đối tượng hoặc có nồng độ albumin huyết thanh thấp hoặc có nồng độ phosphatase kiềm cao, khi so sánh với những đối tượng điển hình có giá trị albumin và/hoặc phosphatase kiềm trung bình.

Phân bố

Giá trị điển hình của thể tích khoang trung tâm (VC) lần lượt là 2,66l và 3,25l trên đối tượng nữ và nam, giá trị này nằm trong phạm vi đã được xác định cho IgG và các kháng thể đơn dòng khác. Sau khi điều chỉnh theo trọng lượng cơ thể, những đối tượng nam giới có VC lớn hơn (+22%) những đối tượng nữ giới.

Chuyển hóa

Đánh giá chuyển hoá bevacizumab ở thỏ sau một liều truyền tĩnh mạch 125I-bevacizumab đã cho thấy đường biểu diễn chuyển hóa của nó cũng tương tự như đường biểu diễn có thể xảy ra với một phân tử IgG tự nhiên không gắn VEGF.

Đào thải

Dược động học của bevacizumab là một đường tuyến tính theo sự biến thiên của liều dùng từ 1,5 đến 10mg/kg/tuần. Về trung bình, độ thanh thải bevacizumab là 0,207l/ngày đối với nữ và 0,262l/ngày đối với nam. Sau khi điều chỉnh theo trọng lượng cơ thể, đối tượng nam giới có độ thanh thải bevacizumab cao hơn (+ 26%) đối tượng nữ giới. Theo mô hình kiểu hai khoang thời gian bán hủy đầu (á) là 1,4 ngày cho cả hai giới; và thời gian bán hủy cuối (â) ước chừng là 20 ngày cho đối tượng nữ điển hình và 19 ngày cho đối tượng nam điển hình.

5.3. Hiệu quả lâm sàng:

Xem chi tiết tại tờ hướng dẫn sử dụng của từng biệt dược.

5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:

Xem chi tiết tại tờ hướng dẫn sử dụng của từng biệt dược.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Xem chi tiết tại tờ hướng dẫn sử dụng của từng biệt dược.

6.2. Tương kỵ :

Chưa ghi nhận tính không tương thích giữa Bevacizumab và polyvinyl chloride hoặc túi polyolefin. Ghi nhận tình trạng thoái biến phụ thuộc nồng độ của Bevacizumab khi pha loãng Bevacizumab với dung dịch dextrose 5%.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản lọ thuốc trong tủ lạnh ở nhiệt độ 2-8oC. Giữ nguyên lọ trong hộp bìa cứng vì thuốc nhạy cảm với ánh sáng.

Không để đông lạnh. không được lắc.

Bevacizumab không chứa bất kỳ chất bảo quản chống vi khuẩn nào; vì vậy, phải cẩn thận để đảm bảo vô khuẩn cho dung dịch đã pha.

Độ ổn định của hóa tính và lý tính được chứng minh trong 48 giờ ở nhiệt độ 2-30oC trong dung dịch chloride natri 0,9%. Theo quan điểm vi sinh học, thuốc nên được sử dụng ngay lập tức. Nếu không sử dụng ngay, người sử dụng có trách nhiệm đảm bảo về thời gian và điều kiện bảo quản thuốc và thông thường không nên quá 24 giờ ở nhiệt độ 2-8oC, trừ khi việc pha thuốc được tiến hành trong điều kiện vô khuẩn được công nhận và có kiểm soát.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Hướng dẫn sử dụng thuốc AVASTIN.

Electronic medicines compendium.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM