Anastrozole – Gayi

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Anastrozole

Phân loại: Thuốc chống ung thư, thuốc ức chế aromatase.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L02BG03.

Biệt dược gốc: ARIMIDEX

Biệt dược: GAYI

Hãng sản xuất : Công ty cổ phần dược phẩm Đạt Vi Phú.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén bao phim: 1 mg.

Thuốc tham khảo:

GAYI 1mg
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Anastrozole …………………………. 1 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Ðiều trị ung thư vú tiến triển tại chỗ hoặc di căn ở phụ nữ sau mãn kinh.

Đáp ứng với thuốc không giống nhau ở những bệnh nhân có thụ thể estrogen âm tính. Liệu pháp hỗ trợ có thể kéo dài đến 5 năm, mặc dù chưa rõ thời gian điều trị tối ưu.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Có thể uống lúc no hoặc đói.

Liều dùng:

Người lớn, kể cả người cao tuổi: 1 viên 1 mg uống ngày 1 lần.

Trẻ em: không được khuyến cáo dùng.

Tổn thương chức năng thận: không cần thay đổi liều lượng ở bệnh nhân có tổn thương chức năng thận nhẹ hoặc trung bình.

Tổn thương chức năng gan: không cần thay đổi liều lượng ở bệnh nhân có bệnh lý gan nhẹ.

Ðối với bệnh ở giai đoạn sớm, thời gian điều trị khuyến cáo là 5 năm.

4.3. Chống chỉ định:

Anastrozol chống chỉ định ở:

Bệnh nhân tiền mãn kinh.

Phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú.

Bệnh nhân có tổn thương chức năng thận nặng (độ thanh thải creatinin < 20 ml/ phút).

Bệnh nhân có bệnh lý gan trung bình hoặc nặng.

Bệnh nhân mẫn cảm với anastrozol hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Các trị liệu có chứa estrogen không nên dùng kèm với anastrozol vì chúng có thể làm mất tác dụng dược lý của thuốc.

Không điều trị cùng lúc với tamoxifen.

4.4 Thận trọng:

Phụ nữ bị loãng xương hoặc có nguy cơ loãng xương nên được đánh giá chính thức mật độ xương bằng máy đo mật độ xương, như là máy quét DEXA, trước khi bắt đầu điều trị bằng anastrozol và định kỳ sau đó. Việc điều trị hoặc dự phòng bệnh loãng xương nên được bắt đầu khi thích hợp và theo dõi cẩn thận.

Không nên dùng anastrozol cho trẻ em vì chưa xác định được tính an toàn và hiệu quả ở nhóm bệnh nhân này.

Cần xác định tình trạng mãn kinh bằng xét nghiệm sinh hóa ở những bệnh nhân nghi ngờ về tình trạng nội tiết.

Chưa có dữ liệu về tính an toàn của anastrozol ở bệnh nhân có tổn thương gan trung bình hoặc nặng, hoặc ở những bệnh nhân tổn thương chức năng thận nặng (độ thanh thải creatinin < 20 mL/ phút).

Chưa có dữ liệu về việc dùng anastrozol với chất có cấu trúc tương tự LHRH. Kết hợp này không nên thực hiện ngoại trừ sử dụng trong các thử nghiệm lâm sàng.

Vì anastrozol làm giảm nồng độ estrogen trong máu nên có thể làm giảm mật độ khoáng của xương với hậu quả có thể làm tăng nguy cơ gãy xương. Sử dụng các biphosphonat có thể làm ngưng sự mất chất khoáng của xương do anastrozol ở phụ nữ sau mãn kinh và có thể xem xét áp dụng.

Để xa tầm tay trẻ em.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Anastrozol không làm giảm khả năng lái xe và vận hành máy của bệnh nhân. Tuy nhiên, suy nhược và buồn ngủ đã được ghi nhận khi sử dụng anastrozol và cần phải thận trọng khi lái xe hoặc vận hành máy trong khi vẫn còn các triệu chứng trên.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: C

US FDA pregnancy category: X

Thời kỳ mang thai:

Không có dữ liệu về sử dụng anastrozol ở phụ nữ mang thai. Nghiên cứu trên động vật cho thấy thuốc có độc tính trên sinh sản. Anastrozol chống chỉ định ở phụ nữ mang thai.

Thời kỳ cho con bú:

Không có dữ liệu về sử dụng anastrozol ở phụ nữ đang cho con bú. Anastrozol chống chỉ định ở phụ nữ đang cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Tác dụng không mong muốn thường gặp nhất khi sử dụng thuốc là các rối loạn đường tiêu hóa (như chán ăn, buồn nôn và nôn mửa, tiêu chảy), suy nhược, bốc hỏa, chóng mặt, buồn ngủ, nhức đầu, nổi ban, viêm họng, tăng huyết áp, trầm cảm, loãng xương, gãy xương, đau lưng, mất ngủ, phù ngoại vi, phù bạch huyết. Các tác dụng không mong muốn khác như thưa tóc, âm đạo khô hoặc chảy máu, đau cơ, đau khớp, gãy xương, giá trị men gan bất thường, huyết khối tắc mạch, tăng cholesterol toàn phần. Hiếm gặp: hồng ban đa dạng, hội chứng Stevens-Johnson và phản ứng dị ứng (phù mạch, mày đay, phản ứng phản vệ).

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Các ADR của anastrozol thường nhẹ nên ít khi phải ngừng thuốc. Để phòng và giảm thiểu tác dụng phụ, bệnh nhân dùng anastrozol cần thay đổi lối sống (ví dụ; vận động, nâng tạ, không hút thuốc lá, kiêng rượu…); bổ sung calci, vitamin D trong khấu phần hàng ngày. Trước và trong quá trình điều trị bằng anastrozol cần đo mật độ xương và nếu có loãng xương thì cần điều trị.

Điều trị loãng xương bằng bisphosphonat uống.

Điều trị sớm các ADR của thuốc nếu có biểu hiện.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Chất điều biến thụ thể estrogen chọn lọc: không nên sử dụng đồng thời chất điều biến thụ thể estrogen chọn lọc (như tamoxifen, raloxifen) và thuốc ức chế men aromatase (như anastrozol).

Dữ liệu thử nghiệm ATAC cho thấy sử dụng đồng thời anastrozol và tamoxifen không ảnh hưởng đến dược động học của tamoxifen hoặc N-desmethyltamoxifen (chất chuyển hóa có hoạt tính chính của tamoxifen). Nồng độ anastrozol trung bình trong huyết tương giảm khoảng 27% ở bệnh nhân dùng đồng thời anastrozol và tamoxifen so với bệnh nhân chỉ dùng anastrozol. Kết quả phân tích mẫu máu cho thấy mức giảm nồng độ estradiol tương đương ở bệnh nhân dùng đồng thời anastrozol và tamoxifen so với bệnh nhân chỉ dùng anastrozol. Mặc dù tầm quan trọng của tương tác dược động học này chưa chắc chắn, liệu pháp phối hợp 2 thuốc không cho hiệu quả hơn so với tamoxifen đơn trị. Không nên sử dụng đồng thời anastrozol và tamoxifen.

Do tương tác dược động học này có thể xuất hiện với các thuốc tương tự và làm giảm nồng độ nồng độ anastrozol trong huyết tương, không nên sử dụng đồng thời anastrozol với các chất điều biến thụ thể estrogen chọn lọc khác (như raloxifen). – Bệnh nhân nữ điều trị bằng anastrozol mà cần thiết dùng thuốc điều trị loãng xương, nên dùng các bisphosphonat hơn là raloxifen.

Estrogen: Không nên dùng đồng thời các liệu pháp có estrogen với anastrozol vì chúng có thể làm mất tác dụng dược lý của anastrozol.

Thuốc chuyển hóa bởi enzym gan: Anastrozol ức chế CYP1A2, 2C8/9 và 3A4 ở nồng độ cao tương đối in vitro. Anastrozol không ức chế CYP2A6 hoặc 2D6 ở người, và thuốc không ảnh hưởng đến dược động học của antipyrin. Ngoài ra, anastrozol không ảnh hưởng đến nồng độ đỉnh trong huyết tương, AUC hoặc tác dụng kháng đông của R- và S- warfarin. Anastrozol ở liều khuyến cáo có thể không gây ra các tương tác đáng kể trên lâm sàng với các thuốc khác chuyển hóa qua cytocrom P450.

4.9 Quá liều và xử trí:

Kinh nghiệm lâm sàng do vô ý sử dụng thuốc quá liều còn giới hạn. Các nghiên cứu ở động vật cho thấy anastrozol ít có độc tính cấp. Các nghiên cứu lâm sàng thực hiện với những liều khác nhau của anastrozol, lên tới 60 mg liều duy nhất cho nam giới tình nguyện khỏe mạnh và lên đến 10 mg mỗi ngày cho phụ nữ sau mãn kinh bị ung thư vú tiến triển, cho thấy các liều này đều được dung nạp tốt. Chưa ghi nhận được một liều đơn nào của anastrozol có thể gây ra các triệu chứng đe dọa tính mạng bệnh nhân. Không có chất giải độc đặc hiệu nào trong trường hợp dùng quá liều anastrozol và xử trí thường là điều trị triệu chứng.

Khi xử trí một trường hợp quá liều, cần xem xét đến khả năng có thể đã sử dụng đa trị liệu. Có thể cho gây nôn nếu bệnh nhân còn tỉnh. Thẩm phân có thể hữu ích vì anastrozol không gắn kết mạnh với protein huyết tương. Cần chăm sóc hỗ trợ bệnh nhân toàn diện, kể cả theo dõi thường xuyên các dấu hiệu sinh tồn và theo dõi sát bệnh nhân.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Anastrozol là một thuốc ức chế men aromatase thuộc nhóm không steroid, có tính chọn lọc cao và tác dụng mạnh. Ở phụ nữ sau mãn kinh, estradiol được sản xuất chủ yếu từ sự chuyển đổi androstenedion sang estron nhờ phức hợp men aromatase ở các mô ngoại vi. Sau đó estron chuyển thành estradiol. Sự giảm lượng estradiol trong máu đã được chứng minh mang lại tác dụng có lợi cho bệnh nhân ung thư vú. Bằng cách sử dụng một xét nghiệm có độ nhạy cao, người ta nhận thấy anastrozol với liều 1 mg hàng ngày đã làm giảm trên 80% lượng estradiol ở bệnh nhân sau mãn kinh.

Anastrozol không có các hoạt tính kiểu progesteron, androgen hay estrogen.

Liều dùng hàng ngày của anastrozol lên tới 10 mg cũng không gây bất kỳ ảnh hưởng nào đến sự bài tiết cortisol hay aldosteron, được đo trước hoặc sau nghiệm pháp kích thích ACTH tiêu chuẩn. Do đó không cần phải cung cấp thêm corticoid.

Cơ chế tác dụng:

Anastrozol là dẫn chất benzyltriazol, không phải steroid, có tác dụng ức chế mạnh và chọn lọc enzym aromatase (estrogen synthetase) là enzym chuyển các androgen (chủ yếu là androstenedion và testosteron) của tuyến thượng thận thành estron và estradiol ở mô ngoại vi (mô mỡ, cơ, gan).

Anastrozol gắn vào hem của cytochrom P450 của enzym, ức chế sự tổng hợp estrogen ở mọi mô nên làm giảm nồng độ huyết thanh của các estrogen (estron, estradiol và estron sulphat). Anastrozol và aminoglutethimid có tác dụng dược lý giống nhau nhưng anastrozol có tác dụng mạnh hơn và chọn lọc hơn nếu tính theo mol. Anastrozol không ảnh hưởng lên sự tổng hợp các corticoid thượng thận, aldosteron và hormon giáp do đó không cần kết hợp với trị liệu bằng corticosteroid. Vì estrogen tác động như một yếu tố tăng trưởng đối với tế bào ung thư vú phụ thuộc hormon estrogen nên làm giảm nồng độ estrogen ở huyết thanh và u bằng anastrozol có thể ức chế u phát triển và làm chậm tiến trình bệnh. Anastrozol không có bất cứ hoạt tính progesteron, androgen hoặc estrogen nào.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu:

Anastrozol được hấp thu nhanh và thường đạt nồng độ tối đa trong huyết tương trong vòng 2 giờ sau khi uống (khi đói). Anastrozol được thải trừ chậm với thời gian bán thải là 40 – 50 giờ. Thức ăn có thể làm giảm nhẹ tốc độ hấp thu chứ không làm giảm mức độ hấp thu của thuốc. Sự thay đổi nhỏ của tốc độ hấp thu không gây ra một tác động đáng kể nào về mặt lâm sàng trên nồng độ thuốc ở pha ổn định trong huyết tương khi dùng liều anastrozol duy nhất trong ngày. Khoảng 90 – 95% nồng độ của anastrozol ở pha ổn định trong huyết tương đạt được sau 7 ngày với liều duy nhất trong ngày. Không có bằng chứng nào cho thấy các tham số về dược động học của anastrozol phụ thuộc vào liều dùng hoặc thời gian sử dụng.

Dược động học của anastrozol cũng không phụ thuộc vào độ tuổi của phụ nữ sau mãn kinh.

Phân bố:

Anastrozol chỉ gắn kết 40% với protein huyết tương.

Ở các bệnh nhân nữ sau mãn kinh, anastrozol được chuyển hóa mạnh, ít hơn 10% liều ban đầu được bài tiết ra nước tiểu dưới dạng không đổi trong vòng 72 giờ sau khi uống.

Chuyển hóa:

Anastrozol được chuyển hóa bằng cách N-dealkyl hóa, hydroxy hóa, và glucuronic hóa. Sản phẩm chuyển hóa được bài tiết chủ yếu ra nước tiểu. Triazol, sản phẩm chuyển hóa chính trong huyết tương, không có hiệu quả ức chế men aromatase.

Thải trừ:

Ðộ thanh thải biểu kiến của anastrozol sau khi uống ở người tình nguyện bị xơ gan ổn định hay tổn thương thận thì tương tự với độ thanh thải ở người tình nguyện khoẻ mạnh.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Tá dược: Lactose monohydrat, cellulose vi tinh thể, povidon, natri starch glycolat, magnesi stearat, hydroxypropylmethylcellulose, talc, titan dioxyd, polyethylen glycol 6000.

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản thuốc ở nhiệt độ 20 – 25 °C

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam