Thuốc LUCENTIS là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc LUCENTIS (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Ranibizumab
Phân loại: Thuốc mắt. Thuốc điều trị suy giảm thị lực
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): S01LA04
Brand name: LUCENTIS.
Hãng sản xuất : Novartis Pharma
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Dung dịch tiêm 10 mg/mL
Dung dịch vô khuẩn, trong suốt, không màu đến vàng nhạt và không có chất bảo quản.
Thuốc tham khảo:
| LUCENTIS 10 mg/mL | ||
| Mỗi ml dung dịch tiêm có chứa: | ||
| Ranibizumab | …………………………. | 10 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Điều trị thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi già (AMD) có tân mạch (thể ướt).
Điều trị suy giảm thị lực do phù hoàng điểm gây ra bởi bệnh đái tháo đường (DME).
Điều trị suy giảm thị lực do phù hoàng điểm thứ phát do tắc tĩnh mạch võng mạc ( tĩnh mạch võng mạc nhánh hay tĩnh mạch võng mạc trung tâm)
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Cũng như tất cả các thuốc dùng đường tiêm, phải kiểm tra kỹ LUCENTIS bằng mắt về các phần tử nhỏ và sự đổi màu trước khi sử dụng.
Thủ thuật tiêm phải được thực hiện trong điều kiện vô khuẩn, bao gồm việc sử dụng các chất khử khuẩn bàn tay dùng trong phẫu thuật, găng vô khuẩn, vải phủ vô khuẩn và banh mí mắt vô khuẩn (hoặc dụng cụ tương đương) và có sẵn dụng cụ chọc hút vô khuẩn (nếu cần). Cần đánh giá cẩn thận tiền sử phản ứng quá mẫn cảm của bệnh nhân trước khi thực hiện thủ thuật tiêm trong dịch kính. Da quanh mắt, mi mắt, bề mặt của mắt phải được khử khuẩn. Cần gây tê đầy đủ và sử dụng thuốc khử khuẩn dùng tại chỗ phổ rộng trước khi tiêm.
Bệnh nhân phải được hướng dẫn tự nhỏ thuốc kháng khuẩn 4 lần mỗi ngày trong 3 ngày trước và sau mỗi lần tiêm.
Kim tiêm nên được tiêm cắm sâu 3,5 – 4 mm phía sau rìa vào trong khoang dịch kính, tránh kinh tuyến ngang và hướng về trung tâm nhãn cầu. Sau đó bơm vào 0,05 ml, nên luân phiên vị trí tiêm trên củng mạc mắt cho những mũi tiêm tiếp theo.
Hướng dẫn pha thuốc
Lọ thuốc chỉ dùng một lần (xem phần LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG). Tuân thủ các chỉ dẫn sau đây khi chuẩn bị thuốc Lucentis để tiêm trong dịch kính:

Bất kỳ lượng thuốc nào không dùng hoặc chất thải phải được hủy bỏ theo quy định của địa phương.


Liều dùng:
Lọ sử dụng một lần chỉ dùng tiêm trong dịch kính. Việc sử dụng hơn 1 lần tiêm từ 1 lọ có thể dẫn đến sự lây nhiễm và nhiễm khuẩn sau này.
LUCENTIS phải được bác sĩ chuyên khoa mắt có đủ kinh nghiệm sử dụng tiêm trong dịch kính.
Liều LUCENTIS được khuyến cáo là 0,5 mg tiêm một lần trong dịch kính. Liều này tương đương cho một thể tích tiêm 0,05 ml. Khoảng cách giữa hai liều không được dưới 1 tháng.
Nhóm bệnh nhân chung
Điều trị thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi già thể ướtĐiều trị hàng tháng và tiếp tục tới khi thị lực đạt được tối đa, được xác định bởi sự ổn định của thị lực trong ba tháng liên tiếp trong khi điều trị với LUCENTIS.
Bệnh nhân nên được theo dõi thị lực hàng tháng.
Điều trị được bắt đầu lại với liều tiêm hàng tháng khi quá trình theo dõi cho thấy có giảm thị lực do thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi già thể ướt và tiếp tục cho đến khi thị lực ổn định trở lại qua đánh giá hàng tháng của ba tháng liên tiếp.
Điều trị suy giảm thị lực do phù hoàng điểm gây ra bởi bệnh đái tháo đườngTrong suy giảm thị lực do phù hoàng điểm gây ra bởi bệnh đái tháo đường, liều LUCENTIS được khuyến cáo là 0,5 mg tiêm một lần trong dịch kính. Liều này tương đương với một thể tích tiêm 0,05 ml.
Điều trị hàng tháng và tiếp tục cho đến khi đạt được thị lực tối đa tức là thị lực của bệnh nhân ổn định trong 3 lần đánh giá liên tiếp hàng tháng được thực hiện trong khi điều trị bằng LUCENTIS. Do đó, nếu không có sự cải thiện thị lực sau liệu trình 3 mũi tiêm, khuyến cáo không nên tiếp tục điều trị.
Bệnh nhân nên được theo dõi thị lực mỗi tháng sau đó.
Điều trị được bắt đầu lại khi theo dõi cho thấy mất thị lực do phù hoàng điểm gây ra bởi bệnh đái tháo đường. Lúc đó nên dùng liệu trình tiêm mỗi tháng cho đến khi đạt được thị lực ổn định trở lại trong 3 lần đánh giá liên tiếp hàng tháng (nghĩa là tối thiểu 2 mũi tiêm). Khoảng cách giữa 2 liều không được dưới 1 tháng.
LUCENTIS và phương pháp laser quang đông ở bệnh nhân phù hoàng điểm do đái tháo đường
Có một số kinh nghiệm dùng LUCENTIS đồng thời với phương pháp laser quang đông . Khi dùng trong cùng ngày, LUCENTIS nên được dùng ít nhất 30 phút sau khi laser quang đông. LUCENTIS có thể được dùng cho bệnh nhân đã dùng phương pháp quang đông bằng laser trước.
Điều trị suy giảm thị lực do phù hoàng điểm thứ phát do tắc tĩnh mạch võng mạcĐiều trị hàng tháng và tiếp tục tới khi thị lực đạt được tối đa, được xác định bởi sự ổn định của thị lực qua đánh giá mỗi tháng trong ba tháng liên tiếp trong khi đang điều trị với LUCENTIS.
Bệnh nhân nên được theo dõi thị lực hàng tháng.
Điều trị được bắt đầu lại với liều tiêm hàng tháng khi quá trình theo dõi cho thấy có giảm thị lực do thoái hóa hoàng điểm thứ phát do tắc tĩnh mạch võng mạc và tiếp tục cho đến khi thị lực ổn định trở lại qua đánh giá hàng tháng trong ba tháng liên tiếp.
LUCENTIS và phương pháp quang đông khô bằng laser ở bệnh nhân tắc nhánh tĩnh mạch võng mạc LUCENTIS được dùng đồng thời với phương pháp quang đông trong các nghiên cứu lâm sàng Khi dùng trong cùng ngày LUCENTIS nên được dùng ít nhất 30 phút sau khi quang đông bằng laser. LUCENTIS có thể được dùng cho bệnh nhân đã dùng phương pháp quang đông bằng laser trước.
Nhóm bệnh nhân đặc biệt
Suy gan
LUCENTIS chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân suy gan. Tuy nhiên, vì lượng hấp thu toàn thân không đáng kể, không có giới hạn đặc biệt nào được xem là cần thiết với nhóm bệnh nhân này.
Suy thận
Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận
Bệnh nhi
Không khuyến cáo dùng LUCENTIS cho trẻ em và thiếu niên do thiếu dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả ở những nhóm bệnh nhân này.
Bệnh nhân cao tuổi
Không cần điều chỉnh liều ở người cao tuổi. Còn hạn chế kinh nghiệm sử dụng cho những bệnh nhân suy giảm thị lực do phù hoàng điểm gây ra do đái tháo đường trên 75 tuổi.
4.3. Chống chỉ định:
Quá mẫn cảm với hoạt chất hoặc với bất cứ thành phần nào của tá dược. Bệnh nhân đang có hoặc nghi ngờ bị nhiễm trùng mắt hoặc quanh mắt. Bệnh nhân đang có viêm trong mắt.
Lúc có thai và lúc nuôi con bú
4.4 Thận trọng:
Điều trị bằng LUCENTIS chỉ được dùng để tiêm trong dịch kính.
Các phản ứng liên quan tiêm trong dịch kính:
Tiêm trong dịch kính, kể cả tiêm LUCENTIS, có liên quan đến viêm nội nhãn, viêm trong mắt, bong võng mạc do vết rách, rách võng mạc, đục thủy tinh thể do chấn thương do dùng thuốc. Phải luôn luôn áp dụng kỹ thuật tiêm vô khuẩn đúng khi sử dụng LUCENTIS. Ngoài ra, bệnh nhân phải được theo dõi suốt tuần sau khi tiêm để điều trị sớm nếu xảy ra nhiễm khuẩn. Cần hướng dẫn bệnh nhân báo cáo ngay bất cứ triệu chứng nào nghi ngờ viêm nội nhãn hoặc bất cứ tình trạng nào được đề cập ở trên.
Tăng áp suất nội nhãn:
Đã ghi nhận tăng áp suất nội nhãn thoáng qua ( IOP) trong vòng 60 phút sau khi tiêm LUCENTIS. Tăng áp suất nội nhãn duy trì cũng được báo cáo. Vì vậy cả áp suất nội nhãn và tình trạng tưới máu đầu thần kinh thị – phải được theo dõi và xử trí thích hợp.
Có nguy cơ tiềm tàng bị thuyên tắc động mạch sau khi tiêm trong dịch kính các thuốc ức chế VEGF (yếu tố phát triển nội mô mạch máu). Trong các nghiên cứu pha III về AMD thể ướt, tần suất bị thuyên tắc động mạch là như nhau giữa nhóm dùng LUCENTIS và nhóm chứng. Tỉ lệ bị đột quỵ cao hơn ở nhóm bệnh nhân dùng LUCENTIS 0,5 mg so với nhóm dùng LUCENTIS 0,3 mg hoặc nhóm chứng, tuy nhiên, sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê. Sự khác nhau về tỉ lệ đột quỵ có thể lớn hơn ở những bệnh nhân được biết là có những yếu tố nguy cơ của đột quỵ, bao gồm cả tiền sử đã bị đột quỵ trước đó hoặc các cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua. Do đó các bệnh nhân này phải được bác sĩ đánh giá cẩn thận xem liệu việc điều trị với LUCENTIS có thích hợp và lợi ích có lớn hơn nguy cơ tiềm tàng.
Miễn dịch:
Cũng như tất cả các protein trị liệu, LUCENTIS có khả năng sinh miễn dịch.
Điều trị đồng thời cả hai mắt:
Tính an toàn và hiệu quả của điều trị LUCENTIS đồng thời cho cả hai mắt chưa được nghiên cứu. Do có tiềm năng về tăng tiếp xúc toàn thân ở những bệnh nhân bị phù hoàng điểm do đái tháo đường, không thể loại trừ nguy cơ phát triển quá mẫn ở những bệnh nhân này . Cũng cần hướng dẫn bệnh nhân báo cáo nếu có tăng độ nặng của viêm nội nhãn, có thể là một dấu hiệu lâm sàng do sự hình thành kháng thể trong mắt.
Kết hợp với VEGF:
Không nên dùng LUCENTIS với các thuốc kháng VRGF khác (yếu tố kích thích phát triển nội mô mạch máu) dùng tại mắt hay toàn thân.
Ngưng dùng LUCENTIS:
Ngưng liều LUCENTIS và không nên điều trị trở lại sớm hơn lịch trình điều trị tiếp theo trong các trường hợp:
Thị lực tốt nhất có chỉnh kính (BCVA) giảm hơn 30 chữ so với đánh giá thị lực ban đầu.
Áp suất nội nhãn tăng > 30mmHg.
Rách võng mạc.
Xuất huyết võng mạc ảnh hưởng hố trung tâm hoặc kích thước của vùng xuất huyết >50% của toàn bộ tổn thương.
Phẫu thuật võng mạc được thực hiện 28 ngày trước hoặc được lên kế hoạch thực hiện 28 ngày sau.
Rách biểu mô sắc tố võng mạc:
Các yếu tố nguy cơ liên quan đến phát sinh rách biểu mô sắc tố võng mạc sau khi trị liệu bằng kháng VRGF trong thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi già thể ướt bao gồm bong biểu mô sắc tố võng mạc diện rộng và/hoặc mức độ cao. Khi bắt đầu điều trị bằng LUCENTIS, cần thận trọng khi dùng ở những bệnh nhân có các nguy cơ về rách biểu mô sắc tố võng mạc này.
Bong võng mạc do vết rách
Nên ngưng điều trị ở những bệnh nhân bị bong võng mạc do vết rách hoặc lỗ hoàng điểm giai đoạn 3 và 4.
Bệnh nhân còn ít thông tin:
LUCENTIS chưa được nghiên cứu trên các bệnh nhân đang bị nhiễm trùng hệ thống tiến triển hay các bệnh nhân đang bị đồng thời các bệnh khác về mắt như bong võng mạc hay lỗ hoàng điểm.
Có ít kinh nghiệm trong điều trị bệnh nhân giai đoạn trước tắc tĩnh mạch võng mạc và bệnh nhân thiếu máu cục bộ do tắc tĩnh mạch võng mạc nhánh (BRVO) và tắc tĩnh mạch võng mạc trung tâm (CRVO). Điều trị không được khuyến cáo cho những bệnh nhân tắc tĩnh mạch võng mạc có dấu hiệu lâm sàng của mất chức năng thị giác không hồi phục do thiếu máu cục bộ.
Có ít kinh nghiệm trong việc điều trị những bệnh nhân bị phù hoàng điểm do đái tháo đường type I. LUCENTIS chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân trước đây đã được tiêm trong dịch kính, ở những bệnh nhân nhiễm khuẩn toàn thân, bệnh võng mạc tăng sinh do đái tháo đường hoặc ở các bệnh nhân có bệnh mắt kèm theo như bong võng mạc hoặc lỗ hoàng điểm. Cũng không có kinh nghiệm về việc điều trị LUCENTIS ở bệnh nhân đái tháo đường có HbA1c trên 12% và tăng huyết áp chưa được kiểm soát.
Tiền sử đột quỵ hoặc các cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua:
Chưa có dữ liệu về tính an toàn trong điều trị bệnh nhân bị phù hoàng điểm do đái tháo đường có tiền sử đột quỵ hoặc những cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua. Cần thận trọng điều trị cho những bệnh nhân này vì có nguy cơ tiềm ẩn về các biến cố thuyên tắc huyết khối động mạch sau khi dùng trong dịch kính các thuốc ức chế VEGF (yếu tố phát triển nội mô mạch máu).
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Trị liệu LUCENTIS có thể gây rối loạn thị lực tạm thời, có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe hoặc sử dụng máy móc. Bệnh nhân có những dấu hiệu này không được lái xe hoặc sử dụng máy móc cho đến khi các rối loạn thị lực tạm thời này giảm đi.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: D
US FDA pregnancy category: NA
Phụ nữ có khả năng mang thai :
Phụ nữ có khả năng mang thai nên dùng phương pháp tránh thai hiệu quả khi điều trị.
Thời kỳ mang thai:
Không có dữ liệu lâm sàng về việc sử dụng LUCENTIS ở phụ nữ có thai. Các nghiên cứu trên khỉ cynomolgus không cho thấy các tác động có hại gián tiếp hay trực tiếp đối với khỉ mang thai hay sự phát triển của phôi thai. Sự phơi nhiễm toàn thân với LUCENTIS là thấp sau khi sử dụng tại mắt, nhưng do cơ chế hoạt động của thuốc, LUCENTIS phải được xem là có khả năng gây quái thai và có độc tính trên phôi thai/ thai. Vì vậy, LUCENTIS không nên sử dụng trong thời kỳ mang thai trừ khi lợi ích đem lại lớn hơn nguy cơ tiềm ẩn cho thai nhi. Đối với những phụ nữ muốn mang thai và đã được điều trị với LUCENTIS, cần khuyến cáo chờ ít nhất 3 tháng sau liều LUCENTIS cuối trước khi thụ thai.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa rõ LUCENTIS có được bài tiết qua sữa mẹ hay không. Để đề phòng, khuyến cáo không cho con bú mẹ trong thời gian sử dụng LUCENTIS.
Khả năng sinh sản
Chưa có dữ liệu về ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Nhóm bệnh nhân bị AMD thể ướt
Có tổng cộng 1.315 bệnh nhân trong dân số nghiên cứu tính an toàn của ba nghiên cứu pha III về AMD thể ướt được điều trị với LUCENTIS trong 24 tháng và 440 bệnh nhân đã được điều trị với liều khuyến cáo 0,5 mg.
Những biến cố bất lợi nghiêm trọng có liên quan đến thủ thuật tiêm bao gồm viêm nội nhãn, bong võng mạc do vết rách, rách võng mạc và đục thủy tinh thể do chấn thương trong điều trị.
Những biến cố về mắt nghiêm trọng khác quan sát thấy ở những bệnh nhân điều trị LUCENTIS bao gồm viêm trong mắt và tăng áp suất nội nhãn.
Những biến cố bất lợi được liệt kê dưới đây chiếm một tỷ lệ cao hơn (ít nhất 2 điểm số phần trăm) ở những bệnh nhân đang điều trị bằng LUCENTIS 0,5 mg so với những người điều trị ở nhóm chứng (giả tiêm hoặc trị liệu quang động học (PDT) với verteporfin) theo dữ liệu gộp của 3 nghiên cứu giai đoạn III về AMD thể ướt có kiểm chứng là các nghiên cứu FVF2598g (MARINA), FVF2587g (ANCHOR) và FVF3192g (PIER). Vì vậy những phản ứng này được xem là những phản ứng bất lợi của thuốc có thể có. Dữ liệu an toàn được mô tả dưới đây cũng bao gồm tất cả biến cố bất lợi được nghi ngờ ít nhất là có khả năng liên quan đến thủ thuật tiêm hoặc thuốc ở 440 bệnh nhân bị AMD thể ướt cộng gộp được điều trị liều 0,5 mg.
Nhóm bệnh nhân bị phù hoàng điểm do đái tháo đường
Độ an toàn của LUCENTIS được nghiên cứu ở thử nghiệm có kiểm chứng giả tiêm một năm (RESOLVE) trên 102 bệnh nhân và ở thử nghiệm có kiểm chứng laser một năm (RESTORE) trên 235 bệnh nhân bị suy giảm thị lực do phù hoàng điểm do đái tháo đường được điều trị bằng LUCENTIS. Biến cố nhiễm khuẩn đường tiết niệu, trong xếp loại tần suất hay gặp, đáp ứng các tiêu chí phản ứng phụ ở bảng dưới đây; mặt khác các biến cố thuộc mắt hoặc không thuộc mắt trong các thử nghiệm RESOLVE và RESTORE được báo cáo với tần suất và mức độ nghiêm trọng tương tự như các biến cố quan sát thấy trong các thử nghiệm của thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi già thể ướt.
Nhóm bệnh nhân tắc tĩnh mạch võng mạc
Tính an toàn của LUCENTIS được nghiên cứu trong 2 thử nghiệm 12 tháng (BRAVO và CRUISE) thực hiện trên 264 và 261 bệnh nhân được điều trị với LUCENTIS bị suy giảm thị lực do phù hoàng điểm thứ phát do tắc tĩnh mạch nhánh võng mạc(BRVO) và tĩnh mạch trung tâm võng mạc (CRVO), theo thứ tự tương ứng. Các biến cố về mắt và không phải về mắt trong thử nghiệm BRAVO và thử nghiệm CRUISE đã được báo cáo với một tần suất và mức độ nghiêm trọng tương tự như trong các thử nghiệm AMD thể ướt.
Bảng tổng kết phản ứng bất lợi của thuốc trong các thử nghiệm lâm sàng
Các phản ứng bất lợi của thuốc trong các thử nghiệm lâm sàng (Bảng 7) được liệt kê theo hệ thống phân loại cơ quan MedDRA. Trong mỗi loại hệ thống, cơ quan đó, các phản ứng bất lợi của thuốc được xếp hạng theo tần suất, với các tương tác thường gặp nhất xếp trước nhất. Trong mỗi nhóm tần suất, các phản ứng bất lợi của thuốc được trình bày theo thứ tự mức độ nghiêm trọng giảm dần. Ngoài ra, các loại tần suất tương ứng cho mỗi phản ứng bất lợi của thuốc là dựa trên các quy ước sau đây (CIOMS III): rất hay gặp (≥ 1 / 10), hay gặp (≥ 1 / 100 đến <1 / 10), không hay gặp (≥ 1 / 1.000 đến <1 / 100), hiếm gặp (≥ 1 / 10, 000 đến <1 / 1, 000), rất hiếm gặp (<1 / 10, 000).

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Chưa có nghiên cứu chính thức nào về tương tác thuốc được thực hiện. Đối với việc sử dụng bổ trợ vào trị liệu quang động học (PDT) với verteporfin và LUCENTIS trong thoái hóa hoàng điểm liêu quan đến tuổi già thể ướt. Đối với việc sử dụng bổ trợ phương pháp quang đông bằng Laser và LUCENTIS ở bệnh phù hoàng điểm do đái tháo đường và tắc tĩnh mạch võng mạc nhánh.
4.9 Quá liều và xử trí:
Các trường hợp quá liều do vô ý được báo cáo từ các nghiên cứu lâm sàng về AMD thể ướt và các dữ liệu hậu mãi. Các tác dụng bất lợi thường gặp nhất từ các báo cáo này là tăng áp suất nội nhãn và đau mắt. Nếu xảy ra quá liều, phải theo dõi áp suất nội nhãn và được điều trị bởi thầy thuốc nếu thấy cần thiết.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Sự gắn VEGF A vào các thụ thể của nó dẫn đến tăng sinh tế bào nội mô và hình thành tân mạch, cũng như thoát mạch, tất cả những biến đổi này được cho là góp phần vào sự tiến triển dạng tân mạch trong thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi già và phù hoàng điểm gây giảm thị lực trong đái tháo đường và tắc tĩnh mạch võng mạc.
CÁC NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG
Điều trị AMD thể ướt
Đối với AMD thể ướt, tính an toàn và hiệu quả của Lucentis đã được đánh giá trong 3 nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có kiểm chứng với thuốc điều trị hoặc với giả tiêm** ở những bệnh nhân bị thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi già (AMD) có tân mạch. Tổng số 1.323 bệnh nhân (879 ở nhóm dùng thuốc và 444 ở nhóm chứng) được tham gia vào những nghiên cứu này. Trong nghiên cứu FVF2598g (MARINA), bệnh nhân có tân mạch hắc mạc (CNV) dạng cổ điển tối thiểu hoặc tân mạch hắc mạc ở sâu không phải dạng cổ điển được tiêm hàng tháng trong dịch kính với Lucentis 0,3 mg hoặc 0,5 mg hoặc giả tiêm. Có 716 bệnh nhân đã tham gia vào nghiên cứu này (giả tiêm: 238; Lucentis 0,3 mg: 238; Lucentis 0,5 mg: 240). Các dữ liệu được ghi nhận đến cuối tháng thứ 24.
Trong nghiên cứu FVF2587g (ANCHOR) bệnh nhân có tổn thương tân mạch hắc mạc (CNV) chủ yếu là dạng cổ điển được dùng hoặc: 1) tiêm trong dịch kính hàng tháng với Lucentis 0,3 mg và giả dược PDT; hoặc 2) tiêm trong dịch kính hàng tháng với Lucentis 0,5 mg và giả dược PDT; hoặc là 3) giả tiêm trong dịch kính và verteporfin PDT có hoạt tính. Giả dược hoặc verteporfin PDT có hoạt tính được cho với lần tiêm Lucentis khởi đầu và mỗi 3 tháng sau đó nếu chụp X-quang mạch máu bằng fluorescein cho thấy vẫn còn tiếp diễn hoặc tái phát thoát mạch. Có 423 bệnh nhân được tham gia nghiên cứu này (giả tiêm: 143; Lucentis 0,3 mg: 140; Lucentis 0,5 mg: 140). Các dữ liệu được ghi nhận đến cuối tháng thứ 24.
** Thủ thuật giả tiêm Lucentis của nhóm chứng được thực hiện bằng sự gây tê mắt với phương cách giống như thực hiện một mũi tiêm Lucentis trong dịch kính. Đầu của ống tiêm không kim lúc đó đè vào kết mạc và piston của ống tiêm không kim được đẩy xuống.
Các kết quả chi tiết được nêu trong bảng dưới đây.



Ở nhóm bệnh nhân được điều trị bằng Lucentis, nói chung, có sự tiến triển của tổn thương tân mạch hắc mạc ở mức tối thiểu có thể quan sát được. Vào tháng thứ 12, thay đổi trung bình về toàn bộ vùng tổn thương tân mạch hắc mạc là 0,1 đến 0,3 DA đối với Lucentis so với 2,3 – 2,6 DA ở nhóm chứng.
Kết quả từ cả hai thử nghiệm chỉ ra rằng việc tiếp tục điều trị với ranibizumab có thể có lợi cho cả những bệnh nhân mất ≥ 15 chữ với thị lực tối đa có chỉnh kính (BCVA) trong năm đầu điều trị.
Trong cả hai nghiên cứu MARINA và ANCHOR, sự cải thiện thi lực được nhận thấy khi điều trị với Lucentis 0,5mg tại tháng thứ 12 cùng với báo cáo lợi ích ghi nhận bởi bệnh nhân được đánh giá bằng Bộ câu hỏi Chức năng Nhìn của Viện Mắt Quốc gia (VFQ-25). Sự khác biệt giữa Lucentis 0,5 mg và hai nhóm kiểm chứng được đánh giá với giá trị p từ 0,009 đến <0,0001.
Nghiên cứu FVF3192g (PIER) là một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có kiểm chứng với giả tiêm trong 2 năm được tiến hành để đánh giá độ an toàn và hiệu quả của Lucentis ở 184 bệnh nhân bị thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi già (AMD) có tân mạch (có hoặc không có tân mạch hắc mạc (CNV) dạng cổ điển). Bệnh nhân được tiêm trong dịch kính Lucentis 0,3 mg hoặc 0,5 mg hoặc giả tiêm 1 lần mỗi tháng trong 3 liều liên tiếp, sau đó là tiêm 1 liều mỗi 3 tháng. Từ tháng 14 của nghiên cứu, bệnh nhân được điều trị giả tiêm được phép chuyển qua để dùng ranibizumab và từ tháng 19, có thể có những lần điều trị thường xuyên hơn. Bệnh nhân được điều trị với Lucentis trong PIER nhận được trung bình 10 đợt điều trị.
Kết luận chính về hiệu quả là sự thay đổi trung bình về thị lực ở thời điểm 12 tháng so với mức ban đầu.
Sau sự tăng thị lực khởi đầu (sau khi tiêm liều hàng tháng), nói chung, những bệnh nhân mất thị lực được tiêm Lucentis 1 lần mỗi 3 tháng trở về mức cơ bản vào tháng thứ 12. và hiệu quả này được duy trì với hầu hết các bệnh nhân đã được điều trị bằng Lucentis (82%) tại tháng thứ 24. Dữ liệu từ một số lượng giới hạn các đối tượng chuyển qua sử dụng ranibizumab sau hơn một năm điều trị giả tiêm cho thấy bắt đầu điều trị sớm có thể liên quan tới sự bảo vệ tốt hơn về thị lực.
Nghiên cứu FVF3689g (SAILOR) là một nghiên cứu pha IIIb, mù đơn, đa trung tâm trong một năm trên những đối tượng chưa hề được điều trị và bệnh nhân đã được điều trị CNV do AMD trước đó. Mục tiêu nghiên cứu chính là đánh giá tỉ lệ bị các biến cố bất lợi nghiêm trọng với mắt và ngoài mắt ở những đối tượng được điều trị trong 12 tháng. Hai nghìn ba trăm bảy mươi tám bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên theo tỉ lệ 1:1 để tiêm trong dịch kính ranibizumab 0,3 mg hoặc 0,5 mg 1 lần mỗi tháng trong 3 tháng liên tiếp sau đó là điều trị lại khi cần nhưng không quá 1 lần/tháng.
Nhìn chung, không quan sát thấy sự mất cân bằng giữa hai nhóm liều về tần suất của các biến cố bất lợi tại mắt và ngoài mắt. Có xu hướng tăng cao không đáng kể về mặt thống kê về tỉ lệ đột quỵ ở nhóm dùng 0,5 mg so với nhóm dùng 0,3 mg. Khoảng tin cậy (CI) 95% đối với tỉ lệ đột quỵ nhìn chung là rộng (0,3% đến 1,3% ở nhóm dùng 0,3 mg so với 0,7% đến 2,0% ở nhóm dùng 0,5 mg). Số lượng đột quỵ là nhỏ ở cả hai nhóm liều và không có đủ bằng chứng để kết luận (hay bác bỏ) rằng có một sự khác nhau thực sự về tỉ lệ đột quỵ giữa các nhóm điều trị. Sự khác nhau về tỉ lệ đột quỵ có thể lớn hơn ở những bệnh nhân được biết là có những yếu tố nguy cơ của đột quỵ, bao gồm tiền sử đã bị đột quỵ trước đó hoặc các cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua.
Điều trị suy giảm thị lực do DME
Tính an toàn và hiệu quả lâm sàng của Lucentis đã được đánh giá ở các nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có kiểm chứng với thuốc điều trị hoặc giả tiêm trong thời gian 12 tháng trên những bệnh nhân bị suy giảm thị lực do phù hoàng điểm do đái tháo đường. Trong tổng số 496 bệnh nhân tham gia nghiên cứu (336 ở nhóm dùng thuốc và 160 ở nhóm đối chứng), đa số mắc bệnh đái tháo đường type II, 28 bệnh nhân nhóm điều trị bởi ranibizumab mắc bệnh đái tháo đường type I.
Trong nghiên cứu D2301 (RESTORE), tổng số 345 bệnh nhân bị suy giảm thị lực thứ phát do phù hoàng điểm được chọn ngẫu nhiên, để nhận hoặc đơn trị liệu bằng tiêm khởi đầu 0,5 mg ranibizumab vào dịch kính và giả trị liệu laser quang đông (n=116), trị liệu phối hợp 0,5 mg ranibizumab và laser quang đông (n=118), hoặc giả tiêm** kết hợp laser quang đông (n=111) . Trị liệu ranibizumab được bắt đầu bằng các lần tiêm trong dịch kính hàng tháng và tiếp tục cho tới khi thị lực ổn định trong ít nhất ba lần thăm khám hàng tháng liên tiếp. Điều trị được khởi đầu lại khi thị lực tối đa có chỉnh kính (BCVA) bị giảm do sự tiến triển của phù hoàng điểm do đái tháo đường. Phương pháp laser quang đông được dùng lúc ban đầu vào cùng ngày, ít nhất 30 phút trước khi tiêm ranibizumab và khi cần thiết sau đó dựa theo các chỉ tiêu ETDRS.
Những kết quả chính được tổng hợp trong Bảng 3 và Hình 2.


Trong nghiên cứu D2201 (RESOLVE), tổng số 151 bệnh nhân với trung tâm hoàng điểm bị ảnh hưởng gây ra suy giảm thị lực được điều trị với ranibizumab (6mg/ml, n=51, 10mg/ml, n=51) hay với giả tiêm (n=49) bằng cách tiêm vào dịch kính hàng tháng cho tới khi đáp ứng được những tiêu chuẩn dừng điều trị đã được xác định từ trước. Liều ranibizumab khởi đầu (0,3 mg hay 0,5 mg) có thể tăng gấp đôi tại bất kỳ thời điểm nào trong nghiên cứu sau mũi tiêm đầu tiên nếu điều tra viên đánh giá rằng không đạt được đủ đáp ứng điều trị. Cho phép laser quang đông cứu nguy (rescue) kể từ tháng thứ 3 cho cả 2 nhóm nghiên cứu.
Nghiên cứu bao gồm 2 phần: phần thăm dò (42 bệnh nhân đầu tiên được phân tích tại thời điểm tháng thứ 6), và nhóm chứng thực (gồm 109 bệnh nhân còn lại đã phân tích tại thời điểm tháng thứ 12).
Kết quả chính từ phần chứng thực của nghiên cứu (2/3 số bệnh nhân) được thể hiện trong Bảng 4 và Hình 3.


Bệnh nhân đã điều trị bằng ranibizumab có độ dày trung tâm võng mạc giảm liên tục. Tại thời điểm tháng 12, sự thay đổi độ dày trung tâm võng mạc (CRT) trung bình so với mức cơ bản là -194 micromet đối với ranibizumab so với -48 micromet của nhóm giả tiêm đối chứng.
Nhìn chung, các phát hiện về tính an toàn tại mắt và ngoài mắt ở bênh nhân DME của cả 2 nghiên cứu D2201 và D2301 thì giống với hồ sơ an toàn đã biết trước đây ở các bệnh nhân AMD thể ướt.
Điều trị suy giảm thị lực do phù hoàng điểm thứ phát do tắc tĩnh mạch võng mạc
Tính an toàn và hiệu quả lâm sàng của Lucentis ở những bệnh nhân bị suy giảm thị lực do phù hoàng điểm thứ phát do tắc tĩnh mạch võng mạc đã được đánh giá trong các nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, kiểm chứng BRAVO và CRUISE với đối tượng tuyển chọn là tắc tĩnh mạch nhánh võng mạc BRVO (n = 397) và tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc CRVO (n =392) tương ứng. Trong cả hai nghiên cứu, đối tượng nhận được hoặc 0,3 mg hoặc 0,5 mg ranibizumab tiêm trong dịch kính hoặc giả tiêm. Sau 6 tháng, bệnh nhân nhóm chứng dùng giả tiêm được chuyển qua dùng ranibizumab 0,5 mg. Trong BRAVO, laser quang đông đã được dùng cứu nguy trong tất cả các nhóm điều trị kể từ tháng thứ 3.
Kết quả chính từ BRAVO và CRUISE được tóm tắt trong Bảng 5 và 6, Hình 4 và 5.




Trong cả hai nghiên cứu, cải thiện thị lực đi kèm với giảm liên tục phù hoàng điểm được đo bằng độ dày võng mạc trung tâm.
Đã nhận thấy sự cải thiện thị lực với trị liệu ranibizumab tại thời điểm 6 và 12 tháng cùng với báo cáo lợi ích ghi nhận bởi bệnh nhân được đánh giá bằng Bộ câu hỏi Chức năng Nhìn của Viện Mắt Quốc gia (VFQ-25), liên quan đến hoạt động xa và gần, một tiêu chí phụ về hiệu quả được xác định từ trước . Sự khác biệt giữa Lucentis 0,5 mg và nhóm chứng được đánh giá ở tháng thứ 6 với giá trị p từ 0,02 đến 0,0002.
Cơ chế tác dụng:
LUCENTIS là một đoạn kháng thể đơn dòng tái tổ hợp giống như ở người nhằm chống lại yếu tố phát triển nội mô mạch máu A ở người (VEGF-A). LUCENTIS gắn kết với ái lực cao vào các dạng đồng đẳng VEGF-A (ví dụ VEGF110, VEGF121 và VEGF165), do đó ngăn ngừa sự gắn VEGF-A vào các thụ thể của nó là VEGFR-1 và VEGFR-2.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Hấp thu
Sau khi tiêm LUCENTIS trong dịch kính hàng tháng cho bệnh nhân bị thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi già (AMD) có tân mạch, nồng độ LUCENTIS trong huyết thanh thường thấp, với nồng độ cao nhất trong huyết thanh (Cmax) thường thấp hơn nồng độ LUCENTIS cần thiết để ức chế hoạt động sinh học của VEGF khoảng 50% (11 đến 27 ng/ml, được đánh giá trong một thử nghiệm tăng sinh tế bào in vitro). Nồng độ cao nhất trong huyết thanh (Cmax) tỉ lệ thuận với liều ở liều từ 0,05 đến1,0 mg/1 mắt. Khi tiêm LUCENTIS 0,5 mg/1 mắt trong dịch kính hàng tháng, nồng độ cao nhất trong huyết thanh (Cmax) đạt được khoảng 1 ngày sau khi tiêm, được dự đoán thường ở mức từ 0,79 đến 2,90 ng/ml, và nồng độ thấp nhất trong huyết thanh (Cmin) được dự đoán thường ở mức từ 0,07 đến 0,49 ng/ml. Nồng độ LUCENTIS trong huyết thanh của bệnh nhân tắc tĩnh mạch võng mạc và phù hoàng điểm gây ra bởi bệnh đái tháo đườngcũng tương đương với bệnh nhân bị thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi già AMD có tân mạch.
Phân bố và thải trừ
Dựa trên phân tích dược động học ở nhóm nghiên cứu và sự biến mất của LUCENTIS khỏi huyết thanh ở bệnh nhân điều trị với liều 0,5 mg, thời gian bán thải trung bình của LUCENTIS trong dịch kính khoảng 9 ngày. Nồng độ tồn lưu của LUCENTIS trong huyết thanh được dự đoán thấp hơn khoảng 90.000 lần so với nồng độ tồn lưu của LUCENTIS trong dịch kính.
Nhóm bệnh nhân đặc biệt
Suy thận: Chưa có nghiên cứu chính thức nào được thực hiện để kiểm tra dược động học của LUCENTIS ở bệnh nhân suy thận. Trong một phân tích dược động học ở bệnh nhân AMD có tân mạch, 68% bệnh nhân (136 trong số 200) bị suy thận (46,5% nhẹ [50-80 ml/phút], 20% trung bình [30-50 ml/phút] và 1,5% nặng [< 30 ml/phút]). Ở bệnh nhân tắc tĩnh mạch võng mạc, có 48.2% bệnh nhân (253 trong 525 bệnh nhân) có suy thận (36.4% nhẹ, 9.5% trung binh và 2.3% nặng). Độ thanh thải toàn thân hơi thấp hơn, nhưng điều này không có ý nghĩa lâm sàng.
Suy gan: Chưa có nghiên cứu chính thức nào thực hiện để kiểm tra dược động học của LUCENTIS ở bệnh nhân suy gan.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
α,α-trehalose dihydrate, Histidine hydrochloride, monohydrate, Histidine, Polysorbate 20, Water for injections
6.2. Tương kỵ :
Trong khi chưa có các nghiên cứu về sự tương hợp, không được pha trộn thuốc này với các thuốc khác.
6.3. Bảo quản:
Bảo quản trong tủ lạnh 2°C đến 8°C. Không làm đông lạnh. Giữ lọ thuốc trong hộp carton để tránh ánh sáng.
6.4. Thông tin khác :
An toàn tiền lâm sàng
Tiêm LUCENTIS trong dịch kính cả 2 bên cho khỉ cynomolgus với liều từ 0,25 mg/1 mắt đến 2 mg/1 mắt 1 lần mỗi 2 tuần cho đến 26 tuần dẫn đến các tác dụng phụ thuộc liều tại mắt.
Tại mắt, có sự tăng phụ thuộc liều của dấu hiệu tủa (flare) và chấm trắng lơ lửng (tế bào viêm) trong tiền phòng ở mức cao nhất 2 ngày sau khi tiêm. Độ nặng của đáp ứng viêm thường giảm ở các lần tiêm sau hoặc trong thời gian hồi phục. Ở phần sau của mắt có sự thâm nhiễm tế bào dịch kính và hiện tượng ruồi bay, có khuynh hướng phụ thuộc liều và kéo dài đến cuối thời gian điều trị. Trong nghiên cứu 26 tuần, độ nặng của viêm dịch kính tăng lên theo số lần tiêm. Tuy nhiên đã quan sát thấy dấu hiệu đảo ngược trong thời gian hồi phục. Bản chất và thời gian viêm phần sau mắt gợi ý một đáp ứng kháng thể qua trung gian miễn dịch, mà đáp ứng này có thể không biểu lộ trên lâm sàng. Sự hình thành đục thủy tinh thể được quan sát ở một số động vật sau một thời gian viêm nặng tương đối dài, gợi ý là những thay đổi ở thủy tinh thể là thứ phát sau quá trình viêm trầm trọng. Tăng tạm thời áp suất nội nhãn sau tiêm được quan sát thấy sau khi tiêm trong dịch kính, bất kể liều dùng.
Những thay đổi vi thể ở mắt có liên quan đến viêm và không là dấu hiệu của tiến trình thoái hóa. Những thay đổi viêm dạng u hạt đã được ghi nhận ở đĩa thị giác trong một số trường hợp. Những thay đổi này ở phần sau của mắt giảm, và trong một số trường hợp mất đi, trong thời gian hồi phục. Sau khi tiêm trong dịch kính, không phát hiện dấu hiệu nào về nhiễm độc toàn thân. Các kháng thể đối với LUCENTIS trong huyết thanh và dịch kính được tìm thấy ở một sốtrong nhóm động vật được điều trị.
Chưa có dữ liệu về tính gây ung thư và gây đột biến.
Ở khỉ mang thai, việc điều trị bằng LUCENTIS tiêm trong dịch kính không gây ra độc tính đối với sự phát triển của thai hoặc gây quái thai, và không có ảnh hưởng trên cân nặng hoặc cấu trúc của nhau thai, mặc dù, dựa trên tác dụng dược lý của thuốc, LUCENTIS được xem là có khả năng gây quái thai và gây độc đối với phôi-thai.
Tuy nhiên do hạn chế của liều sử dụng dùng tiêm trong dịch kính, các liều có thể thực hiện được đã dùng trong nghiên cứu này không dẫn đến độc tính đối với vật mẹ mà chỉ là một bội số tương ứng với liều hấp thu toàn thân ở người. Việc không có tác dụng qua trung gian của LUCENTIS trên sự phát triển của phôi-thai chủ yếu liên quan một cách hợp lý đến việc mảnh Fab không có khả năng đi qua nhau thai.
Tuy vậy, một trường hợp đã được mô tả là có nồng độ LUCENTIS trong huyết thanh cao ở vật mẹ và có LUCENTIS trong huyết thanh của thai, gợi ý là kháng thể kháng LUCENTIS hoạt động như là một protein tải (chứa vùng Fc) đối với LUCENTIS, do đó làm giảm độ thanh thải của chất này trong huyết thanh của vật mẹ và làm cho nó có khả năng truyền qua nhau thai. Các nghiên cứu về sự phát triển của phôi-thai đã được tiến hành trên các động vật mang thai khỏe mạnh và bệnh tật (ví dụ đái tháo đường) có thể làm thay đổi tính thấm của nhau thai đối với mảnh Fab.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM