Thuốc Sanbeproanes là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Sanbeproanes (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Propofol
Phân loại: Thuốc gây mê cục bộ.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N01AX10.
Biệt dược gốc: Diprivan
Biệt dược: Sanbeproanes
Hãng sản xuất : PT. Sanbe Farma.
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Nhũ tương tiêm 200mg/20ml.
Thuốc tham khảo:
| SANBEPROANES | ||
| Mỗi ml nhũ dịch tiêm có chứa: | ||
| Propofol | …………………………. | 10 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Propofol 1% là một thuốc gây mê tĩnh mạch tác dung ngắn thích hợp cho:
Dẫn mê và duy trì mê ở người lớn và trẻ em > 3 tuổi.
An thần gây ngủ cho các phẫu thuật và thủ thuật chẩn đoán, dùng riêng, lẻ hoặc kết hợp với các thuốc gây mê tại chỗ hoặc gây tê vùng ở người lớn và trẻ em > 16 tuổi.
Propofol 1% cũng có thể được dùng để gây ngủ ở bệnh nhân > 16 tuổi đang được thông khí hỗ trợ trong đơn vị săn sóc đặc biệt.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Propofol có thể được truyền tĩnh mạch nguyên chất qua ống tiêm nhựa hoặc các chai dịch truyền bằng thủy tỉnh.
Propofol cũng có thể được dùng pha loãng, chỉ với loại dịch truyền tĩnh mạch Dextrose 5%, trong các túi nhựa PVC hoặc chai thủy tinh. Việc pha loãng, không quá 1 phần 5 (2mg Propofol/ml), phải được làm một cách vô trùng ngay trước khi truyền. Hỗn hợp ổn định cho tới 6 giờ.
Thuốc pha loãng có thể được dùng với nhiều kỹ thuật kiểm soát đường truyền đa dạng, nhưng một phương cách kiểm soát đơn độc sẽ không tránh được nguy cơ tai biến không kiểm soát được khi truyền quá nhiều Propofol pha loãng. Phải thêm vào đường truyền 1 ống buret, máy đếm giọt hoặc bơm đo thể tích. Nguy cơ truyền không kiểm soát được phải được nghĩ tới khi quyết định thể tích tối đa thuốc đã pha loãng trong ống buret.
Propofol có thể được tiêm truyền qua một nhánh hình chữ Y gần vùng tiêm, vào trong các dịch truyền tĩnh mạch Dextrose 5%, Natri Clorid 0,9% hay Dextrose 4% với Natri Clorid 0.18%,
Propofol có thể trộn trước với alfentanil dạng tiêm chứa 500 microgram/mL alfentanil với tỷ lệ 20:1 đến 50:1 thể tích/ thể tích. Hỗn hợp thuốc nên được chuẩn bị bằng kỹ thuật vô trùng và sử dụng trong vòng 6 giờ. Để giảm đau lúc khởi đầu tiêm chích, dung dịch tiêm lidocain không chứa chất bảo quản có thể tiêm trước hoặc thêm vào dung dich Propofol 1% ngay trước khi tiêm nhưng hàm lượng không quá 20mg lidocain/ 200mg propofol.
Liều dùng:
Propofol không phải là thuốc giảm đau, vì vậy, thường phải dùng thêm thuốc giảm đau với Propofol.
DẪN MÊ :
Người lớn :
Ở bệnh nhân không có tiền mê và bệnh nhân đã có tiền mê, nên điều chỉnh Propofol (khoảng 4 ml [40 mg] mỗi 10 giây cho một người lớn khỏe mạnh, cân nặng trung bình bằng cách tiêm hay truyền tĩnh mạch) theo đáp ứng của bệnh nhân cho đến khi bệnh nhân có dấu hiệu bắt đầu mê. Đa số người lớn dưới 55 tuổi cần 1,5- 2,5 mg Propofol /kg. Tổng liều có thể giảm bằng cách giảm tốc độ tiêm truyền (2-5 ml/phút [20-50 mg/phút]). Trên 55 tuổi, liều dùng thường ít hơn. Ở bệnh nhân phân độ ASA 3 và 4, nên tiêm truyền ở tốc độ chậm hơn (khoảng 2 ml [20 mg] mỗi 10 giây).
Người cao tuổi: Ở bệnh nhân cao tuổi, liều yêu cầu để dẫn mê bằng Propofol được giảm bớt. Khi giảm liều, nên xem xét đến tình trạng thể chất và tuổi tác của bệnh nhân. Nên truyền liều đã giảm này ở tốc độ chậm hơn và điều chỉnh liều theo đáp ứng.
Trẻ em
Propofol không nên dùng dẫn mê ở trẻ em dưới 3 tuổi.
Khi dùng để dẫn mê ở trẻ em, Propofol nên được điều chỉnh chậm cho đến lúc có dấu hiệu lâm sàng của tình trạng bắt đầu mê. Phải điều chỉnh liều lượng theo tuổi và/hoặc cân nặng. Đa số bệnh nhi trên 8 tuổi có thể cần khoảng 2,5 mg Propofol /kg cân nặng để dẫn mê.
Bệnh nhi dưới 8 tuổi có thể cần liều lượng nhiều hơn (2,5-4mg Propofol/kg). Nên dùng liều thấp hơn đối với bệnh nhí độ 3 và 4 theo ASA.
DUY TRÌ MÊ
Người lớn: Có thể duy trì mê bằng cách truyền liên tục hoặc tiêm tĩnh mạch nhiều lần để duy trì độ sâu của mê cần thiết.
Truyền liên tục: Tốc độ truyền thay đổi đáng kể giữa các bệnh nhân nhưng tốc độ trong khoảng từ 4 đến 12 mg/kg/giờ thường duy trì mê tốt.
Tiêm tĩnh mạch nhiều lần: Nếu dùng kỹ thuật tiêm tĩnh mạch nhiều lần, có thể tiêm mỗi đợt từ 25 mg đến 50 mg tùy nhu cầu lâm sàng.
Người cao tuổi:
Khi dùng Propofol để duy trì mê, cũng nên giảm tốc độ truyền hoặc giảm “nồng độ thuốc mục tiêu”. Yêu cầu giảm hơn nữa về liều và tốc độ liều ở bệnh nhân phân độ ASA 3 và 4. Không nên tiêm tĩnh mạch nhanh (liều đơn hoặc lặp lại) cho bệnh nhân cao tuổi vì điều này có thể dẫn đến tình trạng trụy tim mạch hô hấp.
Trẻ em
Propofol không nên dùng để duy trì mê ở trẻ em dưới 3 tuổi.
Có thể dùng Propofol duy trì mê cho trẻ trên 3 tuổi bằng cách truyền hoặc tiêm tĩnh mạch nhắc lại nhiều lần để duy trì mức độ sâu của mê cần thiết. Tắc độ tiêm hoặc truyền thay đổi rất nhiều giữa các bệnh nhân nhưng tốc độ trong khoảng 9-15mg/kg/giờ thường đạt được yêu cầu kết quả gây mê tốt.
AN THẦN KHI CHĂM SÓC ĐẶC BIỆT
Người lớn
Khi dùng để an thần ở bệnh nhân săn sóc đặc biệt, nên truyền Propofol liên tục. Vận tốc truyền phải được điều chỉnh theo độ sâu của giấc ngủ cần thiết nhưng vận tốc truyền trong khoảng 0,3 đến 4-0mg/kg/giờ thường cho kết quả tốt.
Người cao tuổi: Tốc độ truyền nên được giảm khi sử dụng Propofol để an thần. Ở bệnh nhân phân độ ASA độ 3 và 4, cần giảm liều và tốc độ tiêm truyền. Không nên tiêm tĩnh mạch nhanh (liều đơn hoặc lặp lại) cho bệnh nhân lớn tuổi vì điều này có thể dẫn đến tình trạng trụy tim mạch hô hấp.
Khi dùng Propofol để an thần gây ngủ, cũng nên giảm tốc độ truyền. Bệnh nhân độ 3 và 4 theo ASA sẽ cần giảm liều và tốc độ truyền hơn nữa. Không nên tiêm tĩnh mạch nhanh (liều đơn hoặc lặp lại) cho bệnh nhân lớn tuổi vì điều này có thể dẫn đến tỉnh trạng trụy tím mạch-hô hấp.
Trẻ em: Propofol không dùng để an thần gây ngủ cho trẻ em dưới 16 tuổi đang được săn sóc đặc biệt.
AN THẦN CHO PHẪU THUẬT VÀ THỦ THUẬT CHẨN ĐOÁN
Người lớn
Để an thần cho phẫu thuật và thủ thuật chẩn đoán, tốc độ dùng nên được điều chỉnh cho từng cá nhân tùy theo đáp ứng lâm sàng.
Phần lớn bệnh nhân cần dùng liều 0,5-1 mg/kg trong 1-5 phút để khởi đầu cho an thần, gây ngủ.
Duy trì an thần có thể cũng điều chỉnh liều tiêm truyền Propofol đến mức cần thiết trên lâm sàng, phần lớn bệnh nhân cần dùng liều 1,5-4,5 mg/kg/giờ. Cùng với truyền tĩnh mạch, tiêm tĩnh mạch 10-20 mg mỗi lần có thể được dùng để tăng nhanh độ sâu an thần khi thấy cần thiết. Ở bệnh nhân phân độ ASA độ 3 và 4, tốc độ tiêm truyền và liều lượng cần phải giảm.
Người cao tuổi:
Khi dùng Propofol để an thần, cũng nên giảm tốc độ truyền hoặc giảm ‘nồng độ thuốc mục tiêu’. Bệnh nhân phân độ ASA 3 và 4 sẽ cần giảm liều và tốc độ truyền hơn nữa. Không nên tiêm tĩnh mạch nhanh (liều đơn hoặc lặp lại) cho bệnh nhân lớn tuổi vì điều này có thể dẫn đến tình trạng trụy tim mạch-hô hấp.
Trẻ em
Propofol không nên dùng để an thần trong phẫu thuật và thủ thuật chuẩn đoán cho trẻ em dưới 16 tuổi.
Đối với trẻ trên 16 tuổi, liều dùng và tốc độ truyền có thể điều chỉnh tùy theo mức độ sâu của mê cân thiết và đáp ứng lâm sàng. Hầu hết các bệnh nhi cần dùng liều 1-2 mg/kg cân nặng cho một lần gây ngủ.
4.3. Chống chỉ định:
Chống chỉ định sử dụng Propofol 1% ở bệnh nhân đã biết là dị ứng với Propofol 1% hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Chống chỉ định để khởi mê và duy trì mê ở trẻ đưới 3 tuổi.
Chống chỉ định an thần gây ngủ cho trẻ < 16 tuổi.
4.4 Thận trọng:
Propofol phải được dùng bởi những người đã được huấn luyện về gây mê hoặc ở nơi thích hợp, bởi các bác sĩ đã được huấn luyện về chăm sóc bệnh nhân ở khoa hồi sức. Bệnh nhân nên được theo dõi liên tục kỹ lưỡng và nên có sẵn các phương tiện để giữ thông đường thở, thở máy, oxy và các thiết bị hồi sức khác. Propofol không được dùng bởi những người tham gia thủ thuật chẩn đoán hay phẫu thuật.
Khi dùng Propofol để an thần nhẹ cho thủ thuật ngoại khoa và chẩn đoán, bệnh nhân cần được theo dõi liên tục các dấu hiệu sớm của hạ huyết áp, tắc nghẽn đường hô hấp và mất bão hòa oxy.
Cũng như các thuốc an thần khác, khi dùng Propofol để an thần trong phẫu thuật, những cử động không chủ ý của bệnh nhân có thể xảy ra. Trong tiến trình phẫu thuật đòi hỏi bệnh nhân phải nằm bất động, các cử động này có thể gây nguy hiểm đối với vị trí phẫu thuật.
Cũng như các an thần và gây mê khác, bệnh nhân nên được thông báo không được sử dụng rượu trước và ít nhất 8 giờ sau khi được dùng Propofol.
Cần một khoảng thời gian thích hợp trước khi chuyển bệnh nhân đi để bảo đảm bệnh nhân đã hoàn toàn hồi tỉnh sau khi dùng Propofol. Rất hiếm khi việc sử dụng Propofol liên quan đến giai đoạn mất ý thức sau phẫu thuật, có thể kèm theo tăng trương lực cơ. Điều này có thể hay không thể được báo trước bằng một giai đoạn thức tỉnh. Mặc dù sự hồi tỉnh có thể xảy ra tự nhiên, nhưng cần chăm sóc thích hợp như đối với bệnh nhân mất ý thức.
Khi dùng Propofol ở bệnh nhân động kinh, có thể có nguy cơ co giật.
Phải săn sóc thích hợp bệnh nhân có rối loạn chuyển hóa mỡ và các bệnh trạng khác mà nhũ tương lipid phải được sử dụng một cách thận trọng
Cũng như các loại thuốc gây mê đường tĩnh mạch khác, phải thận trọng khi dùng ở bệnh nhân có tổn thương tim, phổi, thận, gan, giảm thể tích tuần hoàn hoặc suy kiệt.
EDTA là một phức hợp của ion kim loại, kể cả kẽm. Nhu cầu cần bô sung kẽm nên được xem xét khi dùng lâu dài Propofol, đặc biệt đối với bệnh nhân có khuynh hướng, thiếu kẽm, như bệnh nhân bị bỏng, tiêu chảy và/hoặc nhiễm khuẩn nặng.
Rất hiếm trường hợp nhiễm toan chuyển hóa, tiêu cơ vân, tăng kali huyết và/hoặc suy tim, trong vài trường hợp có thể gây tử vong ở bệnh nhân mắc bệnh nặng đang dùng Propofol để gây ngủ tại phòng chăm sóc đặc biệt.
Rất hiếm trường hợp nhiễm toan chuyển hóa, tiêu cơ vân, tăng kali huyết và/hoặc suy tim, trong vài trường hợp có thể gây tử vong ở bệnh nhân điền trị hơn 58 giờ với liều hơn mg/kg/giờ. Liều này cao hơn liều tối đa khuyến cáo 4 mg/kg/giờ dùng để gây ngủ tại phòng chăm sóc đặc biệt.
Các thận trọng khác:
Propofol 1% không chứa các chất bảo quản kháng khuẩn và hỗ trợ sự phát triển của vi sinh vật. Khi bơm rút Propofol 1%, phải lay thuốc ra một cách vô trùng vào một ông tiêm vô trùng hoặc vào bộ đồ truyền ngay sau khi mở ống tiêm hoặc bẻ gãy dấu niêm phong của lọ thuốc. Phải dùng liền, không chậm trễ. Sự vô trùng phải được duy trì cho cả Propofol 1% lẫn bộ dụng cụ để truyền trong suốt quá trình truyền. Bất kỳ dịch truyền nào thêm vào đường truyền Propofol 1% phải được tiến hành gần chỗ vị trí ống cannula. Không nên truyền Propofol 1% qua màng lọc vi sinh.
Propofol 1% và mỗi ống tiêm chích chứa Propofol 1% là để dùng một lần duy nhất trên một bệnh nhân.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Phải thông báo cho bệnh nhân biết là các công việc đòi hỏi kỹ năng như lái xe hoặc vận hành máy móc có thể bị rỗi loạn một thời gian sau khi gây mê.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: C
US FDA pregnancy category: B
Thời kỳ mang thai:
Propofol 1% không nên dùng trong thai kỳ. Tuy nhiên Propofol 1% đã từng được dùng khi chấm dứt thai kỳ trong 3 tháng đầu.
Propofol 1% qua nhau và có thể liên quan với sự suy yếu của trẻ sơ sinh, Không nên dùng Propofol 1% để gây mê trong sản khoa.
Thời kỳ cho con bú:
Sự an toàn của trẻ sơ sinh chưa được xác định khi người mẹ cho con bú sử dụng Propofol 1%.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Dẫn mê bằng Propofol 1% thường nhẹ nhàng với ít biểu hiện kích thích. Các tác dụng ngoại ý được ghi nhận thường nhất là các phản ứng dược lý của nhóm thuốc gây mê có thể dự đoán trước, như hạ huyết áp. Do bản chất của thủ thuật gây mê và tình trạng bệnh nhân đang được chăm sóc đặc biệt, các biến cố được ghi nhận liên quan đến thủ thuật gây mê và chăm sóc đặc biệt cũng có thể liên quan đến thủ thuật thực hiện hoặc tình trạng bệnh nhân.
Rất thường gặp (> 1⁄10)
Các rối loạn toàn thân và tình trạng tại chô tiêm: Đau tại chỗ khi dẫn mê(1).
Thường gặp (> 1/100, < 1/10)
Rồi loạn mạch máu: Hạ huyết áp(2).
Rối loạn tim: Cham nhip tim(3).
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất: ngưng thở thoáng qua khi dẫn mê.
Rối loạn tiêu hóa: buồn nôn và nôn trong giai đoạn hồi phục.
Rối loạn hệ thần kinh: nhức đầu trong giai đoạn hồi phục.
Các rối loạn toàn thân và tình trạng tại chỗ tiêm: triệu chứng ngưng thuốc ở trẻ em(4).
Rối loạn mạch máu: đỏ bừng mặt ở trẻ em(4).
Ít gặp (> 1/1000, < 1/100)
Rối loạn mạch máu: huyết khối và viêm tĩnh mạch.
Hiếm gặp (> 1/10 000, < 1/1000)
Hệ thần kinh: các cử động dạng động kinh, kể cả co giật và ưỡn cong người trong khi dẫn mê, duy trì và hồi phục.
Rất hiếm gặp (< 1/10 000)
Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết: tiêu cơ vân(5).
Rối loạn tiêu hóa: viêm tụy.
Thương tổn, ngộ độc và các biến chứng trong thủ thuật: sốt hậu phẫu.
Rối loạn thận và tiết niệu: mất màu nước tiểu sau khi sử dụng dài hạn.
Rối loạn hệ tự miễn: quá mẫn-có thể gây phù mạch, co thắt phế quản, hồng ban và tụt huyết áp.
Hệ sinh sản và tuyến vú: không ức chế tình dục.
Rối loạn tim: phù phổi.
Rối loạn hệ thân kinh: bất tỉnh hậu phẫu.
(1) Có thể giảm thiểu bằng cách sử dụng các tĩnh mạch có kích thước lớn ở cánh tay và hố trước xương trụ. Khi dùng Propofol 1% 1%, các vết đau tại chỗ cũng được giảm thiểu bằng cách dùng phối hợp với lignocaine.
(2) Thỉnh thoảng, hạ huyết áp có thể cần phải dùng dung dịch tiêm tĩnh mạch và giảm tốc độ truyền Propofol 1%.
(3) Hiếm gặp, chậm nhịp tim trầm trọng. Trong một vài trường hợp, có thể gây vô tâm thu.
(4) Sau khi ngưng dùng Propofol 1% một cách đột ngột trong chăm sóc đặc biệt,
(5) Rất hiếm trường hợp ghi nhận tiêu cơ vân khi dùng Propofol 1% ở liều lớn hơn 4mg/kg/giờ để gây ngủ an thần trong ICU.
Các báo cáo từ việc sử dụng Propofol 1% ngoài các chỉ định được ghi trên toa thuốc để khởi đầu gây mê ở trẻ sơ sinh cho thấy trụy tim mạch-hô hấp có thể xảy ra nếu áp dụng phác đồ dùng cho trẻ em.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Nếu xảy ra hạ huyết áp và/hoặc nhịp tim chậm, điều trị bao gồm tăng tốc độ truyền dịch tĩnh mạch, nâng cao chi dưới, dùng các thuốc nâng huyết áp, hoặc dùng atropin. Có thể giảm tối thiểu đau buốt cục bộ nhất thời ở nơi tiêm nhũ dịch propofol nếu sử dụng những tĩnh mạch lớn ở cẳng tay. Cũng có thể giảm đau khi tiêm tĩnh mạch propofol bằng cách tiêm tĩnh mạch trước đó lidocain (1 ml dung dịch 1%).
Không được ngừng đột ngột tiêm tĩnh mạch nhũ dịch propofol.
Chỉ có thể dùng propofol khi có phương tiện hỗ trợ hô hấp và tuần hoàn vì nguy cơ suy hô hấp và tuần hoàn rất hay gặp.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Propofol đã được dùng kết hợp với gây tê tủy sống và gây tê ngoài màng cứng và với các thuốc tiền mê thông dụng, các thuốc ức chế thần kinh cơ, các thuốc gây mê qua đường thở và thuốc giảm đau; không ghi nhận được sự tương kỵ về dược lý nào. Propofol 1% có thể dùng ở liều thấp khi mà gây mê được dùng như một biện pháp hỗ trợ với kỹ thuật gây tê vùng.
Sử dụng đồng thời với các thuốc tác động lên thần kinh trung ương như thuốc tiền mê, các thuốc gây mê qua đường thở và thuốc giảm đau có thể làm tăng tác động an thần gây mê và tác động gây suy hô hấp tuần hoàn của Propofol 1%.
4.9 Quá liều và xử trí:
Quá liều do tai biến có thể gây suy hô hấp tuần hoàn. Phải xử trí tình trạng suy hô hấp bằng thông khí nhân tạo với ôxy. Khi bệnh nhân bị suy tuần hoàn, cần cho bệnh nhân nằm với đầu thấp và bồi hoàn thể tích và các thuốc vận mạch nếu trầm trọng.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Propofol (2,6–diisopropylphenol) là một thuốc gây mê tác dụng ngắn với khởi phát tác dụng nhanh khoảng 30 giây. Sự hồi tỉnh sau gây mê thường nhanh. Cũng như các thuốc gây mê khác, cơ chế tác dụng của propofol chưa được hiểu rõ.
Nói chung, tụt huyết áp động mạch trung bình và thay đối nhẹ nhịp tim được ghi nhận khi dùng propofol dẫn mê và duy trì mê. Tuy nhiên, các thông số huyết động học thường ở mức tương đối ổn định trong quá trình duy trì mê và các trường hợp thay đổi bất lợi huyết động học có tỉ lệ thấp.
Mặc dù sự ức chế thông khí có thể xảy ra sau khi dùng propofol, nhưng bất kì ảnh hưởng nào cũng đều tương tự về tính chất như các loại thuốc mê đường tĩnh mạch khác và đều có thể xử trí dễ dàng trên thực hành lâm sàng.
Propofol làm giảm lưu lượng máu não, áp lực nội sọ và chuyển hóa ở não. Giảm áp lực nội sọ thì xảy ra nhiều hơn ở bệnh nhân có tăng áp lực nội sọ trước đó.
Sự hồi tỉnh thường xảy ra nhanh và bệnh nhân cảm thấy nhẹ nhõm, với rất ít các trường đau đầu, buồn nôn và nôn sau phẫu thuật.
Nói chung, các triệu chứng buồn nôn và nôn sau phẫu thuật có gây mê bằng propofol thì ít hơn so với các thuốc gây mê dạng hít. Có bằng chứng cho rằng điều này có thể liên quan đến hiệu quả chống nôn của propofol.
Propofol 1% ở nồng độ sử dụng trên lâm sàng không ức chế tổng hợp các nội tiết tổ vỏ thượng thận.
Cơ chế tác dụng:
Propofol (2, 6-diisopropylphenol) là tác nhân gây mê tổng hợp tác dụng ngắn với khởi phát nhanh trong khoảng 30 giây. Phục hồi nhanh chóng. Cơ chế hoạt động, giống như tất cả các thuốc gây mê khác, chưa rõ. Tuy nhiên, propofol được cho là có tác dụng an thần / gây mê bằng cách ức chế chất dẫn truyền thần kinh GABA thông qua thụ thể GABAA.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Sự suy giảm nồng độ propofol sau một liều tiêm tĩnh mạch hoặc sau khi ngưng truyền có thể được miêu tả theo mô hình mở 3 ngăn. Giai đoạn đầu được đặc trưng bởi sự phân phối rất nhanh (thời gian bán hủy 2-4 phút), giai đoạn thải trừ nhanh (thời gian bán hủy 30-60 phút) và giai đoạn cuối cùng chậm hơn, tiêu biểu cho sự tái phân phối propofol từ các mô ít được tưới máu.
Propofol được phân bố rộng rãi và thải trừ nhanh khỏi cơ thể (độ thanh thải của cơ thể là 1,5-2 lít/phút. Sự thanh thải xảy ra qua các quá trình chuyển hóa, chủ yếu ở gan, để tạo ra các chất liên hợp không có hoạt tính của propofol và các quinol tương ứng, sẽ được thải sau đó qua nước tiểu,
Khi Propofol được dùng để duy trì mê, nồng độ propofol trong máu sẽ đạt đến các trị số của trạng thái ổn định đối: với liều dùng được cho. Dược động học có tính chất tuyến tính trong giới hạn khuyến cáo về vận tốc truyền của propofol.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược: dầu đậu nành, Glycerol, Lecithin trứng, Natri oleat, Disodium, Hydroxide, nước pha tiêm.
6.2. Tương kỵ :
Không được pha trộn propofol trước với các thuốc tiêm hay dịch truyền tĩnh mạch, ngoại trừ dịch truyền Dextrose 5% trong chai thủy tinh, hoặc lignocaine dạng tiêm.
Propofol không nên truyền cùng dây truyền với máu hoặc huyết tương, mặc dù chưa biết ảnh hưởng trên lâm sàng. Những nghiên cứu trong ống nghiệm cho thấy các thành phần hình cầu của nhũ tương bị kết tụ lại khi tiếp xúc với huyết tương người..
6.3. Bảo quản:
Bảo quản dưới 30°C. Không đông lạnh.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
HDSD Thuốc Sanbeproanes do PT. Sanbe Farma sản xuất (2013).
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM