Thuốc Brieka là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Brieka (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Pregabalin (Pregabaline)
Phân loại: Thuốc chống co giật, thuốc giảm đau.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine).
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N03AX16.
Biệt dược gốc: Lyrica.
Biệt dược: Brieka
Hãng sản xuất : Balkanpharma – Dupnitsa AD
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nang: 75 mg, 150 mg.
Brieka 75mg: Viên nang màu trắng-cam, size 4 (14,5mm), in chữ “PGB 75” màu đen trên vỏ nang.
Brieka 150mg: Viên nang màu trắng, size 2 (18mm), in chữ “PGB 150” màu đen trên vỏ nang.
Thuốc tham khảo:
| BRIEKA 75mg | ||
| Mỗi viên nang có chứa: | ||
| Pregabaline | …………………………. | 75 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Đau thần kinh: Brieka được chỉ định để điều trị đau thần kinh trung ương và ngoại biên ở người lớn.
Động kinh: Brieka được chỉ định điều trị bổ trợ các cơn động kinh cục bộ có hoặc không có cơn toàn thể thứ phát ở người lớn.
Rối loạn lo âu toàn thể: Brieka được chỉ định để điều trị rối loạn lo âu toàn thể (GAD) ở người lớn.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Brieka có thể được dùng đồng thời hoặc không với thức ăn.
Brieka chỉ được sử dụng bằng đường uống.
Liều dùng:
Liều dùng: Liều dùng từ 150 đến 600 mg mỗi ngày, được chia thành hai hoặc ba lần.
Đau thần kinh:
Pregabalin có thể được khởi đầu với liều 150 mg mỗi ngày được chia thành hai hoặc ba lần. Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, có thể tăng liều lên đến 300 mg mỗi ngày sau 3-7 ngày, và nếu cần, tăng đến liều tối đa 600 mg mỗi ngày sau 7 ngày.
Động kinh:
Pregabalin có thể được khởi đầu với liều 150 mg mỗi ngày chia hai hoặc ba lần. Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, liều dùng có thể tăng lên đến 300 mg mỗi ngày sau 1 tuần. Liều tối đa 600 mg mỗi ngày có thể đạt được sau một tuần nữa.
Rối loạn lo âu toàn thể:
Liều dùng từ 150 đến 600 mg mỗi ngày được chia thành hai hoặc ba lần. Nhu cầu điều trị nên được đánh giá lại thường xuyên.
Pregabalin có thể được khởi đầu với liều 150 mg mỗi ngày. Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, liều dùng có thể tăng lên đến 300 mg mỗi ngày sau 1 tuần. Tuần sau đó, có thể tăng liều lên đến 450 mg mỗi ngày. Liều tối đa 600 mg mỗi ngày có thể đạt được sau một tuần nữa.
Ngưng pregabalin:
Theo thực hành lâm sàng hiện nay, nếu ngưng pregabalin, người ta khuyến cáo nên được thực hiện dần dần, tối thiểu là 1 tuần, không phụ thuộc vào chỉ định.
Đối tượng đặc biệt:
Bệnh nhân suy thận: Pregabalin được thải trừ khỏi hệ tuần hoàn chủ yếu do bài tiết qua thận ở dạng không đổi. Vì độ thanh thải pregabalin tỷ lệ thuận với độ thanh thải creatinin, giảm liều ở những bệnh nhân có chức năng thận bị tổn hại phải tùy theo mỗi bệnh nhân theo độ thanh thải creatinin (CLcr), được thể hiện trong bảng 1, xác định bằng cách sử dụng công thức sau đây:
CrCl, mL / phút = (140 – tuổi) × (trọng lượng, kg) × (0,85 nếu là nữ) / (72 × Cr)
Khi lọc máu pregabalin bị loại trừ với tỷ lệ cao từ huyết tương bằng cách lọc máu (50% thuốc trong 4 giờ). Đối với các bệnh nhân lọc máu, liều pregabalin hàng ngày nên được điều chỉnh dựa trên chức năng thận. Bên cạnh liều hàng ngày, một liều bổ sung nên được sử dụng ngay lập tức mỗi 4 giờ sau khi lọc máu (bảng 1)
– xem Bảng 1.
| Độ thanh thải creatinin (ml/phút) | Tổng liều pregabalin hàng ngày (*) | Khoảng cách chia liều | |
| Liều khởi đầu (mg/ngày) | Liều tối đa (mg/ngày) | ||
| >=60 | 150 | 600 | 2 hoặc 3 lần/ ngày |
| 30 – 60 | 75 | 300 | 2 hoặc 3 lần/ ngày |
| 15 – 30 | 25 – 50 | 150 | 1 hoặc 2 lần/ ngày |
| < 15 | 25 | 75 | 1 lần/ ngày |
| Liều bổ sung sau mỗi 4 giờ thẩm phân máu | |||
| . | 25 | 100 | Một liều đơn |
Sử dụng ở bệnh nhân suy gan: Không cần chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan.
Bệnh nhi: Hiệu lực và độ an toàn của Brieka ở trẻ em dưới 12 tuổi và ở thanh thiếu niên (12-17 tuổi) chưa được xác lập.
Sử dụng ở người lớn tuổi (trên 65 tuổi): Bệnh nhân lớn tuổi có thể cần giảm liều pregabalin do chức năng thận giảm.
4.3. Chống chỉ định:
Mẫn cảm với hoạt chất hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
4.4 Thận trọng:
Bệnh nhân đái tháo đường: Một số bệnh nhân đái tháo đường, tăng cân do sử dụng pregabalin thì cần phải điều chỉnh các thuốc hạ đường huyết khi điều trị với pregabalin.
Phản ứng quá mẫn: Đã có các báo cáo về phản ứng quá mẫn của thuốc sau khi thuốc được lưu hành, bao gồm cả phù mạch. Pregabalin nên ngưng ngay lập tức nếu xảy ra các triệu chứng phù mạch, như mặt, quanh miệng, hoặc sưng đường hô hấp trên.
Chóng mặt, buồn ngủ, mất ý thức, nhầm lẫn và suy giảm tinh thần: Pregabalin có liên quan đến chóng mặt và buồn ngủ. Cũng đã có các báo cáo về sự mất ý thức, lú lẫn và suy giảm tinh thần. Do đó, bệnh nhân nên thận trọng cho đến khi họ đã quen với những ảnh hưởng tiềm ẩn của thuốc.
Các ảnh hưởng liên quan đến thị giác: Trong các thử nghiệm có đối chứng, một tỷ lệ cao hơn bệnh nhân điều trị với pregabalin được báo cáo giảm thị giác so với các bệnh nhân được điều trị với giả dược, các triệu chứng này phần lớn tự khỏi khi tiếp tục điều trị. Trong các nghiên cứu lâm sàng tại nhãn khoa, tỷ lệ giảm thị lực và thay đổi thị trường ở các bệnh nhân được điều trị với pregabalin là lớn hơn so với giả dược, tỷ lệ thay đổi võng mạc là lớn hơn ở bệnh nhân được điều trị với giả dược.
Các phản ứng bất lợi về thị giác cũng đã được báo cáo sau khi thuốc được lưu hành ra thị trường, bao gồm mất thị giác, mờ hoặc thay đổi thị lực, đa số là thoáng qua. Ngưng pregabalin có thể làm hồi phục hoặc cải thiện các triệu chứng về thị giác.
Suy thận: Các trường hợp suy thận đã được báo cáo và trong một số trường hợp ngừng pregabalin đã cho thấy phục hồi phản ứng bất lợi này.
Ngừng các thuốc chống động kinh đồng thời: Không đủ dữ liệu cho thấy việc ngừng các thuốc chống động kinh đồng thời, khi đạt được sự kiểm soát bệnh động kinh bằng pregabalin, để có thể đơn trị liệu với pregabalin.
Triệu chứng ngừng thuốc: Các triệu chứng ngừng thuốc sau khi ngừng điều trị ngắn hạn và dài hạn với pregabalin đã được ghi nhận trong một số bệnh nhân. Những biểu hiện sau đây đã được đề cập: Mất ngủ, nhức đầu, buồn nôn, lo lắng, tiêu chảy, hội chứng cúm, căng thẳng, trầm cảm, đau, co giật, tăng tiết mồ hôi và chóng mặt, phụ thuộc vào tình trạng sinh lý. Bệnh nhân nên được thông báo điều này khi bắt đầu điều trị.
Co giật, bao gồm trạng thái động kinh, động kinh cơn lớn, có thể xảy ra trong quá trình sử dụng pregabalin hoặc ngay sau khi ngưng pregabalin.
Liên quan đến ngừng điều trị lâu dài của pregabalin không có dữ liệu về tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng ngừng thuốc liên quan đến thời gian và liều sử dụng của pregabalin.
Suy tim sung huyết: Đã có các báo cáo của suy tim sung huyết ở một số bệnh nhân điều trị với pregabalin sau khi thuốc được lưu hành. Những phản ứng này chủ yếu ở bệnh nhân lớn tuổi có tổn thương tim mạch trong quá trình điều trị pregabalin cho chỉ định đau thần kinh. Pregabalin nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân này. Ngưng pregabalin có thể giải quyết phản ứng.
Điều trị đau thần kinh trung ương do tổn thương tủy sống: Trong điều trị đau thần kinh trung ương do tổn thương tủy sống, tỷ lệ phản ứng bất lợi nói chung, các phản ứng bất lợi trên hệ thần kinh trung ương và đặc biệt là buồn ngủ đã tăng lên. Điều này có thể là do một hiệu ứng phụ do dùng đồng thời các thuốc (ví dụ như thuốc chống co thắt) cần thiết cho tình trạng này. Nên cân nhắc khi chỉ định pregabalin trong tình trạng này.
Ý nghĩ và hành vi tự sát: Ý nghĩ và hành vi tự sát đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị với các thuốc chống động kinh trong nhiều chỉ định. Một phân tích meta của các nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng với giả dược của các thuốc chống động kinh cũng cho thấy có một tỷ lệ nguy cơ gia tăng nhẹ ý nghĩ và hành vi tự sát. Cơ chế của nguy cơ này không được biết và các dữ liệu hiện có không loại trừ khả năng gia tăng nguy cơ do pregabalin.
Vì vậy bệnh nhân nên được theo dõi các dấu hiệu của ý nghĩ và hành vi tự sát và nên cân nhắc điều trị thích hợp. Bệnh nhân (và những người chăm sóc bệnh nhân) nên được tư vấn về các dấu hiệu có ý định hoặc hành vi tự sát.
Giảm chức năng đường tiêu hóa dưới: Có các báo cáo sau khi thuốc được lưu hành về các biến cố liên quan đến giảm chức năng đường tiêu hóa dưới (ví dụ, tắc ruột, liệt ruột, táo bón) khi điều trị phối hợp pregabalin với các thuốc có khả năng gây táo bón, như thuốc giảm đau opioid. Khi sử dụng kết hợp pregabalin và opioid nên xem xét các biện pháp phòng ngừa táo bón (đặc biệt là ở bệnh nhân nữ và người già).
Khả năng lạm dụng: Các trường hợp lạm dụng đã được báo cáo. Cần thận trọng ở những bệnh nhân có tiền sử lạm dụng thuốc và bệnh nhân nên được theo dõi các triệu chứng của lạm dụng pregabalin (tăng khả năng dung nạp, tăng liều, có hành vi tìm thuốc đã được báo cáo).
Bệnh não: Các trường hợp bệnh não đã được báo cáo, chủ yếu là ở những bệnh nhân với điều kiện cơ bản mà có thể thúc đẩy bệnh lý não.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Brieka có thể có ảnh hưởng nhẹ hoặc trung bình trên khả năng điều lái xe và vận hành máy móc. Brieka có thể gây chóng mặt và buồn ngủ và do đó có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Bệnh nhân được khuyên không nên lái xe, vận hành máy móc phức tạp hoặc tham gia các hoạt động nguy hiểm khác cho đến khi biết được thuốc này có ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các hoạt động này của họ hay không..
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B3
US FDA pregnancy category: C
Thời kỳ mang thai:
Không có đủ dữ liệu về việc sử dụng pregabalin ở phụ nữ mang thai.
Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy độc tính sinh sản. Nguy cơ tiềm ẩn ở người là không rõ.
Brieka không nên sử dụng trong quá trình mang thai, chỉ nên dùng thuốc nếu lợi ích vượt trội nguy cơ.
Phụ nữ có khả năng sinh con/tránh thai ở cả nam và nữ:
Do chưa rõ nguy cơ tiềm ẩn ở người, phải sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả ở phụ nữ có khả năng sinh con.
Thời kỳ cho con bú:
Pregabalin được bài tiết vào sữa mẹ. Ảnh hưởng của pregabalin đối với trẻ sơ sinh/trẻ nhỏ chưa được biết rõ. Việc quyết định ngừng cho con bú hay ngừng điều trị pregabalin cần tính đến lợi ích của việc cho con bú và lợi ích của việc điều trị cho mẹ.
Khả năng sinh sản:
Không có dữ liệu lâm sàng về ảnh hưởng của pregabalin trên khả năng sinh sản nữ.
Trong một thử nghiệm lâm sàng để đánh giá hiệu quả của pregabalin đối với khả năng di động của tinh trùng, đối tượng là các bệnh nhân nam khỏe mạnh, sử dụng liều pregabalin là 600 mg/ngày. Sau 3 tháng điều trị không có ảnh hưởng trên khả năng di dộng của tinh trùng.
Một nghiên cứu sinh sản ở chuột cái cho thấy tác động bất lợi trên sinh sản. Nghiên cứu khả năng sinh sản ở chuột đực cũng cho thấy những tác động bất lợi trên sinh sản và phát triển. Sự liên quan lâm sàng của những tác động này là chưa rõ.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Các phản ứng bất lợi xảy ra được liệt kê theo nhóm và tần suất như sau: rất thường gặp (ADR ≥ 1/10), thường gặp (1/100 ≤ ADR <1/10), ít gặp (1/1.000 ≤ ADR < 1/100), hiếm gặp (1/1.000 ≤ ADR < 1/10.000), rất hiếm gặp (ADR < 1/10.000), chưa rõ (không thể ước tính từ dữ liệu có sẵn). Trong mỗi nhóm, tác dụng không mong muốn được sắp xếp theo thứ tự mức độ nghiêm trọng giảm dần.
Các phản ứng bất lợi được liệt kê cũng có thể liên quan đến các bệnh tiềm ẩn hoặc các thuốc sử dụng đồng thời.
Trong điều trị đau thần kinh trung ương do tổn thương tủy sống, tăng tỷ lệ phản ứng bất lợi nói chung, phản ứng bất lợi ở hệ thần kinh trung ương và đặc biệt là buồn ngủ.
Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng
Thường gặp: Viêm họng
Rối loạn máu và hệ bạch huyết
Ít gặp: Giảm bạch cầu trung tính
Rối loạn hệ thống miễn dịch
Ít gặp: Quá mẫn
Hiếm gặp: Phù mạch, phản ứng dị ứng
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
Thường gặp: Thèm ăn
Ít gặp: Chán ăn, hạ đường huyết
Rối loạn tâm thần
Thường gặp: Trạng thái hưng phấn, lú lẫn, khó chịu, mất phương hướng, mất ngủ, giảm ham muốn tình dục
Ít gặp: Ảo giác, hoảng sợ, kích động, trầm cảm, tinh thần chán nản, tinh thần hưng phấn, hung hăng, thay đổi tâm trạng, chán nản, khó khăn trong tìm kiếm từ, giấc mơ bất thường, tăng ham muốn tình dục, anorgasmia, thờ ơ
Hiếm gặp: Mất trí
Rối loạn hệ thần kinh
Rất thường gặp: Chóng mặt, buồn ngủ, đau đầu
Thường gặp: Mất điều hòa, phối hợp bất thường, run, loạn thị, mất trí nhớ, suy giảm trí nhớ, kém chú ý, dị cảm, giảm cảm xúc, an thần, rối loạn cân bằng, thờ ơ
Ít gặp: Ngất, co giật, sững sờ, tăng động, rối loạn vận động, chóng mặt tư thế, rung động, rung giật nhãn cầu, rối loạn nhận thức, suy giảm tinh thần, rối loạn ngôn ngữ, giảm phản xạ, tăng cảm giác, cảm giác nóng rát, mất vị giác, khó chịu
Hiếm gặp: Co giật, loạn khứu giác, giảm khả năng vận động, dysgraphia
Rối loạn mắt
Thường gặp: Nhìn mờ, nhìn đôi
Ít gặp: Mất thị lực ngoại biên, rối loạn thị giác, sưng mắt, khuyết tật thị trường, giảm thị lực, đau mắt, mỏi mắt, hoa mắt, khô mắt, chảy nước mắt, kích ứng mắt
Hiếm gặp: Mất thị lực, viêm giác mạc, nhìn dao động, thay đổi nhận thức thị giác, giãn đồng tử, lác mắt, độ sáng thị giác
Rối loạn tai và mê đạo
Thường gặp: Chóng mặt
Ít gặp: Tăng nhạy cảm với âm thanh
Rối loạn tim mạch
Ít gặp: Nhịp tim nhanh, block nhĩ thất độ 1, nhịp xoang chậm, suy tim sung huyết
Hiếm gặp: Kéo dài khoảng QT, nhịp xoang nhanh, loạn nhịp xoang
Rối loạn mạch máu
Ít gặp: Hạ huyết áp, tăng huyết áp, nóng bừng, đỏ bừng, lạnh ngắt
Rối loạn hô hấp, ngực, trung thất
Ít gặp: Khó thở, chảy máu cam, ho, nghẹt mũi, viêm mũi, ngáy, khô mũi
Hiếm gặp: Phù phổi, tức ngực
Rối loạn tiêu hóa
Thường gặp: Nôn, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy, đầy hơi, đau bụng, khô miệng
Ít gặp: Bệnh trào ngược dạ dày-thực quản, tăng tiết nước bọt, giảm cảm giác miệng
Hiếm gặp: Cổ trướng, viêm tụy, lưỡi sưng, khó nuốt
Rối loạn gan mật
Ít gặp: Men gan cao *
Hiếm gặp: Vàng da
Rất hiếm gặp: Suy gan, viêm gan
Rối loạn da và các mô dưới da
Ít gặp: Nốt phát ban, mày đay, tăng tiết mồ hôi, ngứa
Hiếm gặp: Hội chứng Stevens Johnson, toát mồ hôi lạnh
Rối loạn mô cơ xương và mô liên kết
Thường gặp: Đau cơ, đau khớp, đau lưng, đau chân tay, co thắt cổ tử cung
Ít gặp: Sưng khớp, đau cơ, co giật, đau cổ, cứng cơ
Hiếm gặp: Tiêu cơ vân
Rối loạn thận và tiết niệu
Ít gặp: Tiểu không tự chủ, khó tiểu
Hiếm gặp: Suy thận, thiểu niệu, bí tiểu
Rối loạn hệ thống sinh sản và vú
Thường gặp: Rối loạn cương dương
Ít gặp: Rối loạn khả năng tình dục, xuất tinh chậm, đau bụng kinh, đau vú
Hiếm gặp: Vô kinh, biến đổi hình dạng vú, ngực nở, vú to ở nam
Rối loạn toàn thân và rối loạn tại vị trí sử dụng
Thường gặp: Phù ngoại vi, phù, dáng đi bất thường, ngã, cảm giác say rượu, cảm giác bất thường, mệt mỏi
Ít gặp: Phù toàn thân, phù mặt, tức ngực, đau, sốt, khát, ớn lạnh, suy nhược
Nghiên cứu
Thường gặp: Tăng cân
Ít gặp: Tăng creatine phosphokinase máu, tăng glucose máu, giảm số lượng tiểu cầu, creatinin máu tăng, giảm kali máu, giảm cân
Hiếm gặp: Giảm số lượng bạch cầu
* Tăng alanine aminotransferase (ALAT) và aspartate aminotransferase (ASAT)
Sau khi ngừng điều trị ngắn hạn và dài hạn với pregabalin các triệu chứng ngừng thuốc đã được ghi nhận ở một số bệnh nhân. Các phản ứng sau đây đã được đề cập: Mất ngủ, nhức đầu, buồn nôn, lo lắng, tiêu chảy, hội chứng cúm, co giật, căng thẳng, trầm cảm, đau, tăng tiết mồ hôi và chóng mặt. Bệnh nhân nên được thông báo về điều này khi bắt đầu điều trị.
Liên quan đến việc ngừng điều trị lâu dài của pregabalin, không có dữ liệu về tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng ngừng thuốc liên quan đến thời gian sử dụng và liều lượng của pregabalin.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Một số ADR làm người bệnh phải ngừng thuốc. 4% người bệnh bị chóng mặt hoặc buồn ngủ phải ngừng điều trị. Đa số các trường hợp bị nhìn mờ tự hết khi tiếp tục điều trị, dưới 1% người bệnh phải ngừng điều trị. Nếu rối loạn thị giác kéo dài, cần cho thăm khám mắt.
Phải ngừng thuốc khi bị bệnh cơ, hoặc khi thấy nồng độ CPK huyết thanh tăng cao ít nhất gấp 3 lần mức cao của giới hạn bình thường. Phải ngừng thuốc khi có tăng cân, phù ngoại biên ở người đã có bệnh tim từ trước.
Phù mạch tuy hiếm xảy ra nhưng thường xảy ra ngay khi bắt đầu điều trị pregabalin; do đó, trước khi cho bệnh nhân điều trị bằng pregabalin, cần hỏi kỹ tiền sử mẫn cảm và chuấn bị phương tiện cấp cứu thích hợp.
Ngoài ra, cần thông báo cho người bệnh và gia đình biết về tiềm năng nguy cơ tự sát khi dùng thuốc chống động kinh. Phải chú ý đến các triệu chứng báo hiệu như lo âu, vật vã, hung hãn, tấn công, chống đối, thao cuồng, mất ngủ và trầm cảm. Gia đình cần theo dõi sát người bệnh.
Khi ngừng thuốc, tránh ngừng đột ngột, giảm dần liều trong khoảng ít nhất một tuần.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Do pregabalin chủ yếu được bài tiết trong nước tiểu ở dạng không đổi, qua quá trình chuyển hóa không đáng kể ở người (< 2% liều thu hồi trong nước tiểu là chất chuyển hóa), không ức chế chuyển hóa thuốc in vitro, và không gắn kết với protein huyết tương, nên nó ít có khả năng gây ra, hoặc là mục tiêu của các tương tác dược động học.
Trong các nghiên cứu in vivo và đối tượng phân tích dược động học:
Theo đó, trong nghiên cứu in vivo không có tương tác dược động học liên quan về lâm sàng được ghi nhận giữa pregabalin và phenytoin, carbamazepin, valproic acid, lamotrigine, gabapentin, lorazepam, oxycodone hay ethanol. Đối tượng phân tích dược động học cho thấy thuốc điều trị đái tháo đường đường uống, thuốc lợi tiểu, insulin, phenobarbital, tiagabine và topiramate không có ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng trên độ thanh thải pregabalin.
Thuốc tránh thai uống, norethisterone và/hoặc ethinyl estradiol:
Dùng đồng thời pregabalin với các thuốc tránh thai uống norethisterone và/hoặc ethinyl estradiol không ảnh hưởng đến dược động học ở trạng thái ổn định của mỗi thuốc này.
Ảnh hưởng của thuốc với hệ thần kinh trung ương:
Pregabalin có thể làm tăng tác dụng của ethanol và lorazepam. Trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, liều uống nhiều lần pregabalin đồng thời với oxycodone, lorazepam, hoặc ethanol không dẫn đến những ảnh hưởng quan trọng về lâm sàng trên hô hấp. Theo kinh nghiệm sau khi thuốc được lưu hành ra thị trường, có các báo cáo về suy hô hấp và hôn mê ở bệnh nhân dùng pregabalin và các thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương khác. Pregabalin dường như làm tăng sự giảm nhận thức và chức năng vận động nói chung gây ra bởi oxycodone.
Người già:
Không có nghiên cứu tương tác dược động học cụ thể nào được tiến hành ở những người tình nguyện cao tuổi. Các nghiên cứu tương tác chỉ thực hiện ở người lớn.
4.9 Quá liều và xử trí:
Trong các kinh nghiệm sau khi thuốc được đưa lưu hành trên thị trường, các phản ứng phụ thường gặp nhất được ghi nhận khi sử dụng quá liều pregabalin bao gồm buồn ngủ, trạng thái lú lẫn, kích động, và bồn chồn.
Điều trị quá liều pregabalin bao gồm các biện pháp hỗ trợ và có thể chạy thận nhân tạo nếu cần.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Nhóm dược lý: Thuốc chống động kinh, mã ATC: N03AX16
Pregabalin có cấu trúc tương tự gamma aminobutyric acid ((S)-3- (aminomethyl)- 5- axit methylhexanoic).
Cơ chế tác động: Pregabalin liên kết với một tiểu đơn vị phụ (α2-δ protein) của kênh canxi phụ thuốc điện thế trong hệ thần kinh trung ương, có thể thay [3H]-gabapentin.
Đau thần kinh
Hiệu quả được thể hiện trong các nghiên cứu trên các bệnh nhân bị bệnh thần kinh do đái tháo đường, đau dây thần kinh sau zona và tổn thương tủy sống. Hiệu quả chưa được nghiên cứu trong các mô hình đau thần kinh khác.
Pregabalin đã được nghiên cứu trong 10 thử nghiêm lâm sàng có đối chứng lên đến 13 tuần với liều là 2 lần/ngày (BID) và lên đến 8 tuần với liều 3 lần/ngày (TID). Nhìn chung, tính an toàn và hiệu quả cho phác đồ điều trị BID và TID là tương tự nhau.
Trong các thử nghiệm lâm sàng lên đến 12 tuần cho cả đau ngoại vi và đau thần kinh trung ương. Sự giảm cơn đau được nhìn thấy trong 1 tuần và trong suốt thời gian điều trị.
Trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng đối với các bệnh nhân đau thần kinh ngoại biên 35% bệnh nhân được điều trị bằng pregabalin và 18% bệnh nhân dùng giả dược đã cải thiện 50% điểm số đau. Đối với bệnh nhân không có cảm giác buồn ngủ, sự cải thiện này được quan sát thấy ở 33% bệnh nhân được điều trị bằng pregabalin và 18% bệnh nhân dùng giả dược. Đối với những bệnh nhân có cảm giác buồn ngủ, tỷ lệ đáp ứng là 48% đối với pregabalin và 16% đối với giả dược.
Trong thử nghiệm lâm sàng có đối chứng đối với các bệnh nhân đau thần kinh trung ương 22% bệnh nhân được điều trị pregabalin và 7% bệnh nhân dùng giả dược đã cải thiện 50% điểm số đau.
Bệnh động kinh
Điều trị bổ trợ.
Pregabalin được nghiên cứu trong 3 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trong 12 tuần với liều BID hoặc TID. Nhìn chung tính an toàn và hiệu quả cho hai phác đồ điều trị này là tương đương nhau.Việc giảm tần suất co giật được quan sát vào tuần 1.
Đối tượng trẻ em
Hiệu quả và an toàn của pregabalin như một liệu pháp điều trị bổ trợ bệnh động kinh ở những bệnh nhân nhi dưới 12 tuổi và thanh thiếu niên chưa được thiết lập. Các biểu hiện bất lợi quan sát được trong một nghiên cứu dược động học và khả năng dung nạp trên bệnh nhân từ 3 tháng đến 16 tuổi (n = 65) với khởi phát cơn động kinh cục bộ tương tự như quan sát trên người trưởng thành. Kết quả nghiên cứu đối chứng với giả dược trong 12 tuần của 295 bệnh nhân nhi từ 4 đến 16 tuổi và nghiên cứu an toàn, biết rõ tên thuốc trong 1 năm ở 54 bệnh nhân nhi từ 3 tháng đến 16 tuổi với chỉ định động kinh cho thấy các phản ứng phụ như sốt rét và nhiễm khuẩn đường hô hấp trên được quan sát thấy thường gặp hơn so với các nghiên cứu ở người lớn bị bệnh động kinh.
Trong nghiên cứu 12 tuần có đối chứng với giả dược, bệnh nhân nhi được chỉ định dùng pregabalin 2,5 mg/kg/ngày (tối đa 150 mg/ngày), pregabalin 10 mg/kg/ngày (tối đa 600 mg/ngày), hoặc giả dược. Tỷ lệ số bệnh nhân giảm ít nhất 50% số lần khởi phát động kinh cục bộ so với đường nền là 40,6% bệnh nhân trong nhóm điều trị với pregabalin và 10 mg/kg/ngày (p = 0,006 so với giả dược); 29,1% bệnh nhân điều trị bằng pregabalin 2,5 mg/kg/ngày (p = 0,2600 so với giả dược) và 22,6% bệnh nhân sử dụng giả dược.
Đơn trị liệu (với bệnh nhân mới được chẩn đoán)
Pregabalin đã được nghiên cứu trong 1 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trong thời gian 56 tuần với liều BID. Pregabalin không đạt được kết quả kém hơn so với lamotrigine dựa trên các chỉ tiêu lâm sàng thu được trong 6 tháng. Pregabalin và lamotrigine tương tự về an toàn và dung nạp tốt.
Rối loạn lo âu toàn thể
Pregabalin được nghiên cứu trong 6 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trong thời gian 4-6 tuần, một nghiên cứu trên người già trong thời gian 8 tuần và một nghiên cứu mù đôi dự phòng tái phát dài hạn với giai đoạn dự phòng tái phát trong 6 tháng.
Biểu hiện triệu chứng của rối loạn lo âu toàn thể được phản ánh bởi Hamilton Anxiety Rating Scale (HAM-A) quan sát ở tuần 1.
Trong nghiên cứu lâm sàng có đối chứng (thời gian 4-8 tuần) 2% bệnh nhân được điều trị pregabalin và 38% bệnh nhân dùng giả dược có ít nhất 50% cải thiện tổng điểm HAM-A từ lúc bắt đầu đến kết thúc.
Trong các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng, một tỷ lệ cao hơn ở các bệnh nhân được điều trị bằng pregabalin báo cáo nhìn mờ hơn so với những bệnh nhân dùng giả dược đã được giải quyết trong phần lớn các bệnh nhân sử dụng liều liên tục. Ophthamologic testing (bao gồm kiểm tra thị lực, kiểm tra thị trường, kiểm tra giãn nở nội soi) được tiến hành ở hơn 3600 bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng. Ở những bệnh nhân này, thị lực giảm 6,5% ở những bệnh nhân được điều trị bằng pregabalin và 4,8% bệnh nhân được điều trị bằng giả dược. 12,4% điều trị bằng pregabalin và 11,7% bệnh nhân được điều trị bằng giả dược có những thay đổi về thị trường. 1,7% điều trị bằng pregabalin và 2,1% bệnh nhân được điều trị bằng giả dược quan sát có những thay đổi giãn nở khi nội soi.
Cơ chế tác dụng:
Pregabalin gắn với 1 tiểu đơn vị phụ (α2– δ protein) của kênh calci cổng điện thế trong hệ thống thần kinh trung ương.
Bằng chứng từ mô hình động vật có tổn thương thần kinh chỉ ra rằng pregabalin giảm giải phóng chất dẫn truyền thần kinh cảm thụ đau phụ thuộc vào canxi ở tủy sống, có thể thông qua sự ngăn cản vận chuyển canxi và/hoặc giảm dòng canxi. Bằng chứng từ các mô hình động vật khác có tổn thương thần kinh cho thấy hoạt tính giảm đau của pregabalin cũng có thể gián tiếp qua các tương tác với các con đường phó giao cảm và serotonin.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Dược động học của pregabalin ở trạng thái ổn định là như nhau ở người tình nguyện khỏe mạnh, bệnh nhân được điều trị với thuốc chống động kinh và bệnh nhân bị đau mạn tính.
Hấp thu: Pregabalin được hấp thu nhanh chóng khi đói, với nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong vòng 1 giờ sau khi sử dụng cả liều đơn và đa liều. Sinh khả dụng đường uống của pregabalin được ước tính là 90% và không phụ thuộc vào liều dùng. Sau khi dùng liều lặp lại, trạng thái ổn định đạt được trong vòng 24 đến 48 giờ. Tỷ lệ hấp thu pregabalin giảm khi được dùng với thức ăn dẫn đến giảm Cmax khoảng 25-30% và làm chậm Tmax khoảng 2,5 giờ. Tuy nhiên, việc dùng pregabalin với thức ăn không có ảnh hưởng lâm sàng đáng kể trên mức độ hấp thu pregabalin.
Phân bố: Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, pregabalin đã được chứng minh qua hàng rào máu não ở chuột nhắt, chuột và khỉ. Pregabalin đã được chứng minh qua nhau thai ở chuột và hiện diện trong sữa ở những con chuột cho con bú. Ở người, thể tích phân bố của pregabalin sau khi uống là khoảng 0,56 L/kg. Pregabalin không liên kết với protein huyết tương.
Chuyển hóa: Pregabalin chuyển hóa không đáng kể ở người. Sau một liều pregabalin đánh dấu phóng xạ, khoảng 98% chất phóng xạ thu hồi trong nước tiểu là pregabalin dạng không đổi. Các dẫn xuất N-methyl của pregabalin, các chất chuyển hóa chính của pregabalin đã tìm thấy trong nước tiểu, chiếm 0,9% liều dùng. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, không có sự racemic hóa của pregabalin S-enantiomer thành R-enantiomer.
Thải trừ: Pregabalin được thải trừ khỏi hệ tuần hoàn chủ yếu do bài tiết qua thận ở dạng còn hoạt tính.
Pregabalin có thời gian bán thải trung bình là 6,3 giờ. Độ thanh thải pregabalin huyết tương và độ thanh thải thận là tỷ lệ thuận với độ thanh thải creatinin.
Cần chỉnh liều ở bệnh nhân giảm chức năng thận hoặc chạy thận nhân tạo.
Tuyến tính/phi tuyến tính:
Dược động học của pregabalin là tuyến tính trong phạm vi liều khuyến cáo hàng ngày. Thay đổi dược động học giữa các đối tượng với pregabalin thấp (< 20%). Dược động học đa liều có thể dự đoán được từ dữ liệu liều đơn. Do đó, không cần theo dõi thường xuyên nồng độ trong huyết tương của pregabalin.
Dược động học ở các đối tượng đặc biệt:
Giới tính: Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy giới tính không ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng trên nồng độ của pregabalin trong huyết tương.
Suy thận: Độ thanh thải của pregabalin tỷ lệ thuận với độ thanh thải creatinin. Ngoài ra, pregabalin được thải trừ một cách hiệu quả từ huyết tương bằng cách lọc máu (sau 4 giờ lọc máu, nồng độ pregabalin huyết tương giảm khoảng 50%). Bởi thận là đường thải trừ chính, cần giảm liều ở bệnh nhân suy thận và dùng liều bổ sung sau lọc máu.
Suy gan: Không có nghiên cứu dược động học riêng biệt được thực hiện trên những bệnh nhân suy gan. Do pregabalin không bị chuyển hóa đáng kể và được bài tiết chủ yếu trong nước tiểu ở dạng không đổi, suy chức năng gan dự kiến sẽ không thay đổi đáng kể nồng độ pregabalin trong huyết tương.
Trẻ em: Dược động học của pregabalin được đánh giá trên những bệnh nhân nhi bị bệnh động kinh (nhóm tuổi: 1 đến 23 tháng, 2 đến 6 tuổi, 7 đến 11 tuổi và 12 đến 16 tuổi) ở mức liều 2,5, 5, 10 và 15 mg/kg/ngày ở một nghiên cứu dược động học và khả năng dung nạp.
Sau khi uống pregabalin khi đói, nhìn chung, thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương tương đương với toàn bộ nhóm tuổi và xảy ra ở thời điểm 0,5 giờ đến 2 giờ sau khi dùng thuốc.
Các thông số Cmax và AUC tăng tuyến tính với tăng liều trong mỗi nhóm tuổi. AUC thấp hơn 30% ở những bệnh nhân nhi dưới 30 kg vì độ thanh thải điều chỉnh theo cân nặng ở những bệnh nhân này tăng 43% so với những bệnh nhân nhi lớn hơn 30 kg.
Thời gian bán thải của pregabalin khoảng 3 đến 4 giờ ở bệnh nhân nhi lên đến 6 tuổi và từ 4 đến 6 giờ ở những người từ 7 tuổi trở lên.
Phân tích dược động học trong quần thể cho thấy độ thanh thải creatinin là một biến số đáng kể với độ thanh thải của pregabalin, trong lượng cơ thể ảnh hưởng tới thể tích phân bố của pregabalin, mối liên quan này tương tự ở người lớn và trẻ em.Dược động học ở trẻ em dưới 3 tháng tuổi chưa được nghiên cứu.
Người lớn tuổi: Độ thanh thải pregabalin có xu hướng giảm ở bệnh nhân lớn tuổi. Việc giảm này là phù hợp với giảm độ thanh thải creatinin ở bệnh nhân lớn tuổi. Nên giảm liều pregabalin ở bệnh nhân lớn tuổi bị tổn thương chức năng thận.
Phụ nữ cho con bú: Dược động học với liều 150 mg pregabalin mỗi 12 giờ (300 mg/ngày) được đánh giá ở 10 phụ nữ cho con bú ít nhất 12 tuần sau sinh. Việc cho con bú ít hoặc không ảnh hưởng đến dược động học của pregabalin. Pregabalin được bài tiết vào sữa mẹ với nồng độ ổn định trung bình khoảng 76% nồng độ trong huyết tương của mẹ. Liều trẻ sơ sinh ước tính từ sữa mẹ (giả sử mức tiêu thụ sữa trung bình 150 mL/kg/ngày) của phụ nữ sử dụng mức liều 300 mg/ngày hoặc liều tối đa 600 mg/ngày sẽ là 0,31 hoặc 0,62 mg/kg/ngày. Những liều ước tính này là khoảng 7% tổng liều mẹ sử dụng hàng ngày trên với liều mg/kg.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
…
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
HDSD Thuốc Brieka 75mg do Balkanpharma – Dupnitsa AD sản xuất (2019).
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM