Thuốc Phenobarbital Vidipha là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Phenobarbital Vidipha (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Phenobarbital
Phân loại: Thuốc chống co giật, an thần, gây ngủ.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N03AA02.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: Phenobarbital 0,1 g
Hãng sản xuất : Công ty cổ phần Dược Phẩm trung ương Vidipha
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén 100 mg;
Thuốc tham khảo:
| PHENOBARBITAL 0,1 g | ||
| Mỗi viên nén có chứa: | ||
| Phenobarbital Sodium | …………………………. | 100 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Điều trị và kiểm soát tất cả các dạng động kinh, ngoại trừ cơn vắng ý thức. Phenobarbital chỉ được sử dụng điều trị co giật do sốt trong một số trường hợp ngoại lệ đặc biệt.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng theo đường uống.
Liều dùng:
Chỉ có thể đánh giá được hiệu quả của thuốc sau 15 ngày điều trị và hiệu quả như nhau khi có thay đổi liều lượng.
Khi có chỉ định lâm sàng, lấy mẫu kiểm soát tốt nhất là vào buổi sáng (thường là 65- 130mmol/l hoặc từ 15 đến 30mg/l ở người lớn và 85mmol/l hoặc 20mg/l ở trẻ em).
Trẻ em, liều tính theo trọng lượng cơ thể:
Dưới 20kg: 5mg/kg mỗi ngày.
Từ 20 đến 30kg: 3-4 mg/kg mỗi ngày.
Trên 30kg: 2-3 mg/kg mỗi ngày.
Đối với trẻ em dưới 6 tuổi, nghiền nát viên thuốc và trộn với thức ăn trước khi uống để darunavir, lopinavir, indinavir, nelfinavir, saquinavir trong huyết tương.
Người lớn:
2-3mg/kg mỗi ngày.
Uống liều duy nhất hàng ngày trước khi đi ngủ (xem Mục Dược lực học).
4.3. Chống chỉ định:
Quá mẫn với phenobarbital hoặc barbiturat khác hoặc với bất kỳ thành phần nào đó trong công thức điều chế.
suy hô hấp nặng, có khó thở hoặc tắc nghẽn đường thở.
suy thận hoặc suy gan nặng.
Porphyria.
Đang điều trị bằng voriconazol và telaprevir.
Đang dùng thuốc chống trầm cảm.
Chống chỉ định dùng cùng saquinavir vàifosfamid.
Không khuyến khích dùng trong các trường hợp sau đây:
Kết hợp với rượu, aprepitant, bokeprevir, bosentan, dabigatran, dronedaron, fentanyl, ức chế tyrosin kinase, ivacaftor, mianserin, nimodipin, praziquantel, ranolazin, sertralin,
telithromycin, ulipristal, vemurafenib và progestin và thuốc tránh thai kết hợp estrogen- progestogen.
Phụ nữ cho con bú.
4.4 Thận trọng:
Ý tưởng và hành vi tự sát đã được báo cáo ở bệnh nhân được điều trị với các thuốc chống động kinh trong một số chỉ định. Một phân tích tổng hợp các thử nghiệm ngẫu nhiên đối chứng giả dược và thuốc chống động kinh đã cho thấy có một sự tăng nhỏ nguy cơ ý tưởng và hành vi tự tử. Chưa biết cơ chế của nguy cơ này và các dữ liệu có sẵn không loại trừ khả năng nguy cơ tăng là do phenobarbital.
Do đó nên theo dõi các dấu hiệu của ý tưởng tự sát ở bệnh nhân và điều trị thích hợp. Bệnh nhân (và người chăm sóc bệnh nhân) nên tìm kiếm tư vấn, hỗ trợ y tế để kiểm soát khi có ý tưởng hoặc hành vi tự sát.
Hội chứng Steven Johnson và hoại từ biểu bị nhiễm độc: đã có báo bảo về các phản ứng trên da đe dọa tính mạng như hội chứng Stevens Johnson (SJS) và hoại từ biểu bì nhiễm độc (TEN) khi sử dụng phenobarbital. Nên cảnh báo bệnh nhân về những dấu hiệu và triệu chứng và giám sát chặt chẽ các phản ứng trên da. Nguy cơ xuất hiện cao nhất của SJS hoặc TEN là 1 tuần đầu điều trị.
Nếu các triệu chứng hoặc dấu hiệu của SMS hoặc TEN (ví dụ tiến trình nổi mẩn trên da hoặc phồng rộp với các tổn thương niêm mạc) xuất hiện, nên ngưng sử dụng phenobarbital. Việc kiểm soát sJS và TEN cho kết quả tốt nhất khi chẩn đoán sớm và ngưng sử dụng ngay thuốc bị nghi ngờ. Tiên lượng tốt hơn nếu ngừng thuốc sớm hơn.
Không được tái sử dụng phenobarbital ở bệnh nhân đã từng xuất hiện SJS hoặc TEN khi sử dụng phenobarbital.
Nên chăm sóc trong các tình trạng sau:
Suy hô hấp (tránh làm nghiêm trọng tình trạng bệnh).
Bệnh nhân trẻ tuổi, suy nhược hoặc lú lẫn.
Suy thận.
Đang có bệnh gan.
Nên tránh ngừng thuốc đột ngột để tránh xảy ra hội chứng cai nghiện nghiêm trọng (tăng trở lại mất ngủ, lo lắng, run, chóng mặt, buồn nôn, phù hợp và mê sảng)
Viêm đau mạn tính – kích thích nghịch có thể xuất hiện hoặc che lấp các triệu chứng quan trọng.
Điều trị kéo dài có thể dẫn đến sự phụ thuộc Cồn barbiturat. Nên chăm sóc bệnh nhân có tiền sử lạm dụng ma túy hoặc nghiện rượu.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Cần thận trọng khi lái xe hoặc vận hành máy móc do thuốc có thể gây tác dụng không mong muốn buồn ngủ.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: D
US FDA pregnancy category: D
Thời kỳ mang thai:
Phenobarbital qua được nhau thai. Dùng phenobarbital điều trị động kinh ở người mang thai có nguy cơ gây nhiều ảnh hưởng tới thai nhi: gây dị tật bẩm sinh (cao gấp 2 – 3 lần so với người không dùng phenobarbital); xuất huyết; lệ thuộc thuốc. Nguy cơ dị tật bẩm sinh càng cao, nếu thuốc vẫn được dùng mà không cắt được động kinh. Trong trường hợp này, phải cân nhắc giữa lợi và hại, vẫn phải cho tiếp tục dùng thuốc nhưng với liều thấp nhất đến mức có thể để kiểm soát các cơn động kinh. Với người mẹ không bị động kinh dùng phenobarbital trong thời kỳ mang thai thì nguy cơ về dị tật ít thấy, nhưng tai biến xuất huyết và lệ thuộc thuốc ở trẻ sơ sinh còn là vấn đề đáng lo ngại.
Xuất huyết ở trẻ sơ sinh thường liên quan đến thiếu vitamin K vì vậy để phòng ADR này cần bổ sung vitamin K cho mẹ (tiêm 10 – 20 mg/ngày) trong tháng cuối cùng của thai kỳ và cho trẻ sơ sinh (tiêm 1 – 4 mg/ngày trong 1 tuần). Ở trẻ sơ sinh có mẹ đã dùng barbiturat trong suốt ba tháng cuối thai kỳ có thể có hội chứng cai thuốc. Cần theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu suy hô hấp ở trẻ sơ sinh mà mẹ dùng phenobarbital lúc chuyển dạ và nếu cần, phải tiến hành ngay biện pháp điều trị ngộ độc phenobarbital. Trẻ đẻ thiếu tháng rất nhạy cảm với tác dụng ức chế của phenobarbital, nên phải rất thận trọng khi dùng thuốc trong trường hợp dự báo đẻ non.
Thời kỳ cho con bú:
Phenobarbital được bài tiết vào sữa mẹ. Ở trẻ bú mẹ thuốc được thải trừ chậm hơn, gây tích lũy làm nồng độ thuốc trong máu trẻ cao hơn ở người mẹ và gây tác dụng an thần cho trẻ. Phải thật thận trọng khi bắt buộc phải dùng phenobarbital cho người cho con bú. Dặn dò các bà mẹ cho con bú dùng phenobarbital nhất là liều cao phải theo dõi trẻ về tác dụng ức chế của thuốc. Nếu cần, phải theo dõi nồng độ phenobarbital ở trẻ để tránh mức gây độc.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Rối loạn máu và hệ bạch huyết thiếu máu cục bộ (do thiếu folat), bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: chứng nhuyễn xương, còi xương.
Đã có báo cáo về giảm mật độ xương, chứng loãng xương, loãng xương và gẫy xương ở bệnh nhân điều trị dài hạn bằng phenobarbital. Chưa xác định cơ chế phenobarbital ảnh hưởng đến chuyển hóa xương.
Rối loạn tâm thần: phản ứng nghịch kích thích bất thường, ảo giác, bồn chồn và nhầm lẫn ở người cao tuổi, trầm cảm, trí nhớ và suy giảm nhận thức, buồn ngủ, lơ mơ.
Rối loạn hệ thần kinh: hiếu động thái quá, rối loạn hành vi ở trẻ em, chứng thiếu máu, đục thủy tinh thể.
Chứng rối loạn về tim: hạ huyết áp.
Rối loạn hô hấp, trầm cảm hô hấp.
Gan-mật: viêm gan, ứ mật.
Các rối loạn da và mô dưới da: phản ứng dị ứng da (chứng ban đỏ hoặc tinh hồng nhiệt), các phản ứng khác của da như viêm da tróc da, hồng ban đa dạng.
Các phản ứng bất lợi nghiêm trọng trên da (SCAR): Hội chứng Stevens-Johnson (SJS) và hoại tử biểu bì nhiễm độc (TEN) đã được báo cáo (xem phàn Thận trọng).
Rất hiếm gặp:
Các rối loạn chung liên quan đường dùng: hội chứng quá mẫn với thuốc chống động kinh (bao gồm sốt, phát ban, bệnh hạch bạch huyết, tăng lympho bào, tăng bạch cầu ái toan, bất thường và huyết học, gan và các hệ thống liên quan khác bao gồm thận, phổi, có thể đe doạ đến tính mạng).
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Phải giảm liều phenobarbital ở người bệnh cao tuổi, người có tiền sử bệnh gan hay bệnh thận. Nếu tiêm phenobarbital vào tĩnh mạch phải tiêm thật chậm (dưới 60 mg/phút). Tiêm quá nhanh có thể gây ức chế hô hấp. Đường tiêm tĩnh mạch nên dành cho cấp cứu trạng thái động kinh cấp, chỉ nên tiến hành tại bệnh viện và theo dõi thật chặt chẽ bệnh nhân. Khi có bất cứ tác dụng phụ nào phải ngừng dùng phenobarbital ngay.
Do phenobarbital gây cảm ứng enzym chuyển hóa thuốc ở cytochrom P450, nên làm giảm nồng độ trong huyết tương của vitamin D2 và D3 (và cả calci). Dùng kéo dài gây thiếu folat có thể dẫn tới thiếu máu. Vì vậy, người bệnh dùng phenobarbital liều cao, dài ngày phải bổ sung vitamin D (ở trẻ em 1 200 – 2 000 đvqt mỗi ngày) và acid folic để phòng bệnh còi xương, nhuyễn xương và thiếu máu.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Ảnh hưởng trên phenobarbital.
Rượu: uống đồng thời với rượu có thể dẫn đến tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương. Điều này cũng xảy ra tương tự khi uống đồng thời với các thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương khác.
Thuốc chống trầm cảm bao gồm MAOls, SSRIs và ba vòng, có thể vô hiệu hóa tác động chống động kinh của phenobarbital bằng cách hạ thấp ngưỡng co giật.
Thuốc chống động kinh: nồng độ phenobarbital trong huyết tương tăng bởi oxcarbazepin, phenytoin và sodium valproat Vigabatrin có thể làm giảm nồng độ phenobarbital trong huyết tương.
Thuốc chống loạn thần: sử dụng đồng thời chlorpromazin và thioridazin với phenobarbital có thể làm giảm nồng độ trong huyết thanh của các thuốc này.
Acid folic: nếu phải bổ sung acid folic để điều trị thiếu hụt folat, khi đang sử dụng phenobarbital, có thể làm giảm nồng độ phenobarbital trong huyết thanh, dẫn đến giảm kiểm soát cơn động kinh ở một số bệnh nhân.
Memantin; Có thể làm giảm tác dụng của phenobarbital.
Methylphenidat: Cả thể làm tăng nồng độ phenobarbital trong huyết tương.
St John’s wort (Hypericum perforatum): Có thể làm giảm tác dụng phenobarbital khi sử dụng đồng thời với phương thuốc thảo dượcSt John’s wort.
Ảnh hưởng của phenobarbital trên các thuốc khác:
Phenobarbital làm tăng tỷ lệ chuyển hóa dẫn đến giảm nồng độ trong huyết thanh của các thuốc sau đây:
Thuốc chống loạn nhịp tim: Có thể làm mất kiểm soát nhịp tim của disopyramid và quinidin. Nên theo dõi nồng độ trong huyết thanh của các thuốc chống loạn nhịp nếu bổ sung hay ngừng sử dụng phenobarbital. Có thể phải thay đổi liều lượng nếu cần.
Thuốc kháng khuẩn như chloramphenicol, doxycyclin, metronidazol và rifampicin. Tránh sử dụng đồng thời telithromycin trong khi đang dùng và 2 tuần sau khi dùng phenobarbital.
Thuốc chống đông máu.
Thuốc chống trầm cảm như paroxetin, mianserin và thuốc chống trầm cảm ba vòng.
Thuốc chống động kinh nhu carbamazepin, amotrigin, tiagabin, zonisamid, primidon và có thể gồm ethosuxamid.
Thuốc kháng nấm – hiệu quả kháng nấm của griseofulvin có thể bị giảm hoặc thậm chí không còn khi sử dụng đồng thời, Phenobarbital có thể làm giảm nồng độ itraconazol hoặc posaconazol trong huyết tương. Tránh dùng đồng thời với voriconazol.
Thuốc chống rối loạn tâm thần: phenobarbital có thể làm giảm nồng độ aripiprazol.
Thuốc kháng siêu vi: phenobarbital có thể làm giảm nồng độ abacavir, amprenavir, darunavir, lopinavir, indinavir, nelfinavir, saquinavir trong huyết tương.
Thuốc chống lo âu và thuốc ngủ – clonazepam.
Aprepitant: phenobarbital có thể làm giảm nồng độ aprepitant trong huyết tương.
Thuốc chẹn beta như metoprolol, timolol và có thể gồm propranolol.
Thuốc chẹn kênh calci: phenobarbital gây giảm lượng felodipin, isradipin, diltiazem, verapamil, nimodipin và nifedipin và có thể cần phải tăng liều.
Glycosid đường huyết: lượng digitoxin trong máu có thể bị giảm một nửa khi sử dụng đồng thời.
Ciclosporin hoặc tacrolimus.
Corticosteroid.
Thuốc gây độc tế bào: phenobarbital có thể làm giảm nồng độ etoposid hoặc irinotecan trong huyết tương.
Thuốc lợi tiểu: tránh sử dụng đồng thời với eplerenon.
Haloperidol: nồng độ trong huyết thanh bị giảm khoảng một nửa khi sử dụng đồng thời với phenobarbital.
Thuốc kháng hormon như gestrinon và có thể gồm toremifen.
Nồng độ methadon Có thể giảm khi sử dụng đồng thời với phenobarbital và đã có báo cáo về triệu chứng cai nghiện ở những bệnh nhân đang sử dụng methadon mà phải bổ sung phenobarbital. Có thể là cần phải tăng liều methadon.
Montelukast.
Oestrogens: làm giảm tác dụng ngừa thai.
Progestogens: làm giảm tác dụng ngừa thai.
Natri oxybat: tăng cường tác, nên tránh sử dụng đồng thời,
Theophyllin: có thể cần tăng liều theophylin.
Hoóc môn tuyến giáp: Có thể làm tăng nhu cầu về hóc môn tuyến giáp ở người suy giáp.
Tibolon
Tropisetron.
Vitamin: barbiturates có thể làm tăng nhu cầu vitamin D.
4.9 Quá liều và xử trí:
Liều gây độc của các barbiturat rất dao động. Nói chung, phản ứng nặng xảy ra khi dùng liều cao gấp 10 lần liều thường dùng gây ngủ. Tử vong thường xảy ra khi nồng độ phenobarbital trong máu cao hơn 80 microgam/ml.
Khi dùng quá liều, phenobarbital gây ức chế hệ thần kinh trung ương từ mức ngủ đến hôn mê sâu rồi tử vong; hô hấp bị ức chế có thể đến mức có nhịp thở Cheyne-Stokes, giảm thông khí trung tâm, tím tái; giảm thân nhiệt, mất phản xạ, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp, tiểu tiện ít. Người bệnh bị quá liều nặng thường có hội chứng sốc điển hình: Thở chậm, trụy mạch, ngừng hô hấp và có thể tử vong. Các biến chứng nặng có thể gây tử vong gồm viêm phổi, phù phổi, suy thận. Ngoài ra có thể gặp các biến chứng khác như suy tim sung huyết, loạn nhịp tim, nhiễm khuẩn đường tiết niệu.
Xử trí
Nếu bệnh nhân mới dùng thuốc trong vòng 1 giờ, có thể rửa dạ dày. Dùng nhiều liều than hoạt đưa vào dạ dày qua ống thông đường mũi là cách điều trị được ưa dùng nhất trong cấp cứu ngộ độc phenobarbital. Than hoạt giúp ngăn cản sự hấp thu và hỗ trợ thải trừ thuốc. Cần chú ý không để người bệnh hít vào phổi các chất chứa trong dạ dày.
Điều trị quá liều phenobarbital chủ yếu là điều trị hỗ trợ làm giảm nhẹ triệu chứng: quan trọng nhất là làm thông thoáng đường thở, duy trì chức năng hô hấp, tim mạch, thận và cân bằng điện giải. Nếu người bệnh có chức năng thận bình thường có thể gây lợi niệu và kiềm hóa nước tiểu để làm tăng thải trừ phenobarbital qua thận. Nếu người bệnh bị ngộ độc nặng, vô niệu hay bị sốc thì nên thẩm phân màng bụng hay lọc máu thận nhân tạo.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Mã ATC: N03AA02
Nhóm dược lý: Thuốc hướng tâm thần.
Phenobarbital là thuốc chống co giật thuộc dẫn xuất của acid barbituric. Phenobarbital và các barbiturat khác có tác dụng tăng cường tác dụng ức chế synap của acid gama aminobutyric (GABA) ở não gây ức chế thần kinh trung ương; điều này cho thấy các thuốc này có những điểm tương đồng với các benzodiazepin. Tuy nhiên, các barbiturat khác với các benzodiazepin ở tính chọn lọc kém hơn; với các barbiturat, ngoài tác dụng ức chế chọn lọc lên synap, chỉ cần tăng liều nhẹ cũng gây ức chế không chọn lọc. Phenobarbital và các barbiturat khác làm giảm sử dụng oxygen ở não trong lúc gây mê, có lẽ chủ yếu thông qua việc ức chế hoạt động của neuron. Các tác dụng này là cơ sở của việc sử dụng các barbiturat để đề phòng nhồi máu não khi não bị thiếu máu cục bộ và khi có tổn thương sọ não.
Các barbiturat ức chế có hồi phục hoạt động của tất cả các mô. Tuy vậy, với cùng một nồng độ trong huyết tương hay với các liều tương đương, không phải tất cả các mô đều bị ảnh hưởng như nhau. Hệ thần kinh trung ương nhạy cảm với các barbiturat hơn rất nhiều; liều thuốc gây ngủ và an thần có tác dụng không đáng kể lên cơ xương, cơ tim và cơ trơn. Phenobarbital ức chế hệ thần kinh trung ương ở mọi mức độ từ an thần đến gây mê. Thuốc chỉ ức chế tạm thời các đáp ứng đơn synap ở hệ thần kinh trung ương, nhưng sự hồi phục của synap bị chậm lại và có sự giảm trở kháng sau synap ở một số synap, các đáp ứng đa synap bị ảnh hưởng nhiều hơn; điều này giải thích vì sao tác dụng chống co giật và tác dụng ức chế của thuốc lại kéo dài.
Phenobarbital chủ yếu được dùng để chống co giật, tuy vậy thuốc vẫn còn phần nào được dùng để điều trị hội chứng cai rượu. Tác dụng chống co giật của thuốc tương đối không chọn lọc; thuốc hạn chế cơn động kinh lan tỏa và làm tăng ngưỡng động kinh. Thuốc chủ yếu được chỉ định trong cơn động kinh toàn bộ (cơn lớn) và động kinh cục bộ (cục bộ vận động hoặc cảm giác).
Phenobarbital làm giảm nồng độ bilirubin huyết ở trẻ sơ sinh, ở người bệnh tăng bilirubin huyết không liên hợp, không tan huyết bẩm sinh và ở người bệnh ứ mật trong gan, do cảm ứng glucuronyl transferase, một enzym liên hợp bilirubin.
Cơ chế tác dụng:
Phénobarbital là thuốc chống co giật thuộc dẫn xuất của acid barbituric. Phénobarbital và các barbiturat khác có tác dụng tăng cường tác dụng ức chế synap của acid gama aminobutyric (GABA) ở não gây ức chế thần kinh trung ương; điều này cho thấy các thuốc này có những điểm tương đồng với các benzodiazepin. Tuy nhiên, các barbiturat khác với các benzodiazepin ở tính chọn lọc kém hơn; với các barbiturat, ngoài tác dụng ức chế chọn lọc lên synap, chỉ cần tăng liều nhẹ cũng gây ức chế không chọn lọc. Phenobarbital và các barbiturat khác làm giảm sử dụng oxygen ở não trong lúc gây mê, có lẽ chủ yếu thông qua việc ức chế hoạt động của nơron. Các tác dụng này là cơ sở của việc sử dụng các barbiturat để đề phòng nhồi máu não khi não bị thiếu máu cục bộ và khi có tổn thương sọ não.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Phenobarbital uống được hấp thu chậm ở ống tiêu hóa (70 – 90%). Thuốc liên kết với protein huyết tương (ở trẻ nhỏ 60%, người lớn 50%) và được phân bố khắp các mô, nhất là ở não, do thuốc dễ tan trong lipid. Thể tích phân bố là 0,5 – 1 lít/kg. Phenobarbital có nửa đời thải trừ trong huyết tương dài (2 – 6 ngày) và thay đổi theo tuổi: Trẻ em từ 1 đến 10 tuổi đào thải phenobarbital nhanh hơn nhiều so với người lớn (40 – 50 giờ ở trẻ em; 84 – 160 giờ ở người lớn), còn ở người bệnh bị suy gan hoặc suy thận thường dài hơn rất nhiều. Vì vậy phải sau 15 – 21 ngày dùng thuốc mới đạt được trạng thái cân bằng trong huyết tương.
Phenobarbital được hydroxyl hóa và liên hợp ở gan. Thuốc đào thải chủ yếu theo nước tiểu dưới dạng các chất chuyển hóa không có hoạt tính (70%) và dạng thuốc nguyên vẹn (30%); một phần nhỏ vào mật và đào thải theo phân. Phenobarbital là chất cảm ứng cytochrom P450 mạnh nên có ảnh hưởng đến chuyển hóa của các thuốc được chuyển hóa ở gan thông qua cytochrom P450.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược: Tinh bột sắn, natri lauryl sulfat, bột talc, magnesi stearat, PVP K30, phẩm màu erythrosin.
6.2. Tương kỵ :
Chưa có thông tin.
6.3. Bảo quản:
Để thuốc nơi khô, thoáng, tránh ánh sáng, nhiệt độ 15 độ C – 30 độ C.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
HDSD Thuốc Phenobarbital 0,1 g do Công ty cổ phần Dược Phẩm trung ương Vidipha sản xuất (2018).
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM