Paclitaxel – Tipakwell

Thuốc Tipakwell là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Tipakwell (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Paclitaxel

Phân loại: Thuốc chống ung thư, thuộc nhóm taxan.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01CD01.

Biệt dược gốc: Anzatax

Biệt dược: Tipakwell

Hãng sản xuất : Getwell Pharmaceuticals

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch đậm đặc để pha dịch truyền

Paclitaxel 30mg/5ml

Paclitaxel 100mg/17ml

Paclitaxel 260mg/43.4ml.

Thuốc tham khảo:

TIPAKWELL-260MG/43.4ML
Mỗi lọ dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền có chứa:
Paclitaxel …………………………. 260 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

TIPAKWELL-100MG/17ML
Mỗi lọ dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền có chứa:
Paclitaxel …………………………. 100 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

TIPAKWELL-30MG/5ML
Mỗi lọ dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền có chứa:
Paclitaxel …………………………. 30 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Ung thư buồng trứng:

Trị liệu đầu tay ung thư buồng trứng tiến triển hoặc bướu tồn lưu (1 cm) sau phẫu thuật, dùng phối hợp với cisplatin.

Lựa chọn hàng thứ hai, ung thư biểu mô buồng trứng tiến triển, sau khi thất bại với phương pháp điều trị cổ điển bằng các dẫn xuất của platin.

Ung thư vú:

Trong điều trị ung thư vú di căn đã thất bại sau một đợt hóa trị – hoặc tái phát sau khi điều trị hỗ trợ. Thường các điều trị trước đó có chứa anthracyclin, trừ khi nào có chống chỉ định.

Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ:

Paclitaxel dùng chung với cisplatin, được chỉ định đầu tay để điều trị bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, ở giai đoạn không thể phẫu thuật và/hoặc xạ trị được.

Ngoài ra, Paclitaxel còn dùng để điều trị Ung thư Kaposi có liên quan dén bénh AIDS.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Truyền tĩnh mạch.

Chuẩn bị dung dịch Paclitaxel tiêm truyền:

Như với tất cả các thuốc chống ung thư, phải thận trọng khi thao tác với Paclitaxel. Người pha thuốc phải có kinh nghiệm và phải pha thuốc ở nơi qui định. Khi thao tác phải mang găng tay và tránh không để thuốc tiếp xúc với da hay niêm mạc. Nếu thuốc vấy vào da thì phải rửa ngay với nước và xà phòng.

Nếu thuốc vấy vào niêm mạc thì phải rửa với nhiều nước. Có thể bị nóng rát và đỏ tại nơi thuốc vấy vào và giảm khi rửa với nước. Nếu lỡ hít thuốc vào sẽ có cảm giác khó thở, đau ngực, nóng rát ở họng và buôn nôn.

Phải pha loãng Paclitaxel trước khi truyền bằng những kỹ thuật đảm bảo vô trùng.

Có thể pha Paclitaxel trong các dung môi: dung dịch NaCl 0,9%, dung dịch glucose 5%, hỗn hợp (glucose 5% và NaCl 0,9%) hoặc hỗn hợp (glucose 5% và dung dịch Ringer).

Dung môi phải được pha với thể tích đủ để đạt được nồng độ cuối cùng của Paclitaxel từ 0,3 đến 1,2 mg/ml. Sau khi pha, các dung dịch có thể sử dụng được trong vòng 27 giờ, ở nhiệt độ phòng có kiểm soát (xấp xỉ 25 độ C). Dung dịch sau khi pha loãng không được để trong tủ lạnh.

Một số hiếm trường hợp thấy có cặn lắng trong quá trình truyền Paclitaxel, thường vào cuối giai đoạn truyền trong 24 giờ. Mặc dầu nguyên nhân gây ra hiện tượng này chưa được sáng tỏ, rất có thể là do hiện tượng quá bão hòa dung dịch. Để làm giảm nguy cơ này, phải sử dụng Paclitaxel càng sớm càng tốt sau khi pha và trong quá trình truyền tránh làm lắc hay rung chai dịch truyền. Phải quan sát kỹ chai dịch truyền trong thời gian truyền và phải ngưng truyền nếu thấy xuất hiện cặn lắng.

Sau khi pha, dung dịch có thể hơi bị đục do thành phần tá dược, không thể lọc được.

Paclitaxel phải được truyền nhờ vào một bộ phận lắp ống nối với một màng vi lọc có đường kính nhỏ hơn 0,22 mcm. Không thấy thuốc bị giảm tác dụng khi truyền bằng bộ truyền có lắp màng lọc.

Các túi hoặc bộ phận lắp ống có chất liệu bằng PVC có thể giải phóng chất di-(2-ethylhexyl)-phtalate (DEHP) khi tiếp xúc Paclitaxel. Để tránh hiện tượng này, không được bảo quản dung dịch Paclitaxel trong các dụng cụ bằng PVC, mà phải dùng chai bằng thủy tỉnh hoặc polypropylene hoặc túi bằng polypropylene hoặc polyolefne, và khi truyền phải dùng hệ thống truyền dịch được tráng một lớp polyethylene. Việc nối màng lọc bằng PVC ở đầu vô hay đầu ra của bộ phận lắp ống không làm giải phóng đáng kể DEHP.

Hủy rác: tất cả các vật liệu tiếp xúc với Paclitaxel phải được hủy ở bệnh viện theo qui định đối với những loại rác độc với tế bào.

Liều dùng:

Để tránh các phản ứng quá mẫn trầm trọng, tất cả các bệnh nhân phải được sử dụng Dexamethasone 20 mg (10 mg cho bệnh nhân HIV) theo đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch khoảng 12 giờ và 6 giờ trước khi dùng Paclitaxel, Diphenhydramin 50 mg tiêm tĩnh mạch từ đến 60 phút, và Cimetidin (300 mg) hoặc Ranitidin (50 mg) tiêm tĩnh mạch từ 30 đến 60 phút trước khi dùng Paclitaxel.

Ung thư buồng trứng:

Trong khi một số phác đồ điều trị khác đang được đánh giá, phác đồ được khuyến cáo là phối hợp Paclitaxel 135 mg/m2, trong 24 giờ, sau đó ding cisplatin 75 mg/m2, với khoảng cách là 3 tuần giữa 2 đợt điều trị.

Ung thư vú:

Liều Paclitaxel được khuyến cáo là 175 mg/m2, trong 3 giờ, với khoảng cách là 3 tuần giữa 2 đợt điều trị. Sau lần dùng Paclitaxel đầu, các liều sau đó nên được điều chỉnh tùy theo mức độ dung nạp

Điều trị cho bệnh nhân ung thư Kaposi có liên quan đến bệnh AIDS:

Liều Paclitaxel được khuyến cáo là 100 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, lặp lại sau mỗi 2 tuần.

Chỉ dùng Paclitaxel khi: số lượng bạch cầu trung tính > 1.500/mm3 (> 1.000/mm3 ở bệnh nhân ung thư Kaposi có liên quan đến bệnh AIDS) và số lượng tiểu cầu > 100.000/mm3 (> 75.000/mm3 ở bệnh nhân ung thư Kaposi có liên quan đến bệnh AIDS). Những bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính nặng (số lượng bạch cầu trung tính < 500/mn3 trong 7 ngày hoặc lâu hơn) hoặc bị bệnh lý thần kinh ngoại biên nặng, liều phải được giảm 20% trong các lần điều trị tiếp theo.

Bệnh nhân suy gan: Không đủ dữ liệu có sẵn để khuyên nên thay đổi liều dùng ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình. Bệnh nhân suy gan nặng không nên điều trị bằng Paclitaxel.

4.3. Chống chỉ định:

Bệnh nhân quá mẫn cảm Paclitaxel hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc đặc biệt là mẫn cảm với dầu cremophor EL.

Bệnh nhân có mức bạch cầu trung tính dưới 500/mm3

Bạch cầu trung tính dưới 1.000/mm3 ở bệnh nhân AIDS Phụ nữ có thai và cho con bú.

4.4 Thận trọng:

Việc điều trị bằng Paclitaxel phải do một bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm quyết định. Do có thể xảy ra phản ứng quá mẫn cảm nặng, cần phải trang bị những phương tiện cấp cứu thích hợp. Bệnh nhân phải được cho dùng một thuốc thuộc nhóm corticọde, kháng histamine và đối kháng thụ thể H2 trước khi dùng Paclitaxel (xem thêm phần Liều lượng các Cách dùng).

Paclitaxel phải được cho dùng trước cisplatine trong trường hợp dùng phối hợp.

Các phản ứng dị ứng nặng, được đặc trưng bằng chứng khó thở và tụt huyết áp đến mức cần phải được điếu trị, phù mạch và mề đay toàn thân, đã được ghi nhận trên 1% những bệnh nhân được điều trị bằng Paclitaxel mặc dầu trước đó đã có dùng những thuốc dự phòng (corticọde, kháng histamine và đối kháng thụ thể H2). Các phản ứng xảy ra có liên quan đến sự phóng thích histamine.

Trường hợp xảy ra phản ứng quá mẫn cảm nặng, cần phải ngưng truyền ngay, điều trị triệu chứng và không dùng trở lại Paclitaxel cho bệnh nhân này.

Chứng suy tủy (chủ yếu là giảm bạch cầu trung tính) là một độc tính của thuốc (giới hạn liều dùng). Cần phải thường xuyên kiểm tra công thức máu trong thời gian điều trị với Paclitaxel . Một đợt điều trị mới bằng Paclitaxel chỉ được thực hiện khi mà số lượng bạch cầu trung tính phải ≥ 1.500 /mm3 và số lượng tiểu cầu phải ≥ 100.000/mm3.

Các rối loạn nặng về dẫn truyền ở tim cũng đã được ghi nhận. Nếu có rối loạn dẫn truyền của tim trong thời gian dùng Paclitaxel , phải dùng một biện pháp điều trị thích hợp và theo dõi điện tim của bệnh nhân trong suốt thời gian điều trị bằng Paclitaxel . Có thể xảy ra hạ huyết áp, tăng huyết áp, chậm nhịp tim nhưng không biểu hiện bằng triệu chứng. Nên thường xuyên theo dõi các chức năng sinh tồn trong thời gian truyền Paclitaxel , nhất là trong giờ đầu tiên.

Không khuyến cáo dùng Paclitaxel ở những bệnh nhân bị suy gan nặng.

Do trong thành phần của Paclitaxel có chứa 396 mg ethanol tuyệt đối/ml, cũng nên lưu ý đến những tác dụng trên thần kinh trung ương có thể xảy ra.

Không dùng Paclitaxel bằng cách tiêm động mạch do đã ghi nhận có những phản ứng nặng trên mô trong những thử nghiệm trên động vật về khả năng dung nạp tại chỗ.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Thuốc có chứa cồn, do đó có thể làm giảm khả năng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: D

Thời kỳ mang thai:

Theo nguyên tắc chung, không được dùng hóa trị liệu để điều trị ung thư trong khi mang thai, nhất là trong 3 tháng đầu. Cần phải cân nhắc thật kỹ giữa nguy cơ đối với thai nhi và lợi ích cũng như nguy cơ đối với người mẹ. Paclitaxel độc đối với phôi và bào thai, và làm giảm khả năng sinh sản của chuột cống.

Thời kỳ cho con bú:

Chưa rõ nồng độ paclitaxel trong sữa mẹ. Do đó tránh dùng paclitaxel khi đang cho con bú hoặc phải ngừng nuôi con bằng sữa mẹ.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Các tác dụng có hại phô biến nhất khi điều trị với Paclitaxel bao gồm suy tủy trầm trọng, giảm bạch cầu trung tính và thiếu máu trầm trọng có hoặc không có các dấu hiệu nhiễm trùng như sốt hoặc ớn lạnh, ho hoặc khàn giọng, đau cạnh sườn hoặc dưới thắt lưng, tiểu khó hoặc đau; bệnh thần kinh ngoại biên nặng nhưng hiếm khi xảy ra bao gồm liệt nhẹ, phản ứng quá mẫn kèm theo khó thở, hạ huyết áp và phù mạch.

Các phản ứng có hại khác bao gồm rụng tóc, đau khớp và đau cơ, kích thích dạ dày ruột bao gồm buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đa tiết chất nhờn, tắc ruột; lên cơn động kinh, bệnh về nhịp tim chậm, rối loạn dẫn truyền tim, đau ngực; chứng đỏ bừng; ban da; phản ứng ở chỗ tiêm; loạn dưỡng móng; hoại tử gan và tăng men gan. Thoát mạch có thể dẫn tới phá hủy mô.

Các ảnh hưởng khác: Paclitaxel làm tăng ảnh hưởng độc hại của chiếu xạ ion in Vitro và Vivo.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Tất cả phương tiện và thuốc men cần thiết cho cấp cứu hồi sức (adrenalin, corticoid, oxygen, dịch truyền, máy trợ tim – hô hấp…) cần phải sẵn sàng.

Trong trường hợp có bệnh thần kinh gây rối loạn vận động thì phải ngừng thuốc, hoặc có thể giảm liều 20%.

Có thể tiếp tục dùng thuốc cho người bệnh bị blốc nhĩ – thất cấp I và phải theo dõi điện tâm đồ. ở người bệnh có rối loạn dẫn truyền nặng hơn thì phải ngừng dùng paclitaxel và cần điều trị trợ tim thích hợp.

Ở bệnh nhân có triệu chứng mẫn cảm nghiêm trọng với paclitaxel, dừng tiêm truyền thuốc kết hợp với các biện pháp điều trị triệu chứng tích cực. Các biện pháp này thường bao gồm sử dụng epinephrin, kháng histamin hay corticosteroid trong trường hợp cần thiết.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Tương tác với các thuốc khác

Không được sử dụng Paclitaxel đồng thời với xạ trị do làm tăng nguy cơ suy tủy.

Điều trị với Cisplatin có thể làm giảm độ thanh thải của Paclitaxel, dẫn đến tăng độc tính đặc biệt là tăng nguy cơ suy tủy. Do đó khi dùng phối hợp 2 thuốc, Paclitaxel phải được dùng trước. Nồng độ huyết tương của Doxorubicin có thể tăng lên khi sử dụng phối hợp với Paclitaxel.

Paclitaxel phải được sử dụng thận trọng trên các bệnh nhân đang điều trị với Ketoconazol do Ketoconazol ức chế chuyển hóa Paclitaxel dẫn đến tích lũy thuốc.

Với các xét nghiệm:

Điều trị với Paclitaxel có thể gây tăng thoáng qua mức Phosphataza kiềm, Aspartate Aminotransferase và Bilirubin trong huyết thanh. Do đó khi tiến hành các xét nghiệm cần lưu ý đến các ảnh hưởng này.

4.9 Quá liều và xử trí:

Các triệu chứng của quá liều bao gồm suy tủy, nhiễm độc thần kinh ngoại biên và tăng tiết chất nhầy. Ngoài việc điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ, không có liệu pháp đặc hiệu cho sử dụng quá liều Paclitaxel.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Paclitaxel, hoạt chất có trong vỏ cây thông đỏ Taxux brevifolia, là một thuốc chống ung thư. Paclitaxel làm tăng quá trình trùng hợp các dime tubulin tạo thành các vi quản và làm ổn định các vi quản do ức chế quá trình giải trùng hợp. Sự ổn định này ức chế sự tổ chức lại bình thường của mạng vi quản rất quan trọng ở gian kỳ của quá trình phân bào giảm nhiễm, và cả với hoạt động của ty lạp thể. Paclitaxel cũng gây tạo thành các cấu trúc bất thường trong các vi quản trong quá trình phân bào. Tuy chưa được nghiên cứu kỹ nhưng do cơ chế tác dụng của nó, paclitaxel phải được coi là chất gây ung thư và độc đối với gen. Các thử nghiệm in vivo và in vitro cho thấy paclitaxel có tác dụng gây đột biến gen trên tế bào động vật có vú.

Cơ chế tác dụng:

Paclitaxel làm tăng quá trình trùng hợp các dime tubulin tạo thành các ống vi thể và làm ổn định các ống vi thể sẵn có do ức chế quá trình giải trùng hợp. Do đó, ức chế sự tái cấu trúc bình thường của mạng ống vi thể rất quan trọng ở gian kỳ của quá trình phân bào và cả với hoạt động của ty lạp thể. Paclitaxel cũng gây tạo thành các cấu trúc bất thường trong các ống vi thể trong quá trình phân bào, kết quả là phá vỡ các nhiễm sắc thể. Tuy chưa được nghiên cứu kỹ nhưng do cơ chế tác dụng của nó, paclitaxel được coi là chất gây ung thư và độc đối với gen. Paclitaxel có thể ức chế sự tăng sinh tế bào và điều hòa đáp ứng miễn dịch.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Nồng độ thuốc trong huyết tương tỷ lệ thuận với liều được truyền vào tĩnh mạch và giảm theo đồ thị có 2 pha. Tỷ lệ gắn với protein là 89% (in vitro) và không bị thay đổi khi dùng cùng với cimetidin, ranitidin, dexamethason, hoặc diphenhydramin. Ở giai đoạn ổn định, thể tích phân bố là 5 – 6 lít/kg thể trọng (68 – 162 ml/m2), cho thấy thuốc khuếch tán nhiều ra ngoài mạch và/hoặc gắn nhiều với các thành phần của mô. Người ta còn chưa biết rõ hoàn toàn sự phân bố và chuyển hóa thuốc trong cơ thể. Nửa đời trong huyết thanh là 6 – 13 giờ. Sau khi truyền tĩnh mạch, có khoảng 2 – 13% lượng thuốc được thải qua nước tiểu dưới dạng ban đầu, như vậy là ngoài thận còn có những đường đào thải khác. Trên động vật thí nghiệm, paclitaxel được chuyển hóa tại gan. Ðộ thanh thải dao động từ 0,3 đến 0,8 lít/giờ/kg (hay 6,0 – 15,6 lít/giờ/ m2).

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Polyoxyl 35 castor oil, cồn tuyệt đối.

6.2. Tương kỵ :

Do trong thành phần tá dược của thuốc có chứa huile de ricin polyoxyethylene, không nên pha loãng, bảo quản hay chứa thuốc trong các dụng cụ plastic loại PVC (vì có thể phóng thích DEHP).

6.3. Bảo quản:

Lọ thuốc chưa mở nắp phải được bảo quản trong chính bao bì của nó ở nhiệt độ dưới 30 độ C, tránh ánh sáng.

Nếu bảo quản thuốc chưa pha loãng trong tủ lạnh thì có thể bị tủa. Nếu đưa lọ thuốc có tủa ra nhiệt độ phòng mà tủa tan dù có hay không lắc thì chất lượng thuốc vẫn tốt. Nếu thuốc vẫn đục hay có tủa thì phải loại bỏ.

Để thuốc vào tủ đông lạnh không làm ảnh hưởng đến chất lượng thuốc.

Dung dịch sau khi pha bảo quản ở nhiệt độ phòng có kiểm soát (xấp xỉ 25 độ C), không được để trong tủ lạnh.

Dung dịch sau khi pha có thể bảo quản trong vòng 27 giờ, ở nhiệt độ phòng có kiểm soát (xấp xỉ 25 độ C)

Dung dịch sau khi pha loãng không được đề trong tủ lạnh.

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin.

6.5 Tài liệu tham khảo:

HDSD Thuốc Tipakwell-260mg/43.4ml do M/s Getwell Pharmaceuticals sản xuất (2013).

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM