Paclitaxel – Paclitaxel Servycal/Plaxel/Paclirich/Panataxel

Thuốc Paclitaxel Servycal, Plaxel, Paclirich, Panataxel là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Paclitaxel Servycal, Plaxel, Paclirich, Panataxel (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Paclitaxel

Phân loại: Thuốc chống ung thư, thuộc nhóm taxan.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01CD01.

Biệt dược gốc: Anzatax

Biệt dược: Paclitaxel Servycal, Plaxel, Paclirich, Panataxel

Hãng sản xuất : Laboratorios IMA S.A.I.C.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch pha tiêm truyền tĩnh mạch 30mg/5ml; 100mg/16,7ml; 150mg/25ml; 250mg/41,67ml; 300mg/50ml.

Thuốc tham khảo:

PACLIRICH 30mg/5ml
Mỗi ml dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền có chứa:
Paclitaxel …………………………. 6 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

PANATAXEL 150mg
Mỗi 25ml dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền có chứa:
Paclitaxel …………………………. 150 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

PANATAXEL 300mg
Mỗi 50ml dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền có chứa:
Paclitaxel …………………………. 300 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

PANATAXEL 100mg
Mỗi 16.7ml dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền có chứa:
Paclitaxel …………………………. 100 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

PLAXEL 100
Mỗi 16.7ml dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền có chứa:
Paclitaxel …………………………. 100 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

PLAXEL 30
Mỗi 5ml dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền có chứa:
Paclitaxel …………………………. 30 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Paclitaxel được sử dụng kết hợp với cisplatin hoặc carboplatin trong điều trị hàng đầu và hàng thứ hai cho ung thư buồng trứng giai đoạn tiến xa.

Trong điều trị ung thư vú có hạch dương tính, paclitaxel được sử dụng điều trị bổ trợ chủ yếu sau hóa trị liệu với anthracyclin. Trong điều trị ung thư vú giai đoạn tại chỗ tiến xa hoặc giai đoạn di căn, paclitaxel kết hợp với anthracyclin được sử dụng như điều trị hàng đầu, hoặc sử dụng như đơn trị liệu hàng thứ hai sau khi thất bại với điều trị bằng anthracyclin. Sử dụng paclitaxel kết hợp với trastuzumab như điều trị khởi đầu cho những bệnh nhân bị ung thư vú di căn mà có biểu hiện thụ thể HER2.

Paclitaxel được sử dụng kết hợp với cisplatin để điều trị hàng đầu trong ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Đường dùng: truyền tĩnh mạch.

Tất cả bệnh nhân phải được điều trị trước để tránh các phản ứng quá mẫn.

Thận trọng khi chuẩn bị tiêm truyền:

Vì đây là thuốc gây độc tế bào, phải thao tác pha một cách rất thận trọng. Phải dùng găng tay cao su khi pha. Nếu da tiếp xúc với dung dịch thuốc, phải rửa ngay với nước và xà phòng. Nếu niêm mạc tiếp xúc thuốc, phải rửa với nhiều nước.

Khi pha thuốc, phải tránh sự tiếp xúc của dung dịch thuốc đậm đặc chưa pha loãng với dụng cụ làm bằng PVC (polyvinyl clorid).

Đề giảm thiểu việc bệnh nhân bị phơi nhiễm với chất làm dẻo DEHP (di-(2-ethylhexil) phthalat) có thể thoát ra từ túi đựng dung dịch tiêm truyền bằng PVC, dung dịch thuốc pha loãng phải được bảo quản trong chai thủy tinh hoặc polyethylen và phải dùng qua một đường truyền bằng polyethylen.

Dung dịch paclitaxel cần được truyền qua màng lọc không lớn hơn 0,22 micron.

Chuẩn bị tiêm truyền:

Phải pha loãng dung dịch paclitaxel trước khi dùng. Phải pha loãng thuốc trong dung dịch natri clorid 0,9%, dextrose 5%, hỗn hợp dextrose 5% trong Ringer, để được nồng độ cuối cùng từ 0,3-1,2mg/ml.

Phải kiểm tra sản phẩm không được có hạt vẫn và bị biến màu trước khi dùng.

Sau khi pha dung dịch có thể có tình trạng đục mờ gây ra bởi dung môi dùng để pha.

Liều dùng:

Việc điều trị trước bao gồm dexamethason 20mg/ngày, uống 6 và 12 giờ trước khi dùng paclitaxel, diphenhydramin (hoặc tương đương) 50mg tiêm tĩnh mạch 30-60 phút trước khi dùng paclitaxel; và cimetidin (300mg) hoặc ranitidin (50mg) tiêm tĩnh mạch 30-60 phút trước khi dùng paclitaxel.

Không được dùng paclitaxel trước khi số lượng bạch cầu trung tính đạt được ít nhất 1.500 tế bảo/mm3 và số lượng tiểu cầu đạt được ít nhất 100.000 tế bao/mm3, Những bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính nặng hoặc bệnh thần kinh ngoại biên phải dùng liều giảm bớt 20% trong các chu kỳ tiếp theo.

Ung thư buồng trứng giai đoạn tiến xa: Liều khuyến cáo chotrị liệu hàng đầu là 135 mg/m2 truyền trong 24 giờ, sau đó điều trị với cisplatin, và nhắc lại mỗi 3 tuần. Hoặc có thể dùng liều 175 mg/m2 truyền trong 3 giờ, sau đó điều trị vớicisplatin, mỗi 3 tuần. Trong điều trị hàng thứ hai, liều khuyến cáo cho đơn trị liệu là 135 hoặc 175 mg/m2 truyén trong 3 giờ, nhắc lại mỗi 3 tuần.

Ung thư vú: khuyến cáo dùng paclitaxel 175 mg/m2 truyền trong 3 giờ, mỗi 3 tuần để điều trị bổ trợ (với 4 đợt điều trị) trong đơn trị liệu hàng thứ hai; và trong trị liệu hàng đầu kết hợp với trastuzumab, paclitaxel được dùng vào ngày kế tiếp sau khi dùng trastuzumab hoặc dùng ngay sau khi dùng trastuzumab nếu dung nạp tốt. Trong trị liệu hàng đầu kết hợp với doxorubicin, paclitaxel 220 mg/m2 được truyền trong 3 giờ, mỗi 3 tuần, liều này được cho 24 giờ sau khi dùng doxorubicin.

Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ: liều khuyến cáo là dùng paclitaxel 135 mg/m2 truyền trong 24 giờ hoặc 175 mg/m2 truyền trong 3 giờ, sau đó dùng cisplatin, và nhắc lại mỗi 3 tuần.

4.3. Chống chỉ định:

Bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với thuốc hoặc với các thành phần của thuốc bao gồm cremophor ELP trong công thức (dầu thầu dầu polyoxyethyl hóa).

Bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính (dưới 1.500 tế bào/mm³).

Phụ nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú.

Bệnh nhân có biểu hiện rõ bệnh lý thần kinh vận động.

4.4 Thận trọng:

Cảnh báo:

Phải cân nhắc nguy cơ-lợi ích khi dùng paclitaxel trong các trường hợp sau:

Suy giảm chức năng tim, bao gồm: đau thắt ngực, bất thường trong dẫn truyền ở tim, nhồi máu cơ tim.

Bệnh thủy đậu hoặc phơi nhiễm gần đây với bệnh này.

Bệnh Zona

Nhiễm khuẩn.

Phải thận trọng trong trường hợp bệnh nhân được điều trị với thuốc gây độc tế bào, kế cả xạ trị paclitaxel phải được dùng dưới sự giám sát của bác sỹ có kinh nghiệm về sử dụng hóa trị liệu ung thư. Chỉ có thể xử lý các biến chứng một cách thích đáng khi có sự chẩn đoán và điều trị đầy đủ.

Phải pha loãng paclitaxel khi tiêm truyền tĩnh mạch. Bệnh nhân phải được điều trị trước với corticosteroid (như dexamethason), thuốc kháng histamin (diphenhydramin) và thuốc đối kháng H2 (cimetidin hoặc ranitidin) trước khi dùng paclitaxel.

Các phản ứng quá mẫn nặng đặc trưng bởi khó thở, giảm huyết áp, đỏ da, đau ngực và tim đập nhanh xảy ra ở khoảng 22% bệnh nhân. Các phản ứng, này có thể qua trung gian histamine.

Trong trường hợp quá mẫn nặng, phải ngừng ngay việc tiêm truyền thuốc và không được cho bệnh nhân dùng lại paclitaxel.

Các phản ứng quá mân nhẹ như đỏ da, phát ban, v.v.. không đòi hỏi phải ngừng điều trị.

Ức chế tủy xương là độc tính chủ yếu liên quan với giới hạn liều dùng. Phải theo dõi thường xuyên số lượng tế bào máu trong khi điều trị với paclitaxel.

Không được dùng sản phẩm này cho bệnh nhân có số lượng bạch cầu trung tính dưới 1.500 tế bào/mm3. Trong trường hợp giảm bạch cầu trung tính nặng (dưới 1.500 tế bào/mm3) trong khi điều trị, khuyến cáo dùng liêu giảm bớt 20% trong các chu kỳ điều trị tiếp sau với paclitaxel.

Các trường hợp bất thường nặng trong dẫn truyền ở tim rất hiếm gặp. Trong trường hợp này, bệnh nhân phải được điều trị một cách thích hợp và được theo dõi điện tim liên tục khi dùng paclitaxel sau đó.

Thận trọng:

Hệ tim mạch: Giảm huyết áp và nhịp tim chậm đã được quan sát thấy trong khi dùng paclitaxel, nhưng thường không cần phải điều trị các tình trạng này. Phải theo dõi thường xuyên các dấu hiệu sinh tồn, đặc biệt trong các giờ đầu tiêm truyền. Không cần phải theo dõi điện tim liên tục, trừ trường hợp bệnh nhân có bất thường nặng về dẫn truyền.

Hệ thần kinh: Dù bệnh thần kinh ngoại biên thường xảy ra, nhưng hiếm gặp phát triển các triệu chứng nặng. Trong các trường hợp này, phải giảm bớt liều 20% ở các đợt điều trị tiếp theo.

Gan: Không có bằng chứng về độc tính của paclitaxel tăng lên ở bệnh nhân có rối loạn chức năng gan mức độ vừa, nhưng không có dữ liệu ở các bệnh nhân từng có ứ mật nặng trước đây. Vì gan có vai trò quan trọng trong chuyển hóa paclitaxel, cần phải thận trọng khi dùng paclitaxel cho bệnh nhân có tổn thương gan nặng.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Sản phẩm này có chứa chất cồn nên có thể gây ảnh hưởng tới khả năng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: D

Thời kỳ mang thai:

Paclitaxel được thấy có thể gây quái thai, độc với thai và đột biến gen trong một vài thử nghiệm.

Chính vì vậy, các bệnh nhân ở cả hai giới trong độ tuổi sinh đẻ cần sử dụng các biện pháp ngừa thai ít nhất trong 6 tháng sau khi trị liệu. Nam giới có thể nên dự trữ tỉnh trùng trước khi trị liệu do có thể bị rối loạn chức năng sinh sản kéo dài.

Paclitaxel có thể gây nguy hại đến thai nhi khi dùng cho phụ nữ đang mang thai. Nên khuyên những phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tránh mang thai trong quá trình trị liệu. Nếu như có thai trong thời gian điều trị với Paclitaxel, bệnh nhân nên được cảnh báo về những nguy cơ có khả năng đối với thai nhi..

Thời kỳ cho con bú:

Chưa biết liệu Paclitaxel có đi vào sữa mẹ hay không. Do chưa có kết luận rõ ràng và do thuốc này có khả năng gây các phản ứng nghiêm trọng cho trẻ bú mẹ, không được dùng thuốc trong thời kỳ cho con bú. Chính vì vậy, những bệnh nhân dùng Paclitaxel không được cho con bú trong quá trình điều trị.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Bảng sau đây dựa trên thứ nghiệm ở 812 bệnh nhân bị ung thư vú và ung thư buồng trứng được điều trị trong một nghiên cứu lâm sàng về paclitaxel với liều 135-300mg/m² mỗi chu kỳ, tiêm truyền trong 3-24 giờ. Bảng cũng bao gồm các đữ liệu đối với một phân nhóm 181 bệnh nhân được điều trị với liều khuyến cáo 175mg/m² dùng tiêm truyền trong 3 giờ.

Không nhận xét thấy các tác dụng bị ảnh hưởng một cách rõ ràng bởi tuổi tác.

 . Tỷ lệ bệnh nhân (%
Trên toàn bộ bệnh nhân (n = 812) Trên số bệnh nhân dùng với liều khuyến cáo (n = 181)
Huyết học
– Giảm bạch cầu trung tính
(dưới 2.000 tế bào/mm3) 90 87
(dưới 500 tế bào/mm3) 52 27
– Giảm bạch cầu
(dưới 4.000 tể bào/mm3) 90 86
(dưới 1.000 tế bào/mm3) 17 4
– Giảm lượng tiểu cầu
(dưới 10.000 tể bào/mm3) 20 6
(dưới 5.000 tế bào/mm3) 7 1
– Thiếu máu (dưới 11g/dl) 78 62
(dưới 8g/dl) 16 6
– Nhiễm khuẩn 30 18
– Xuất huyết 14 9
– Cần đến hồng cầu 25 13
– Cần đến tiếu cấu 2 0
Bệnh thần kinh ngoại biên
– Triệu chúng nhẹ 60 64
– Triệu chứng nặng 3 4
Tim mạch
– Nhịp tim chậm (3 giờ đẩu) 3 3
– Giảm huyết áp (3 giờ đẩu) 12 11
– Sự kiện nghiêm trọng 1 2
Khác thường trong ghi điện tim
– Tất cả bệnh nhân 23 13
– Điện tâm đồ bình thường lúc đầu 14 8
Phản ứng quá mẫn
– Tất cả 41 40
– Nặng 2 1
Đau cơ/ đau khớp
– Triệu chứng nhẹ 60 54
– Triệu chứng nặng 8 12
Tiêu hóa
– Buồn nôn và nôn 52 44
– Tiêu chảy 38 25
– Viêm niêm mạc 31 20
Rụng tóc, lông 87 93
Gan (bệnh nhân ban đầu bình thường)
– Tăng bilirubin 7 4
– Tăng phosphotase kiềm 22 18
– Tăng ALC (SGOT) 19 18
Phản ứng ở chỗ tiêm 13 4

Các ghi nhận sau đây dựa trên thử nghiệm trên 181 bệnh nhân đã nhận liều khuyến cáo paclitaxel dụng trong thời gian chỉ định (175mg/m2 tiêm truyền trong 3 giờ):

Tất cả bệnh nhân đượcđiều trị trước để giảm đến mức tối thiểu các phản ứng quá mẫn.

Ức chế tủy xương và bệnh thần kinh ngoại biên là các tác dụng không mong muốn chủ yếu liên quan với liều dùng paclitaxel. So sánh với việc tiêm truyền trong 24 giờ, giảm bạch cầu trung tính Ít xảy ra hơn khi paclitaxel được tiêm truyền trong 3 giờ. Giảm bạch cầu trung tính được phục hồi nhanh và không trở nên xấu hơn với sự phơi nhiễm tích lũy. Tần số các triệu chứng thần kinh tăng lên với sự lặp lại các lần dùng thuốc.

Huyết học: đã quan sát thấy sự giảm bạch cầu trung tính nặng (dưới 500 tế bào/mm3) ở 27% bệnh nhân. Sự giảm bạch cầu trung tính không nặng hoặc thường gặp hơn ở bệnh nhân đã được điều trị trước bằng liệu pháp tia X. Tương tự như vậy, giảm bạch cầu trung tính có vẻ không bị ảnh hưởng bởi thời gian điều trị hoặc bởi số lần phơi nhiễm.

Nhiễm khuẩn được báo cáo ở 18% bệnh nhân và ở 5% chu kỳ điều trị, không có trường hợp tử vong nào (trong toàn bộ thử nghiệm với 812 bệnh nhân, 5 đợt nhiễm khuẩn kết hợp với giảm bach cầu trung tính nặng, được quy cho paclitaxel đã dẫn đến tử vong).

Đã có các đợt xuất huyết ở 9% bệnh nhân, mà không cần phải truyền tiểu cầu. Thiếu máu xảy ra ở 62% bệnh nhân và thiếu máu nặng ở 6% bệnh nhân.

Quá mẫn: Ngay cả khi đã điều trị trước, đã có các phản ứng quá mẫn nặng ở 1% bệnh nhân dùng liều khuyến cáo và chương trình được chỉ định đối với paclitaxel. Thường nhận xét thấy các phản ứng này trong các chu kỳ đầu điều trị và trong giờ đầu tiêm truyền.

Các biểu hiện thường gặp nhất là khó thở, đỏ đa, đau ngực và tim đập nhanh. Liều paclitaxel hoặc biểu thời gian dùng thuốc không ảnh hưởng đến tần số các phản ứng quá mẫn trong 21% trường hợp có phản ứng này. Phần lớn là các phản ứng nhẹ như đỏ da, ban và giảm huyết áp.

Tim mạch: Trong khi tiêm truyền, đã nhận xét thấy giảm huyết áp và nhịp tim chậm ở 24% và 4% bệnh nhân, tương ứng. Các biểu hiện không xuất hiện đồng thời trong cùng chu kỳ và không cần điều trị. Các trường hợp rối loạn tim mạch nặng bao gồm tăng huyết áp, huyết khối tĩnh mạch và nhịp tim nhanh, không cần phải ngừng điều trị ở bệnh nhân nào. Có 8% bệnh nhân có điện tâm đồ bình thường khi bắt đầu nghiên cứu đã có điện tâm đồ bình thường trong điều trị. Trong phần lớn trường hợp, không có sự liên quan rõ ràng với paclitaxel và có ít ý nghĩa.

Thần kinh: Triệu chứng bệnh thần kinh ngoại biên có liên quan với liều xuất hiện ở 60% bệnh nhân không triệu chứng. 4% bệnh nhân có các triệu chứng nặng khi dùng các liều khuyến cáo.

Các triệu chứng thần kinh có thể xuất hiện sau đợt dùng thuốc đầu tiên và tần số các triệu chứng có thể tăng với sự tăng số lần phơi nhiễm với paclitaxel. Các triệu chứng về giác quan được cải thiện hoặc hết sau nhiều tháng ngừng dùng paclitaxel. Các bệnh thần kinh có từ trước do các trị liệu trước đó không phải là một chống chỉ định đối với liệu pháp với paclitaxel. Các trường hợp hiếm khác về rối loạn thần kinh được báo cáo bao gồm cơn động kinh lớn và bệnh não.

Gan: Trên các bệnh nhân có chức năng gan bình thường, 4% người có sự tăng bilirubin, 18% có sự tăng phosphatase kiềm và 18% có sự tăng SGOT.

Đau khóp và đau cơ: Xảy ra ở 54% trường hợp. Các triệu chứng thường trong thời gian ngắn, xuất hiện 2-3 ngày sau khi dùng paclitaxel và hết trong vài ngày.

Phản ứng ở nơi tiêm: Sau khi truyền tĩnh mạch paclitaxel, viêm tĩnh mạch có thể xảy ra. Sự thoát mạch có thể dẫn đến phù, đau, ban đỏ. Sự thoát mạch có thẻ đôi khi gây viêm mô tế bào. Nó cũng có thể gây bạc màu da. Cho đến nay, không biết liệu pháp đặc hiệu đối với phản ứng thoát mạch.

Tác dụng không mong muốn khác: Đã nhận thấy rụng tóc, lông ở hầu hết các bệnh nhân.

Đã nhận xét thay các thay đổi mức độ vừa và nhất thời về da và móng tay, chân. Các tác dụng tiêu hóa như buồn nôn, nôn, tiêu chảy và viêm niêm mạc đã được nhận xét thấy ở 44%, 25% và 20% bệnh nhân dùng các liều khuyến cáo, tương ứng. Các biểu hiện này thường ở mức độ vừa.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Tất cả phương tiện và thuốc men cần thiết cho cấp cứu hồi sức (adrenalin, corticoid, oxygen, dịch truyền, máy trợ tim – hô hấp…) cần phải sẵn sàng.

Trong trường hợp có bệnh thần kinh gây rối loạn vận động thì phải ngừng thuốc, hoặc có thể giảm liều 20%.

Có thể tiếp tục dùng thuốc cho người bệnh bị blốc nhĩ – thất cấp I và phải theo dõi điện tâm đồ. ở người bệnh có rối loạn dẫn truyền nặng hơn thì phải ngừng dùng paclitaxel và cần điều trị trợ tim thích hợp.

Ở bệnh nhân có triệu chứng mẫn cảm nghiêm trọng với paclitaxel, dừng tiêm truyền thuốc kết hợp với các biện pháp điều trị triệu chứng tích cực. Các biện pháp này thường bao gồm sử dụng epinephrin, kháng histamin hay corticosteroid trong trường hợp cần thiết.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Trong các nghiên cứu pha 1 dùng các liều cao paclitaxel (110–200mg/m2) và cisplatin (50 hoặc 75mg/m2) được tiêm truyền nối tiếp nhau, sự ức chế tủy xương mạnh hơn khi paclitaxel được dùng sau cisplatin so với khi thực hiện điều ngược lại.

Nghiên cứu dược động học ở các bệnh nhân này cho thấy sự thanh thải giảm khoảng 33% khi paclitaxel được dùng sau cisplatin. Theo các dữ liệuin vitro, chuyên hóa của paclitaxel có thể bị ức chế ở bệnh nhân được điều trị với ketoconazol. Do đó, phải thận trọng khi dùng paclitaxel cho bệnh nhân dùng đồng thời ketoconazol.

Sự phối hợp paclitaxel với các thuốc nêu dưới đây có thể gây ức chế tủy xương tùy thuộc vào liều: aldesleukin, altretamin, antoferecin B, các thuốc kháng tuyến giáp, azathioprin, busulfan, clorambucil, élorariphenical, cromic phosphat, clozapin, colcicin, cyclophosphamid, dacarbazin, deetinomycin: didanocin, ephornitina, floxuridin, flucytosin, gancyclovir, iradubicin, gamma và alpha interferon, carboplatinium, cisplatinium, citarabina, doxorubicin, etoposid, mercaptopurin, methotrexat, mitoxantron, vinblastin, vincristin, azidothymidin, floxuridin, hydroxyurea, ifosfamid, lomustin, mitomycin, pentostatin.

Sự phối hợp paclitaxel và các thuốc dưới đây có thể gây loạn tạo máu, thường ở một số nhỏ bệnh nhân và không liên quan với liều: aminopyrin, thuốc ức chế men chuyển angiotensin, thuốc chống co giật, thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc chống đái tháo đường uống, thuốc chống viêm không steroid, carbamazepin, cloramphenicol, cozapin, dapson, divalproex, foscarnet, levamisol, penicilamin, phenothiazin, primaquin, primidon, procainamid, propafenon, rifampicin, sulfonamides, tioxantenos , trimetropin, acid valproic.

Vaccin: vì trị liệu vớipaclitaxel có thể ức chế hoạt động của cơ chế bảo vệ bình thường, đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân có thế bị giảm.

Khoảng cách thời gian giữa ngừng thuốc gây ức chế miễn dịch và khả năng bệnh nhân đáp ứng với vaccin là khoảng 3 tháng-1 năm.

Vacin virus sống: vì trị liệu vớipaclitaxel có thể ức chế hoạt động của cơ chế bảo vệ bình thường, đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân với vaccin có thể bị giảm, và các tác dụng không mong muốn của vacin virus có thể tăng lên. Sự tạo miễn dịch cho bệnh nhân phải được thực hiện hết sức thận trọng, sau khi đã nghiên cứu kỹ tình trạng huyết học của bệnh nhân, và phải được chuyên gia theo dõi. Phải hoãn việc tạo miễn dịch với vacin polyvirus uống cho người có tiếp xúc gần với bệnh nhân được điều trị với paclitaxel, đặc biệt các thành viên trong gia đình.

4.9 Quá liều và xử trí:

Triệu chứng chủ yếu của quá liều là ức chế tủy xương, bệnh thần kinh ngoại biên và viêm niêm mạc.

Không có thuốc giải độc đặc hiệu đối với quá liều paclitaxel. Khuyến cáo điều trị triệu chứng và hỗ trợ.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Paclitaxel là thuốc kháng vi ống mới có tác dụng góp phần vào việc lắp ghép các vi ống của các dimer tubulin, giữ chúng ổn định bằng cách tránh sự khử trùng hợp polymer.

Tác dụng giữ ổn định này là do tác động ức chế sự tái tổ chức bình thường của mạng lưới vi ống cần thiết cho pha gian kỳ và các chức năng phân bào.

Trong thử nghiệm lâm sàng, nói chung thuốc có tác dụng có ích trên tỉ lệ sống còn không bệnh và sống còn chung ở toàn bộ dân số bệnh nhân với khối u có thụ thể dương tính và âm tính. Tuy nhiên, theo dữ liệu sẵn có (thời gian theo dõi trung bình 30 tháng), tác dụng có ích chỉ được chứng minh cụ thể ở các bệnh nhân có khối u âm tính với thụ thể estrogen và progesteron..

Cơ chế tác dụng:

Paclitaxel làm tăng quá trình trùng hợp các dime tubulin tạo thành các ống vi thể và làm ổn định các ống vi thể sẵn có do ức chế quá trình giải trùng hợp. Do đó, ức chế sự tái cấu trúc bình thường của mạng ống vi thể rất quan trọng ở gian kỳ của quá trình phân bào và cả với hoạt động của ty lạp thể. Paclitaxel cũng gây tạo thành các cấu trúc bất thường trong các ống vi thể trong quá trình phân bào, kết quả là phá vỡ các nhiễm sắc thể. Tuy chưa được nghiên cứu kỹ nhưng do cơ chế tác dụng của nó, paclitaxel được coi là chất gây ung thư và độc đối với gen. Paclitaxel có thể ức chế sự tăng sinh tế bào và điều hòa đáp ứng miễn dịch.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Dược động học của paclitaxel đã được đánh giá rộng rãi trên nhiều mức dùng liều trên 300mg/m² với thời gian truyền mở rộng từ 3 đến 24 giờ. Sau khi truyền tĩnh mạch, nồng độ paclitaxel trong huyết tương giảm theo hai pha.

Pha đầu giảm nhanh liên quan đến sự phân bố vào ngăn ngoại biên, pha sau một phần do sự di chuyển tương đối chậm của paclitaxel ra ngoài ngăn ngoại biên.

Trung bình, 89% paclitaxel gắn kết với protein huyết tương. Sự gắn kết không bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của cimetidin, ranitidin, dexamethason, hoặc diphenhydramin.

Thuốc được phân bố rộng khắp cơ thể trừ não và tinh hoàn.

Ở bệnh nhân được điều trị với các liều 135 và 175mg/m², truyền trong 3-24 giờ, thời gian bán thải cuối cùng kéo dài từ 3,0 đến 52,7 giờ.

Không có bằng chứng về sự tích lũy paclitaxel sau nhiều đợt trị liệu.

Các trị số trung bình về lượng thuốc thu được trong nước tiểu nằm trong khoảng 1,3 và 12,6% của liều dùng, cho thấy đào thải chủ yếu không qua thận.

Các chất chuyển hóa chính dưới dạng hydroxyl hóa được phân lập trong mật.

Chuyển hóa ở gan và đào thải qua mật có thể là cơ chế thải trừ chính. Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu đầy đủ về vấn đề này.

Thải trừ paclitaxel không bị ảnh hưởng bởi việc điều trị trước với cimetidin..

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Tá dược: Acid citric khan, cremophor ELP, cồn ethyl.

6.2. Tương kỵ :

Phải tránh để dung dịch đậm đặc chưa pha loãng tiếp xúc với dung cụ làm bằng PVC (polyvinyl clorid) dùng để pha dung dịch.

Để giảm đến mức tối thiểu việc bệnh nhân bị phơi nhiễm với chất làm dẻo DEHP (di-(2- ethylhexil) phthalat) có thể thoát ra từ túi đựng dung dịch tiêm truyền bằng PVC, phải bảo quản dung dịch đã pha loãng trong chai thủy tinh hoặc polyethylen và phải dùng qua đường truyền bằng polyethylen.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản trong tủ lạnh (2-8°C), tránh ánh sáng.

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin.

6.5 Tài liệu tham khảo:

HDSD Thuốc Paclirich do Laboratorios IMA S.A.I.C. sản xuất (2016).

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM