Thuốc Kunitaxel là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Kunitaxel (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Paclitaxel
Phân loại: Thuốc chống ung thư, thuộc nhóm taxan.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01CD01.
Biệt dược gốc: Anzatax
Biệt dược: Kunitaxel
Hãng sản xuất : Korea United Pharm. Inc.
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Dung dịch tiêm 100mg/16,67ml
Thuốc tham khảo:
| KUNITAXEL | ||
| Mỗi 16,67ml dung dịch đậm đặc pha tiêm truyền có chứa: | ||
| Paclitaxel | …………………………. | 100 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
KUNITAXEL được chỉ định điều trị các bệnh ung thư di căn.
Ung thư biểu mô buồng trứng:
Trong trị liệu đầu tay ung thư buồng trứng đã tiến triển hoặc bướu tồn lưu (> 1cm) sau phẫu thuật, dùng phối hợp với cisplatin.
Trong trị liệu thứ nhì ung thư buồng trứng đã có di căn, sau khi thất bại với phương pháp điều trị thông thường bằng các dẫn xuất của platin.
Ung thư biểu mô vú:
Trong trị liệu thứ nhì ung thư vú đã có di căn, sau khi thất bại với phương pháp điều trị thông thường.
Trong điều trị hỗ trợ ung thư vú có hạch dương tính, dùng liên tiếp sau phác đồ có chứa doxorubicin.
Trong điều trị đầu tay ung thư vú đã tiến triển hoặc di căn phối hợp với trastuzumab, ở bệnh nhân có yếu tố HER-2 biểu hiện quá mức ở mức độ 3+ và ở bệnh nhân không dùng hóa trị liệu.
Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ:
Paclitaxel dùng phối hợp với cisplatin, được chỉ định đầu tay để điều trị bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC), ở giai đoạn không thể phẫu thuật và/hoặc xạ trị được.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Thể thức thao tác:
Việc pha thuốc để truyền tĩnh mạch phải do người có kinh nghiệm tiến hành, ở một phòng thích hợp. Khi pha thuốc cần phải mang găng tay và tiến hành thận trọng để tránh không để thuốc tiếp xúc với da hay niêm mạc. Nếu da bị tiếp xúc với thuốc thì phải cọ rửa kỹ da bằng nước và xà phòng. Nếu thuốc niêm mạc bị tiếp xúc với thuốc thì phải rửa dùng nước súc rủa thất kỹ. Việc pha thuốc phải đảm bảo vô trùng.
KUNITAXEL phải được pha trong dung dịch pha tiêm Natri clorid 0,9%, dung dịch pha tiêm Dextrose 5%, hỗn hợp dung dịch pha tiêm Dextrose 5% và Natri clorid 0,9% hoặc hỗn hợp dung dịch pha tiêm Dextrose 5% và dung dịch pha tiêm Ringer để đạt được nồng độ cuối cùng từ 0,3 đến 1,2mg/ ml. Các dung dịch này ổn định về mặt lý hóa trong 27 giờ ở nhiệt độ môi trường (15-30 độ C) và có ánh sáng. Tiến hành truyền dịch ngay trong vòng 3 giờ sau khi pha xong. Không để dịch truyền đã pha vào tủ lạnh. Trong quá trình pha chế, dịch truyền có thể trở nên hơi đục, đó là do dung môi của chế phẩm nên dù lọc cũng không làm cho trong lại được. Khi truyền nên cho dịch chảy qua một bàu lọc có lỗ lọc không lớn hơn 0,22 micromet trên đường truyền. Điều này không ảnh hưởng đến chất lượng thuốc.
Chỉ dùng các lọ, chai truyền bằng thủy tinh, polypropylen hay polyolefin. Bộ dây truyền phải được làm bằng polyethylen. Không dùng dụng cụ làm từ vật liệu PVC.
Liều dùng:
Ung thư biểu mô buồng trứng:
KUNITAXEL truyền tĩnh mạch trong 3 giờ với liều 175 mg/ m2 , sau đó cisplatin 75mg/ m2, mỗi 3 tuần.
KUNITAXEL truyền tĩnh mạch trong 3 giờ với liều 175 mg/ m2 mỗi 3 tuần cho thấy hiệu quả đối với bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng đã di căn sau khi thất bại với phương pháp điều trị thông thường.
Ung thư biểu mô vú:
KUNITAXEL truyền tĩnh mạch trong 3 giờ với liều 175 mg/ m2 mỗi 3 tuần cho thấy hiệu quả đối với bệnh nhân ung thư biểu mô vú đã di căn sau khi thất bại với phương pháp điều trị thông thường.
Trong điều trị hỗ trợ ung thư vú có hạch dương tính, liệu pháp khuyến cáo là KUNITAXEL truyền tĩnh mạch trong 3 giờ với liều 175 mg/ m2 mỗi 3 tuần trong 4 đợt điều trị sau phác đồ điều trị có chứa doxorubicin.
Khi phối hợp với trastuzumab, liều khuyến cáo là KUNITAXEL truyền tĩnh mạch/ 3 giờ với liều 175 mg/ m2, với khoảng cách là 3 tuần giữa 2 đợt điều trị.
Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ:
KUNITAXEL truyền tĩnh mạch/ 3 giờ với liều 175 mg/ m2, sau đó Cisplatin 80mg/ m2, mỗi 3 tuần.
Lưu ý cho tất cả các chỉ định:
Chỉ dùng liều mới khi số lượng bạch cầu hạt trung tính lớn hơn 1.500/ mm3 và số lượng tiểu cầu lớn hơn 100.000/ mm3.
Ở người bệnh có số lượng bạch cầu hạt bị giảm nặng dưới 500/ mm3 trong quá trình điều trị dài hơn bằng paclitaxel thì nên giảm 20% liều dùng.
4.3. Chống chỉ định:
Không dùng cho người bệnh quá mẫn với paclitaxel hay bất cứ thành phần nào của thuốc, đặc biệt là quá mẫn với dầu cremophor EL (polyethoxylated castor oil).
Không dùng cho người bệnh có số lượng bạch cầu trung tính < 1.500/ mm3 (1,5 x 1.000.000.000/ lít) hoặc có biểu hiện rõ bệnh lý thần kinh vận động.
Người mang thai hay đang cho con bú.
4.4 Thận trọng:
KUNITAXEL tiêm truyền phải được dùng dưới sự kiểm soát của bác sĩ có kinh nghiệm về hóa trị liệu chống ung thư. Do có thể xảy ra phản ứng quá mẫn cảm nặng, cần phải trang bị sẵn sàng những phương tiện và thuốc cần thiết cho cấp cứu hồi sức. Bệnh nhân phải được cho dùng một thuốc thuộc nhóm corticoid, kháng histamin và đối kháng thụ thể H2 trước khi dùng KUNITAXEL.
KUNITAXEL phải được cho dùng trước cisplatin trong trường hợp dùng phối hợp.
Các phản ứng dị ứng nặng, được đặc trưng bằng chứng khó thở và tụt huyết áp đến mức cần phải được điều trị, phù mạch và mề đay toàn thân, đã được ghi nhận trên 1% những bệnh nhân được điều trị bằng KUNITAXEL mặc dầu trước đó đã có dùng những thuốc dự phòng (corticoid, kháng histamin và đối kháng thụ thể H2). Các phản ứng xảy ra có liên quan đến sự phóng thích histamin. Trường hợp xảy ra phản ứng quá mẫn cảm nặng, cần phải ngưng truyền ngay, điều trị triệu chứng và không dùng trở lại KUNITAXEL cho bệnh nhân này.
Chứng suy tủy (chủ yếu là giảm bạch cầu trung tính) là một độc tính của thuốc (giới hạn liều dùng). Cần phải thường xuyên kiểm tra công thức máu trong thời gian điều trị với KUNITAXEL. Một đợt điều trị mới bằng KUNITAXEL không nên thực hiện khi mà số lượng bạch cầu hạt trung tính ít hơn 1.500/ mm3 và số lượng tiểu cầu ít hơn 100.000/ mm3.
Các rối loạn nặng về dẫn truyền ở tim cũng đã được ghi nhận. Nếu có rối loạn dẫn truyền của tim trong thời gian dùng KUNITAXEL, phải dùng một biện pháp điều trị thích hợp và theo dõi điện tim của bệnh nhân trong suốt thời gian điều trị bằng KUNITAXEL.
Mặc dầu các bệnh lý thần kinh ngoại biên là một trong những tác dụng ngoại ý thường xảy ra, nhưng chỉ ở mức độ nhẹ. Trường hợp có những triệu chứng nặng, nên giảm liều 20% cho những liều tiếp theo.
Ở những bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan nhẹ, không ghi nhận độc tính của Paclitaxel tăng lên khi truyền trong 3 giờ. Hiện không có tài liệu về dùng thuốc ở những bệnh nhân bị tắc mật nặng. Nếu truyền KUNITAXEL trong 24 giờ, ở những bệnh nhân bị suy gan vừa hoặc nặng, có thể tăng nguy cơ suy tủy.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Bản thân Paclitaxel không gây ảnh hưởng đến sự tập trung khi lái xe hay thao tác máy.
Tuy nhiên, do thuốc có chứa alcool nên phải thận trọng không nên lái xe hay thao tác máy ngay sau khi điều trị vì có thể gây buồn ngủ.
Người lái xe hay phải vận hành máy móc cần phải được lưu ý về điều này.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: D
US FDA pregnancy category: D
Thời kỳ mang thai:
KUNITAXEL được ghi nhận là có độc tính trên phôi và bào thai ở thỏ và làm giảm khả năng sinh sản ở chuột cống. Theo nguyên tắc chung, không được dùng hóa trị liệu để điều trị ung thư trong khi mang thai, nhất là trong 3 tháng đầu. Cần phải cân nhắc thật kỹ giữa nguy cơ đối với thai nhi và lợi ích cũng như nguy cơ đối với người mẹ.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa rõ nồng độ Paclitaxel trong sữa mẹ. Do đó tránh dùng KUNITAXEL khi đang cho con bú hoặc phải ngừng nuôi con bằng sữa mẹ..
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Tất cả các bệnh nhân dùng Paclitaxel đều bị rụng tóc. Gần 90% bị suy tủy.
Toàn thân: Thường gặp các phản ứng quá mẫn như sung huyết, ngoại ban (39%), kém ăn (25%), phù ngoại biên (10%). Ít gặp các phản ứng quá mẫn, như tụt huyết áp, phù mạch, khó thở, nổi mày đay toàn thân.
Máu: Thường gặp suy tủy, giảm nặng bạch cầu trung tính, tới dưới 500/ mm3 (27%), giảm tiểu cầu (6%), thiếu máu với Hb < 80 g/ lít (62%) trong đó 6% có thể chuyển thành thiếu máu nặng. Ít khi gặp giảm nặng bạch cầu trung tính tới dưới 500/ mm3 không kèm theo sốt (27%) và kéo dài tới 7 ngày hoặc lâu hơn (1%), 1% số người bệnh bị giảm tiểu cầu có số lượng tiểu cầu dưới 50.000/ mm3 ít nhất là 1 lần trong quá trình điều trị.
Tuần hoàn: Thường gặp hạ huyết áp không biểu hiện triệu chứng (22%), giảm nhịp tim không biểu hiện triệu chứng (3%). Ít khi gặp blốc nhĩ – thất, ngất, tụt huyết áp kèm hẹp động mạch vành.
Tiêu hóa: Thường gặp buồn nôn, nôn (44%), ỉa chảy (25%), đa tiết chất nhờn (20%), táo bón (18%), tắc ruột (4%).
Da: Rụng tóc (> 90%), kích ứng tại nơi truyền thuốc (4%).
Gan: Tăng transaminase huyết thanh lên tới hơn 5 lần so với bình thường (5%), tăng phosphatase kiềm lên hơn 5 lần (5%) và tăng mạnh bilirubin huyết thanh (1%).
Cơ – xương: Đau cơ, đau khớp (54%) trong đó 12% là rất nặng.
Thần kinh: Bệnh thần kinh có thể xuất hiện tùy theo liều dùng và có liên quan tới tích lũy thuốc.
Khác: Nhiễm khuẩn (18%).
Dự phòng quá mẫn trước khi điều trị:
Do có nguy cơ gây đáp ứng phản vệ, nên cần có bước chuẩn bị điều trị bằng Glucocorticoid và kháng histamin (thuốc kháng thụ thể H1 và H2) trước khi dùng Paclitaxel cũng như sẵn sàng để điều trị những đáp ứng phản vệ nguy hiểm tới tính mạng. Người bệnh cần phải được chuẩn bị trước như sau:
Prednisolon: 30-40 mg (6-8 viên, 5 mg/ viên), uống 12 giờ và 6 giờ trước khi truyền Paclitaxel, cộng với thuốc kháng thụ thể H1 ví dụ Clemastin: Truyền tĩnh mạch 2 mg trước khi truyền Paclitaxel 30-60 phút (có thể dùng thuốc kháng histamin khác), cộng với Cimetidin (300 mg) hay Ranitidin (50 mg): Truyền tĩnh mạch 30-60 phút trước khi truyền Paclitaxel.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Tất cả các phương tiện và thuốc men cần thiết cho cấp cứu hồi sức (epinephrin, corticoid, oxygen, dịch truyền, máy trợ tim-hô hấp …) cần phải sẵn sàng.
Trong trường hợp có bệnh thần kinh hay rối loạn vận động thì phải ngừng thuốc.
Có thể tiếp tục dùng thuốc cho người bị blốc nhĩ thất cấp I và phải theo dõi điện tâm đồ. Ở người bệnh có rối loạn dẫn truyền nặng hơn thì phải ngừng dùng paclitaxel và cần điều trị tim thích hợp.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Sự thanh thải của paclitaxel không bị ảnh hưởng do việc dùng cimetidin trước đó. Trong điều trị đầu tay ung thư buồng trứng, KUNITAXEL phải được dùng trước cisplatin. Như thế, sự dung nạp thuốc sẽ tương tự như khi KUNITAXEL được dùng trong đơn liệu pháp. Nếu KUNITAXEL được dùng sau cisplatin, tác dụng gây suy tủy sẽ nặng hơn. Sự thanh thải của paclitaxel được ghi nhận giảm 20% khi KUNITAXEL được dùng sau cisplatin.
Có thể sự chuyển hóa của KUNITAXEL bị ức chế bởi ketoconazol. Do đó phải thận trọng khi dùng KUNITAXEL cho bệnh nhân được điều trị đồng thời bằng ketoconazol.
Do trong thành phần tá dược của thuốc có chứa dầu cremophor EL, không nên pha loãng, bảo quản hay chứa thuốc trong các dụng cụ plastic loại PVC (vì có thể phóng thích DEHP).
4.9 Quá liều và xử trí:
Triệu chứng: Thông tin về quá liều cấp paclitaxel còn nhiều hạn chế. Quá liều paclitaxel có thể xuất hiện các triệu chứng như suy tủy, nhiễm độc thần kinh và viêm niêm mạc.
Quá liều paclitaxel ở bệnh nhi có thể liên quan đến độc tính cấp của ethanol vì trong công thức có chứa alcohol khan.
Xử trí: Chưa có thuốc giải đặc hiệu khi dùng quá liều paclitaxel. Vì vậy, khi quá liều paclitaxel cần ngưng dùng thuốc và tiến hành liệu pháp điều trị hỗ trợ thích hợp tùy theo từng loại độc tính. Một lượng rất nhỏ paclitaxel có thể được loại bỏ bằng phương pháp thẩm tách máu.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Paclitaxel, hoạt chất có trong vỏ cây thông đỏ Taxux brevifolia, là một thuốc chống ung thư. Paclitaxel làm tăng quá trình trùng hợp các dime tubulin tạo thành các vi quản và làm ổn định các vi quản do ức chế quá trình giải trùng hợp. Sự ổn định này ức chế sự tổ chức lại bình thường của mạng vi quản rất quan trọng ở gian kỳ của quá trình phân bào giảm nhiễm, và cả với hoạt động của ty lạp thể. Paclitaxel cũng gây tạo thành các cấu trúc bất thường trong các vi quản trong quá trình phân bào. Tuy chưa được nghiên cứu kỹ nhưng do cơ chế tác dụng của nó, Paclitaxel phải được coi là chất gây ung thư và độc đối với gen. các thử nghiệm in vivo và in vitro cho thấy Paclitaxel có tác dụng gây đột biến gen trên tế bào động vật có vú.
Cơ chế tác dụng:
Paclitaxel làm tăng quá trình trùng hợp các dime tubulin tạo thành các ống vi thể và làm ổn định các ống vi thể sẵn có do ức chế quá trình giải trùng hợp. Do đó, ức chế sự tái cấu trúc bình thường của mạng ống vi thể rất quan trọng ở gian kỳ của quá trình phân bào và cả với hoạt động của ty lạp thể. Paclitaxel cũng gây tạo thành các cấu trúc bất thường trong các ống vi thể trong quá trình phân bào, kết quả là phá vỡ các nhiễm sắc thể. Tuy chưa được nghiên cứu kỹ nhưng do cơ chế tác dụng của nó, paclitaxel được coi là chất gây ung thư và độc đối với gen. Paclitaxel có thể ức chế sự tăng sinh tế bào và điều hòa đáp ứng miễn dịch.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Nồng độ thuốc trong huyết tương tỷ lệ thuận với liều được truyền vào tĩnh mạch và giảm theo đồ thị có hai pha. Tỷ lệ gắn với protein là 89% (in vitro) và không bị thay đổi khi dùng cùng với cimetidin, ranitidin, dexamethason, hoặc diphenhydramin. Ở giai đoạn ổn định, thể tích phân bố là 5-6 lít/ kg thể trọng (68 – 162 ml/ m2), cho thấy thuốc khuếch tán nhiều ra ngoài mạch và/ hoặc gắn nhiều với các thành phần của mô. Người ta còn chưa biết rõ hoàn toàn sự phân bố và chuyển hóa thuốc trong cơ thể. Nửa đời trong huyết thanh là 6 – 13 giờ. Sau khi truyền tĩnh mạch, có khoảng 2 – 13% lượng thuốc được thải qua nước tiểu dưới dạng ban đầu, như vậy là ngoài thận còn có những đường đào thải khác. Trên động vật thí nghiệm, Paclitaxel được chuyển hóa tại gan. Độ thanh thải dao động từ 0,3 đến 0,8 lít/ giờ/ kg (hay 6,0 – 15,6 lít/ giờ/ m2).
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Thuốc tiêm chứa 100 mg paclitaxel cùng với các tá dược povidon, dầu polyoxyl 35 castor, polysorbat 80, polyethylen glycol 400, ethanol khan, acid malic.
6.2. Tương kỵ :
Do trong thành phần tá dược của thuốc có chứa huile de ricin polyoxyethylene, không nên pha loãng, bảo quản hay chứa thuốc trong các dụng cụ plastic loại PVC (vì có thể phóng thích DEHP).
6.3. Bảo quản:
Các lọ thuốc chưa pha loãng phải để trong hộp, ở nơi có nhiệt độ 15 – 20 độ C, tránh ánh sáng mặt trời.
Nếu bảo quản thuốc chưa pha loãng trong tủ lạnh thì có thể bị tủa. Nếu đưa lọ thuốc có tủa ra nhiệt độ phòng mà tủa tan dù có hay không lắc thì chất lượng thuốc tốt. Nếu thuốc vẫn đục hay có tủa thì phải loại bỏ.
Để thuốc trong tủ đông lạnh không làm ảnh hưởng đến chất lượng thuốc.
Bảo quản trong bao bì kín, tránh ánh sáng. Ở nhiệt độ từ 15 đến 30 độ C.
6.4. Thông tin khác :
Thuốc tiêm KUNITAXEL là một lọ thuốc màu hổ phách, chứa chất lỏng nhớt, không màu đến vàng nhạt. Thành phần chính của thuốc là paclitaxel, một hoạt chất có trong vỏ cây thông đỏ Taxux brevifolia, paclitaxel là một thuốc chống ung thư thuộc nhóm taxan.
Paclitaxel được phát hiện lần đầu tiên vào những năm 1960 tại phòng thí nghiệm của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ và công bố tên đầu tiên là taxol và công thức hóa học của nó vào năm 1971. Sau đó được phát triển ra thị trường bởi Bristol-Myers Squibb (BMS) với tên mới là paclitaxel.
Tên hóa học của paclitaxel là 5ß,20-Epoxy-l,2a,4,7ß,10ß,13a-hexahydroxytax-l l-en-9-one 4,10-diacetate 2-benzoate 13-ester with (2R,3S)-N-benzoyl-3-phenylisoserine với công thức cấu tạo như sau:
6.5 Tài liệu tham khảo:
MIMS Việt Nam
HDSD Thuốc Kunitaxel do Korea United Pharm. Inc. sản xuất (2013).
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM