Oxaliplatin – Oxaliplatin Ebewe

Thuốc Oxaliplatin Ebewe là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Oxaliplatin Ebewe (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Oxaliplatin

Phân loại: Thuốc chống ung thư, dẫn chất platin.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01XA03.

Biệt dược gốc: Eloxatin

Biệt dược: Oxaliplatin Ebewe

Hãng sản xuất : Ebewe Pharma Ges.m.b.H.Nfg.KG

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch đậm đặc để pha dung dịch tiêm truyền: hộp 1 lọ 50 mg/10 mL, hộp 1 lọ 100 mg/20 mL, hộp 1 lọ 150 mg/30 mL.

Mỗi mL: Oxaliplatin 5 mg.

Thuốc tham khảo:

OXALIPLATIN EBEWE 100mg/20ml
Mỗi ml dung dịch đậm đặc có chứa:
Oxaliplatin …………………………. 5 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Oxaliplatin kết hợp với 5-fluorouracil (5-FU) và acid folinic (FA) được chỉ định:

Điều trị bổ trợ (hỗ trợ) ung thư đại tràng giai đoạn III (Duke C) sau khi đã phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn khối u nguyên phát.

Điều trị ung thư đại-trực tràng di căn

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Oxaliplatin được dùng theo cách tiêm truyền tĩnh mạch.

Việc dùng oxaliplatin không đòi hỏi phải bổ sung nhiều nước. Oxaliplatin được pha loãng trong 250 đến 500 mL dung dịch glucose 5% để tạo ra một dung dịch có nồng độ không thấp hơn 0,20 mg/mL và được truyền vào một tĩnh mạch trung tâm hay tĩnh mạch ngoại vi trong thời gian từ 2 đến 6 giờ. Việc tiêm truyền oxaliplatin phải luôn thực hiện trước khi tiêm truyền 5-fluorouracil.

Trong trường hợp thoát mạch, phải ngừng ngay việc tiêm truyền.

Hướng dẫn sử dụng

Oxaliplatin phải được pha loãng trước khi dùng. Chỉ sử dụng dung dịch glucose 5% để pha loãng dung dịch đậm đặc dùng để tiêm truyền. (Xem mục Thận trọng đặc biệt trong pha chế và xử lý).

Thận trọng đặc biệt trong pha chế và xử lý

Như với các sản phẩm có tiềm năng gây độc khác, nên thận trọng khi xử lý và pha chế các dung dịch oxaliplatin.

Hướng dẫn pha chế

Việc chuẩn bị dung dịch tiêm truyền của các chế phẩm độc tế bào phải được thực hiện bởi các nhân viên có chuyên môn được đào tạo có kiến thức về các loại thuốc được sử dụng, trong điều kiện đảm bảo tính toàn vẹn của sản phẩm, bảo vệ môi trường và đặc biệt là bảo vệ người xử lý thuốc, phù hợp với quy định của bệnh viện. Cần có một khu vực chuẩn bị dành riêng cho việc pha chế này. Cấm hút thuốc, ăn uống ở khu vực này.

Người xử lý thuốc phải được cung cấp các dụng cụ thích hợp, áo dài tay, mặt nạ, mũ, kính bảo hộ, găng tay vô trùng sử dụng một lần, lớp bảo vệ khu vực làm việc, hộp và túi chứa chất thải.

Chất thải và nôn phải được xử lý cẩn thận.

Phụ nữ mang thai nên được cảnh báo để tránh việc xử lý các tác nhân gây độc tế bào.

Bất kỳ lọ thuốc nào bị vỡ đều phải được xử lý thận trọng và được xem như chất thải vấy nhiễm. Chất thải vấy nhiễm phải được thiêu hủy trong thùng cứng có dán nhãn phù hợp. Xem mục “Xử lý” .

Nếu dung dịch oxaliplatin đậm đặc hoặc đã pha loãng để tiêm truyền tiếp xúc với da, hãy rửa ngay và kỹ bằng nước sạch.

Nếu dung dịch oxaliplatin đậm đặc hoặc đã pha loãng để tiêm truyền tiếp xúc với niêm mạc, hãy rửa ngay và kỹ bằng nước sạch.

Thận trọng đặc biệt khi sử dụng

KHÔNG sử dụng vật liệu tiêm truyền có chứa nhôm.

KHÔNG sử dụng thuốc chưa được pha loãng.

Chỉ sử dụng dung dịch glucose 5% để pha loãng thuốc. KHÔNG pha loãng để tiêm truyền bằng dung dịch natri clorid hoặc dung dịch có chứa clorid.

KHÔNG trộn lẫn với bất kỳ thuốc nào khác trong cùng một túi dịch truyền hoặc truyền đồng thời trong một đường truyền.

KHÔNG trộn lẫn với các thuốc hoặc dung dịch có tính kiềm, đặc biệt là 5-fluorouracil, acid folinic chứa trometamol dưới dạng tá dược hoặc các muối trometamol của các sản phẩm khác. Các thuốc hoặc dung dịch có tính kiềm sẽ ảnh hưởng bất lợi đến độ ổn định của oxaliplatin.

Hướng dẫn sử dụng cùng folinic acid (dưới dạng calci folinat hoặc dinatri folinat)

Oxaliplatin 85 mg/m² da truyền tĩnh mạch trong 250 đến 500 mL dung dịch glucose 5% được dùng đồng thời với folinic acid tiêm truyền tĩnh mạch trong dung dịch glucose 5%, trong 2 đến 6 giờ, sử dụng bộ dây truyền dịch chữ Y đặt ngay trước vị trí tiêm truyền. Hai sản phẩm này không được pha trong cùng một túi dịch truyền. Folinic acid không được chứa tá dược trometamol và chỉ được pha loãng bằng dung dịch glucose 5% đẳng trương, không được pha trong dung dịch kiềm hoặc dung dịch natri clorid hoặc clorid.

Hướng dẫn sử dụng cùng 5-fluorouracil

Oxaliplatin nên luôn sử dụng trước các fluoropyrimidin – ví dụ 5-fluorouracil.

Sau khi tiêm truyền oxaliplatin, truyền dịch làm sạch dây truyền, sau đó tiêm truyền 5-fluorouracil.

Để biết thêm thông tin về các sản phẩm kết hợp với oxaliplatin, hãy xem tóm tắt đặc tính sản phẩm của nhà sản xuất tương ứng.

Kiểm tra thuốc bằng mắt thường trước khi sử dụng. Chỉ nên sử dụng các dung dịch trong suốt, không chứa các hạt tiểu phân nhìn thấy được.

Thuốc này chỉ sử dụng một lần. Bất kỳ phần thuốc nào không dùng đến đều phải được tiêu hủy.

Pha loãng để tiêm truyền tĩnh mạch

Rút lượng dung dịch đậm đặc cần thiết ra khỏi lọ sau đó pha loãng với 250 mL đến 500 mL dung dịch glucose 5% để thu được dung dịch oxaliplatin có nồng độ không thấp hơn 0,2 mg/mL.

Tiêm truyền tĩnh mạch.

Kiểm tra thuốc bằng mắt thường trước khi sử dụng. Chỉ nên sử dụng các dung dịch trong suốt, không chứa các hạt tiểu phân nhìn thấy được.

Thuốc này chỉ sử dụng một lần. Bất kỳ phần thuốc nào không dùng đến đều phải được tiêu hủy (xem mục “Xử lý” bên dưới).

KHÔNG BAO GIỜ dùng dung dịch natri clorid để pha loãng.

Tiêm truyền

Điều trị với oxaliplatin không yêu cầu bù dịch trước.

Oxaliplatin được pha loãng trong 250 đến 500 mL dung dịch glucose 5% để thu được dung dịch có nồng độ không thấp hơn 0,2 mg/mL và phải được truyền qua tĩnh mạch ngoại biên hoặc trung tâm trong 2 đến 6 giờ. Khi dùng oxaliplatin cùng với 5-fluorouracil, phải truyền oxaliplatin trước 5-fluorouracil.

Xử lý

Phần thuốc còn thừa cũng như tất cả các vật liệu đã được dùng để hoàn nguyên, pha loãng và tiêm truyền thuốc phải được tiêu hủy theo quy trình chuẩn của bệnh viện đối với các tác nhân độc tế bào và phù hợp với yêu cầu của địa phương liên quan đến việc xử lý chất thải nguy hiểm.

Liều dùng:

Liều dùng: Chỉ dùng cho người lớn

Liều dùng được khuyến cáo trong điều trị bổ trợ là oxaliplatin 85 mg/m2 da theo đường tĩnh mạch, được lặp lại mỗi 2 tuần trong 12 chu kỳ (6 tháng).

Liều dùng được khuyến cáo trong điều trị ung thư đại-trực tràng di căn là oxaliplatin 85 mg/m2 da theo đường tĩnh mạch, được lặp lại mỗi 2 tuần cho đến khi bệnh tiến triển hoặc độc tính không dung nạp được.

Liều dùng nói trên cần được điều chỉnh theo mức độ dung nạp của bệnh nhân (Xem Cảnh báo và Thận trọng).

Oxaliplatin phải luôn được dùng trước các fluoropyrimidin ví dụ 5-fluorouracil (5-FU).

Oxaliplatin được truyền tĩnh mạch từ 2 đến 6 giờ trong 250 đến 500 mL dung dịch glucose 5% (50 mg/mL) để có được nồng độ từ 0,20 mg/mL đến 0,70 mg/mL; 0,70 mg/mL là nồng độ cao nhất trong thực hành lâm sàng cho liều oxaliplatin 85 mg/m2 da.

Oxaliplatin chủ yếu được dùng phối hợp với phác đồ chứa 5-fluorouracil tiêm truyền liên tục. Đối với lịch trình điều trị mỗi 2 tuần, phác đồ 5-fluorouracil được dùng kết hợp theo cách tiêm truyền tĩnh mạch nhanh và liên tục.

Đối với những quần thể đặc biệt

Bệnh nhân suy thận

Oxaliplatin không được sử dụng trên bệnh nhân bị suy thận nặng (xem Chống chỉ định và Dược động học).

Đối với những bệnh nhân bị suy thận nhẹ hoặc trung bình, có thể bắt đầu điều trị với liều bình thường được khuyến cáo (xem Cảnh báo và Thận trọng và Dược động học).

Bệnh nhân suy gan

Trong một nghiên cứu pha I bao gồm bệnh nhân bị suy gan ở nhiều mức độ, tần suất và độ nặng của rối loạn gan-mật dường như có liên quan đến sự tiến triển của bệnh và xét nghiệm suy chức năng gan lúc bắt đầu nghiên cứu. Không có điều chỉnh liều đặc biệt nào được thực hiện trong thực hành lâm sàng đối với những bệnh nhân có xét nghiệm chức năng gan bất thường.

Bệnh nhân cao tuổi

Không thấy tăng độc tính nặng khi oxaliplatin được dùng riêng hay khi kết hợp với 5-fluorouracil ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Vì vậy, không cần điều chỉnh liều đối với những bệnh nhân cao tuổi.

Bệnh nhi:

Không có chỉ định liên quan để sử dụng oxaliplatin ở trẻ em. Hiệu quả của oxaliplatin đơn trị liệu trên bệnh nhi bị bướu đặc chưa được thiết lập (xem phần Dược lực học)

4.3. Chống chỉ định:

Chống chỉ định oxaliplatin trên bệnh nhân:

Có tiền sử quá mẫn với hoạt chất hoặc bất cứ thành phần tá dược nào của thuốc

Cho con bú

Bị suy tủy trước khi bắt đầu chu kỳ điều trị đầu tiên, dựa trên bằng chứng lúc khởi trị số lượng bạch cầu trung tính < 2 x 109/L và/ hoặc số lượng tiểu cầu < 100 x109/L.

Bị suy chức năng thần kinh cảm giác ngoại biên trước khi bắt đầu chu kỳ điều trị đầu tiên.

Bị suy chức năng thận nặng (độ thanh thải creatinin thấp hơn 30 mL/phút) (xem mục Dược động học).

4.4 Thận trọng:

Oxaliplatin chỉ được dùng ở những khoa chuyên về ung thư, và phải được sử dụng dưới sự giám sát của một chuyên gia ung thư có kinh nghiệm.

Suy thận:

Bệnh nhân bị suy thận từ nhẹ đến trung bình nên được theo dõi chặt chẽ đối với các phản ứng bất lợi và liều được điều chỉnh theo độc tính của thuốc (xem phần Dược động học).

Phản ứng dị ứng:

Phải đảm bảo theo dõi chặt chẽ đối với bệnh nhân có tiền sử dị ứng với các thuốc chứa platin. Khi có biểu hiện sốc phản vệ phải ngừng lập tức việc tiêm truyền và bắt đầu điều trị triệu chứng thích hợp. Việc tái sử dụng oxaliplatin bị chống chỉ định trên những bệnh nhân này.

Phản ứng chéo, đôi khi gây tử vong, đã được báo cáo với tất cả các hợp chất platin.

Trong trường hợp tiêm truyền oxaliplatin bị thoát mạch, phải lập tức ngừng việc tiêm truyền, và thường bắt đầu điều trị triệu chứng tại chỗ.

Triệu chứng thần kinh:

Cần phải theo dõi chặt chẽ độc tính thần kinh của oxaliplatin, đặc biệt khi dùng với các thuốc khác có độc tính thần kinh đặc hiệu. Việc thăm khám về thần kinh phải được thực hiện trước mỗi chu kỳ điều trị và định kỳ sau đó.

Đối với những bệnh nhân bị loạn cảm hầu-thanh quản cấp tính (xem Tác dụng không mong muốn) trong khi hoặc vài giờ sau 2-giờ tiêm truyền, thì việc tiêm truyền oxaliplatin trong chu kỳ sau phải kéo dài trong hơn 6 giờ.

Thần kinh ngoại biên:

Nếu những triệu chứng thần kinh (loạn cảm, dị cảm) xuất hiện, việc điều chỉnh liều oxaliplatin được khuyến cáo sau đây dựa vào độ nặng và thời gian kéo dài các triệu chứng này:

Nếu các triệu chứng này kéo dài trên 7 ngày và gây nhiều phiền hà, liều tiếp theo của oxaliplatin được giảm từ 85 mg/m2 xuống 65 mg/m2 (trong điều trị di căn), hoặc xuống 75 mg/m2 (trong điều trị bổ trợ).

Nếu có triệu chứng dị cảm nhưng không suy chức năng, và kéo dài cho đến chu kỳ kế tiếp, thì liều tiếp theo của oxaliplatin được giảm từ 85 xuống 65 mg/m2 (trong điều trị di căn), hoặc xuống 75 mg/m2 (trong điều trị bổ trợ).

Nếu có triệu chứng dị cảm kèm suy chức năng kéo dài cho đến chu kỳ kế tiếp, thì ngừng sử dụng oxaliplatin.

Nếu các triệu chứng trên được cải thiện sau khi ngừng sử dụng oxaliplatin, có thể xem xét việc sử dụng lại thuốc này.

Bệnh nhân phải được thông báo về khả năng có những triệu chứng về bệnh thần kinh cảm giác ngoại biên kéo dài sau khi đã chấm dứt điều trị. Có những trường hợp dị cảm mức độ vừa phải khu trú hoặc dị cảm gây rối loạn các hoạt động chức năng kéo dài đến 3 năm sau khi ngừng điều trị trong liệu pháp bổ trợ.

Hội chứng bệnh chất trắng não sừng sau có thể hồi phục (Reversible Posterior Leukoencephalopathy Syndrome – RPLS):

Các trường hợp RPLS (cũng được biết đến như hội chứng bệnh não sừng sau có thể hồi phục (PRES – Posterior Reversible Encephalopathy Syndrome)) đã được ghi nhận trên bệnh nhân dùng oxaliplatin trong hóa trị liệu phối hợp. RPLS là tình trạng hiếm, có thể hồi phục, nhanh chóng phát triển thành các triệu chứng thần kinh, có thể bao gồm co giật, tăng huyết áp, đau đầu, lú lẫn, mù mắt và các rối loạn thị giác và thần kinh khác (xem mục Tác dụng không mong muốn). Chẩn đoán xác định RPLS dựa trên hình ảnh não, chủ yếu là MRI (hình ảnh chụp cộng hưởng từ hạt nhân).

Buồn nôn, nôn, tiêu chảy, mất nước và thay đổi về huyết học:

Độc tính tiêu hóa, biểu hiện như buồn nôn và nôn, đòi hỏi phải có biện pháp dự phòng và/hoặc liệu pháp chống nôn (Xem Tác dụng không mong muốn).

Có thể xảy ra hiện tượng mất nước, liệt ruột, tắc ruột, hạ kali huyết, nhiễm toan chuyển hóa và suy thận do nôn/ tiêu chảy nặng, đặc biệt khi kết hợp oxaliplatin với 5-fluorouracil.

Các trường hợp thiếu máu cục bộ đường ruột, bao gồm tử vong, đã được báo cáo khi điều trị bằng oxaliplatin. Trong trường hợp thiếu máu cục bộ đường ruột, nên ngừng sử dụng oxaliplatin và tiến hành các biện pháp xử lý thích hợp.

Nếu xuất hiện độc tính huyết học (bạch cầu trung tính < 1,5 x 109/L hay tiểu cầu < 50 x 109/L), chu kỳ điều trị tiếp theo nên được trì hoãn cho đến khi các thông số huyết học trở về mức có thể chấp nhận được. Xét nghiệm máu toàn bộ, có phân loại bạch cầu nên được thực hiện trước khi bắt đầu điều trị và trước mỗi chu kỳ điều trị tiếp theo.

Có thể có thêm tác động ức chế tủy xương trên bệnh nhân hóa trị liệu đồng thời. Bệnh nhân bị suy tủy nặng và dai dẳng có nguy cơ cao bị biến chứng nhiễm trùng. Nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng huyết giảm bạch cầu trung tính và sốc nhiễm trùng đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị bằng oxaliplatin kể cả các trường hợp tử vong (xem Tác dụng không mong muốn). Nếu có bất kỳ các dấu hiệu trên, cần ngừng sử dụng oxaliplatin.

Bệnh nhân cần được thông báo đầy đủ về nguy cơ tiêu chảy/ nôn, viêm niêm mạc/ viêm miệng và giảm bạch cầu trung tính sau khi sử dụng oxaliplatin và 5–fluorouracil nhờ đó họ có thể gặp ngay bác sỹ điều trị để được xử trí thích hợp.

Nếu viêm niêm mạc/ viêm miệng có hoặc không kèm giảm bạch cầu trung tính, chu kỳ điều trị tiếp theo nên được trì hoãn cho đến khi viêm niêm mạc/ viêm miệng hồi phục lại trở về mức độ 1 hoặc thấp hơn và/hoặc đến khi số lượng bạch cầu trung tính ≥ 1,5 x 109/L.

Khi oxaliplatin được phối hợp với 5-fluorouracil (có hoặc không kèm acid folinic), nên áp dụng điều chỉnh liều thường dùng đối với độc tính liên quan của 5-fluorouracil.

Nếu xuất hiện tiêu chảy độ 4, giảm bạch cầu trung tính độ 3 – 4 (bạch cầu trung tính < 1,0 x 109/L), giảm bạch cầu kèm sốt (sốt không rõ nguyên nhân, không có dấu hiệu nhiễm trùng về mặt lâm sàng hoặc vi sinh với số lượng tuyệt đối bạch cầu trung tính < 1,0 x 109/L, thân nhiệt > 38,3oC hoặc duy trì ở mức > 38oC trong hơn 1 giờ), hoặc giảm tiểu cầu độ 3 – 4 (tiểu cầu < 50 x 109/L), liều dùng của oxaliplatin giảm từ 85 mg/m2 xuống 65 mg/m2 (trong điều trị di căn) hoặc xuống 75 mg/m2 (trong điều trị bổ trợ), thêm vào đó là giảm liều 5-fluorouracil.

Phổi

Nếu gặp trường hợp có những triệu chứng hô hấp không rõ nguyên nhân như ho khan, khó thở, ran nổ hoặc X-quang có thâm nhiễm ở phổi, cần ngừng sử dụng oxaliplatin cho đến khi thăm khám phổi để loại trừ bệnh phổi mô kẽ (xem Tác dụng không mong muốn).

Các rối loạn về máu

Hội chứng tán huyết-urê huyết (Haemolytic-uraemic syndrome – HUS) là một tác dụng phụ đe dọa tính mạng (tần suất không rõ). Nên ngừng sử dụng oxaliplatin khi có dấu hiệu sớm của bất cứ bằng chứng nào về thiếu máu tán huyết mao mạch, như sụt giảm nhanh hemoglobin đồng thời với giảm tiểu cầu, tăng bilirubin huyết thanh, tăng creatinin huyết thanh, tăng nitơ urê máu hoặc LDH. Suy thận có thể không hồi phục sau khi ngưng điều trị và có thể cần tiến hành lọc máu.

Đông máu nội mạch lan tỏa (DIC), bao gồm tử vong, đã được báo cáo trong điều trị kết hợp với oxaliplatin. Nếu xuất hiện DIC, nên ngưng điều trị với oxaliplatin và áp dụng các biện pháp điều trị thích hợp. Cần thận trọng trên bệnh nhân bị rối loạn liên quan đến DIC, như nhiễm khuẩn, nhiễm trùng huyết…

Kéo dài khoảng QT

Kéo dài khoảng QT có thể dẫn đến tăng nguy cơ loạn nhịp thất bao gồm xoắn đỉnh, có thể dẫn đến tử vong. Khoảng QT cần được theo dõi chặt chẽ trên bệnh nhân, cơ bản là trước và sau khi sử dụng oxaliplatin. Cần thận trọng ở những bệnh nhân có tiền sử hoặc xu hướng kéo dài khoảng QT, những bệnh nhân đang được điều trị với các thuốc được biết làm kéo dài khoảng QT, và những người có rối loạn điện giải như hạ kali máu, hạ calci máu, hoặc hạ magnesi máu. Trong trường hợp kéo dài khoảng QT, nên ngưng điều trị bằng oxaliplatin.

Tiêu cơ vân

Tiêu cơ vân đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị bằng oxaliplatin, bao gồm trường hợp tử vong. Trong trường hợp đau cơ và phù nề, kèm theo yếu sức, sốt hoặc nước tiểu sậm màu, nên ngưng điều trị bằng oxaliplatin. Nếu xác định tiêu cơ vân, các biện pháp can thiệp thích hợp cần được áp dụng. Cần thận trọng nếu thuốc liên quan với tiêu cơ vân được dùng đồng thời với oxaliplatin.

Loét đường tiêu hóa/ xuất huyết và thủng đường tiêu hóa

Điều trị bằng oxaliplatin có thể gây loét và có khả năng gây biến chứng đường tiêu hóa, như xuất huyết và thủng đường tiêu hóa, có thể dẫn đến tử vong. Trong trường hợp loét đường tiêu hóa, nên ngừng điều trị bằng oxaliplatin và áp dụng các biện pháp can thiệp thích hợp.

Bệnh gan

Trong trường hợp các kết quả xét nghiệm chức năng gan bất thường hoặc tăng áp tĩnh mạch cửa không rõ ràng do di căn gan, trường hợp rất hiếm gặp của rối loạn mạch máu gan do thuốc cần được xem xét.

Phụ nữ có thai

Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai, xem mục Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú.

Khả năng sinh sản

Độc tính trên gen của oxaliplatin đã được quan sát thấy trong các nghiên cứu tiền lâm sàng. Do đó, bệnh nhân nam điều trị bằng oxaliplatin được khuyên không nên có con trong thời gian điều trị và trong vòng 6 tháng sau khi điều trị. Các bệnh nhân này nên được tư vấn về việc bảo quản tinh trùng trước khi bắt đầu điều trị do oxaliplatin có thể làm mất khả năng sinh sản và tác dụng này có thể không hồi phục.

Phụ nữ không nên có thai trong thời gian điều trị bằng oxaliplatin và nên sử dụng biện pháp tránh thai có hiệu quả (xem mục Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú).

Xuất huyết phúc mạc có thể xảy ra khi oxaliplatin được sử dụng bằng cách tiêm trong phúc mạc (đường dùng chưa được phê duyệt).

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Chưa có các nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc trên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Tuy nhiên, điều trị bằng oxaliplatin làm tăng nguy cơ gây chóng mặt, buồn nôn, nôn và các triệu chứng thần kinh khác, điều này ảnh hưởng đến khả năng đi lại và thăng bằng có thể dẫn đến những ảnh hưởng ở mức độ nhẹ hoặc trung bình đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.

Rối loạn thị giác, đặc biệt là mất thị lực thoáng qua (có thể hồi phục sau khi ngừng điều trị), có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc của bệnh nhân. Do đó, nên cảnh báo bệnh nhân về nguy cơ có thể có của các biến cố này trên khả năng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: D

Thời kỳ mang thai:

Cho đến nay, chưa có đủ thông tin về tính an toàn của thuốc khi dùng cho phụ nữ mang thai. Trong các nghiên cứu trên động vật, độc tính trên khả năng sinh sản đã được ghi nhận. Do đó, oxaliplatin không được khuyến cáo sử dụng trong thời kỳ mang thai và trên phụ nữ có khả năng mang thai không sử dụng các biện pháp tránh thai.

Chỉ nên sử dụng oxaliplatin sau khi đã có những đánh giá thích hợp trên bệnh nhân về nguy cơ trên thai nhi và được sự đồng ý của bệnh nhân.

Phải sử dụng các biện pháp tránh thai thích hợp trong thời gian điều trị và 4 tháng sau khi ngừng điều trị đối với phụ nữ.

Khả năng sinh sản

Oxaliplatin có thể làm mất khả năng sinh sản (xem mục Cảnh báo và Thận trọng).

Do nguy cơ độc tính trên gen của oxaliplatin, phải sử dụng các biện pháp tránh thai thích hợp trong thời gian điều trị và sau khi ngừng điều trị 4 tháng đối với nữ và 6 tháng đối với nam.

Thời kỳ cho con bú:

Việc thải trừ thuốc qua sữa chưa được nghiên cứu, nên chống chỉ định dùng oxaliplatin đối với phụ nữ cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Tóm tắt hồ sơ an toàn

Tác dụng không mong muốn hay gặp nhất của oxaliplatin dùng kết hợp với 5-fluorouracil/acid folinic (5-FU/FA) là độc tính tiêu hóa (tiêu chảy, buồn nôn, nôn và viêm niêm mạc), độc tính huyết học (giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu) và độc tính thần kinh (bệnh lý thần kinh cảm giác ngoại biên cấp tính và tích lũy liều).

Nhìn chung, các tác dụng không mong muốn này thường gặp và nặng hơn khi dùng oxaliplatin phối hợp 5-FU/FA so với khi dùng 5-FU/FA đơn thuần.

Danh sách các tác dụng không mong muốn

Tần suất được báo cáo trong bảng dưới đây được rút ra từ những nghiên cứu lâm sàng trong điều trị di căn và điều trị bổ trợ (lần lượt bao gồm 416 và 1.108 bệnh nhân dùng oxaliplatin + 5-FU/FA) và từ kinh nghiệm sau khi thuốc được lưu hành.

Mức độ của tần suất được định nghĩa theo quy ước như sau:

Rất thường gặp (> 1/10), thường gặp (> 1/100; ≤ 1/10), ít gặp (> 1/1.000; ≤ 1/100), hiếm gặp (> 1/10.000; ≤ 1/1.000), rất hiếm gặp (≤ 1/10.000), không rõ (không thể ước tính từ dữ liệu hiện có).

Các chi tiết cụ thể được ghi chú như bảng dưới đây.

– xem Bảng 7.

Image from Drug Label Content

Mô tả các tác dụng không mong muốn được chọn lọc

Rối loạn máu và hệ bạch huyết

– xem Bảng 8

Image from Drug Label Content

Hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000)

Đông máu nội mạch rải rác (DIC), bao gồm cả tử vong (Xem mục Cảnh báo và Thận trọng).

Kinh nghiệm sau khi thuốc được lưu hành trên thị trường với tần suất không rõ

Hội chứng tán huyết-urê huyết, thiếu máu toàn dòng tự miễn, bệnh bạch cầu thứ phát.

Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng

– xem Bảng 9

Image from Drug Label Content

Kinh nghiệm sau khi thuốc được lưu hành trên thị trường với tần suất không rõ

Sốc nhiễm khuẩn huyết bao gồm cả tử vong

Rối loạn hệ miễn dịch

– xem Bảng 10.

Image from Drug Label Content

Rối loạn hệ thần kinh

Độc tính giới hạn liều của oxaliplatin là độc tính thần kinh. Ảnh hưởng bệnh lý thần kinh ngoại biên được đặc trưng bởi triệu chứng loạn cảm và/hoặc dị cảm đầu chi, có kèm hay không kèm chuột rút, thường khởi phát khi gặp lạnh. Các triệu chứng này xuất hiện đến 95% bệnh nhân được điều trị. Thời gian kéo dài của triệu chứng thường giảm giữa các chu kỳ điều trị, và tăng lên theo số chu kỳ điều trị.

Sự xuất hiện đau và/hoặc rối loạn chức năng là chỉ định điều chỉnh liều dùng, hoặc thậm chí là ngừng điều trị, tùy thuộc vào mức độ kéo dài các triệu chứng này (xem Cảnh báo và Thận trọng).

Sự rối loạn chức năng bao gồm khó thực hiện các thao tác tinh tế, và có thể là hậu quả của giảm cảm giác. Nguy cơ xuất hiện các triệu chứng kéo dài đối với liều tích lũy 850 mg/m2 (10 chu kỳ) khoảng 10%, và 20% khi liều tích lũy 1.020 mg/m2 (12 chu kỳ).

Trong đa số trường hợp, các dấu hiệu và triệu chứng thần kinh sẽ được cải thiện hoặc hồi phục hoàn toàn khi ngừng điều trị. Trong điều trị bổ trợ ung thư đại tràng, sau khi ngừng điều trị được 6 tháng, 87% bệnh nhân không còn triệu chứng hoặc chỉ có triệu chứng nhẹ. Sau 3 năm theo dõi, khoảng 3% bệnh nhân có hiện tượng dị cảm khu trú với mức độ trung bình (2,3%) hay dị cảm có ảnh hưởng đến các hoạt động chức năng (0,5%).

Đã có những báo cáo về các biểu hiện cảm giác thần kinh cấp tính. Các biểu hiện này xuất hiện trong vòng vài giờ sau khi tiêm truyền, và thường xảy ra khi bệnh nhân tiếp xúc lạnh. Triệu chứng thường xuất hiện thoáng qua như dị cảm, loạn cảm, nhược cảm. Hội chứng loạn cảm hầu-thanh quản cấp tính xảy ra trong khoảng 1% – 2% bệnh nhân và được đặc trưng bởi cảm giác chủ quan của khó nuốt hay khó thở/ cảm giác nghẹt thở mà không có một bằng chứng cụ thể nào của suy hô hấp (không tím tái hay thiếu oxy) hay co thắt thanh quản/ phế quản (không có tiếng thở rít hay khò khè). Mặc dù trong những trường hợp này các thuốc kháng histamin và thuốc giãn phế quản thường được dùng, nhưng các triệu chứng này thường hồi phục nhanh ngay cả khi không điều trị. Việc kéo dài thời gian tiêm truyền giúp làm giảm tỷ lệ mắc hội chứng này (xem Cảnh báo và Thận trọng). Đôi khi quan sát thấy các triệu chứng khác như co cứng hàm/ chuột rút/ co giật cơ/rung giật cơ, phối hợp bất thường/ dáng đi bất thường/ mất điều hòa/ rối loạn thăng bằng, tức/nặng/khó chịu/đau họng và ngực. Ngoài ra, rối loạn chức năng dây thần kinh sọ não có thể liên quan đến các biến cố nêu trên, hoặc cũng xảy ra như một biến cố đơn lẻ như sụp mi mắt, nhìn đôi, mất tiếng/khàn giọng, đôi khi được mô tả như liệt dây thanh âm, cảm giác lưỡi bất thường hoặc loạn vận ngôn, đôi khi được mô tả như mất ngôn ngữ, đau mặt/dây thần kinh sinh ba/đau mắt, giảm thị lực, rối loạn tầm nhìn.

Các triệu chứng về thần kinh khác như loạn vận ngôn, mất phản xạ gân xương sâu và dấu hiệu Lhermitte đã được báo cáo trong thời gian điều trị với oxaliplatin. Cũng có trường hợp đơn lẻ về viêm thần kinh thị giác được báo cáo.

Kinh nghiệm sau khi thuốc được lưu hành trên thị trường với tần suất không rõ

Co giật, rối loạn mạch máu não do thiếu máu cục bộ hoặc xuất huyết

Rối loạn tim mạch

Kinh nghiệm sau khi thuốc được lưu hành trên thị trường với tần suất không rõ

Kéo dài khoảng QT, có thể dẫn đến rối loạn nhịp thất bao gồm xoắn đỉnh, có thể gây tử vong (xem mục Cảnh báo và Thận trọng).

Hội chứng mạch vành cấp tính (bao gồm nhồi máu cơ tim và co thắt động mạch vành và đau thắt ngực ở bệnh nhân được điều trị bằng oxaliplatin kết hợp với 5-FU và bevacizumab).

Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất

Kinh nghiệm sau khi thuốc được lưu hành trên thị trường với tần suất không rõ

Co thắt thanh quản, viêm phổi và viêm phế quản phổi, bao gồm cả trường hợp tử vong.

Rối loạn tiêu hóa

– xem Bảng 11

Image from Drug Label Content

Dự phòng và/hoặc điều trị bằng các thuốc chống nôn mạnh được chỉ định.

Tiêu chảy nặng/ nôn nhiều, đặc biệt khi kết hợp oxaliplatin với 5-fluorouracil (5-FU) có thể gây ra tình trạng mất nước, liệt ruột, tắc ruột, hạ kali máu, toan chuyển hóa và suy thận (xem mục Cảnh báo và Thận trọng).

Kinh nghiệm sau khi thuốc được lưu hành trên thị trường với tần suất không rõ

Thiếu máu cục bộ ở ruột, bao gồm cả trường hợp tử vong (xem mục Cảnh báo và Thận trọng).

Loét và thủng đường tiêu hóa, bao gồm cả trường hợp tử vong (xem mục Cảnh báo và Thận trọng).

Viêm thực quản.

Rối loạn gan mật

Rất hiếm gặp (< 1/10.000)

Hội chứng tắc nghẽn xoang gan, cũng được biết đến như bệnh lý tắc tĩnh mạch gan, hoặc bệnh lý liên quan đến rối loạn chức năng gan, bao gồm ứ máu gan, tăng sản dạng nút tân tạo, xơ hóa vùng quanh xoang. Biểu hiện lâm sàng có thể bao gồm tăng áp lực tĩnh mạch cửa và/hoặc tăng transaminase.

Rối loạn cơ xương và mô liên kết

Kinh nghiệm sau khi thuốc được lưu hành trên thị trường với tần suất không rõ

Tiêu cơ vân, bao gồm cả trường hợp tử vong (xem mục Cảnh báo và Thận trọng).

Rối loạn thận và đường tiết niệu

Rất hiếm gặp (< 1/10.000)

Hoại tử ống thận cấp, viêm thận mô kẽ cấp tính và suy thận cấp.

Các rối loạn trên da và mô dưới da

Kinh nghiệm sau khi thuốc được lưu hành trên thị trường với tần suất không rõ

Viêm mạch dị ứng..

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Phản ứng phản vệ và các phản ứng mẫn cảm khác (cấp độ 3 hoặc 4) xảy ra đối với 2 – 3% bệnh nhân. Phản ứng dị ứng với các biểu hiện như co thắt phế quản, ban da, hạ huyết áp, ngứa, đỏ da và/hoặc mày đay có thể xảy ra sau khi dùng thuốc vài phút và ở bất kì chu trình điều trị nào. Kiểm soát bằng các biện pháp điều trị hỗ trợ, điều trị triệu chứng bằng adrenalin, corticosteroid và kháng histamin. Nếu cần, phải ngừng điều trị.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Với những bệnh nhân sử dụng một liều oxaliplatin là 85 mg/m2 ngay trước khi dùng 5-fluorouracil, không thấy có thay đổi nồng độ trong huyết tương của 5-fluorouracil.

In vitro, không thấy sự đổi chỗ đáng kể của oxaliplatin gắn kết với protein huyết tương khi dùng cùng với các thuốc sau: erythromycin, salicylat, granisetron, paclitaxel và natri valproat.

Thận trọng khi điều trị phối hợp oxaliplatin với các thuốc đã biết có tác dụng kéo dài khoảng QT. Trong trường hợp cần phối hợp như vậy, khoảng QT nên được giám sát chặt chẽ (xem phần Cảnh báo và Thận trọng). Thận trọng khi điều trị oxaliplatin được dùng đồng thời với các thuốc khác được biết có liên quan với tiêu cơ vân (xem phần Cảnh báo và Thận trọng)

4.9 Quá liều và xử trí:

Triệu chứng

Khi dùng quá liều, dự kiến là các tác dụng không mong muốn thêm trầm trọng.

Xử trí

Hiện nay chưa có thuốc giải độc đặc hiệu cho oxaliplatin. Cần tiến hành theo dõi liên tục các thông số máu, và điều trị các triệu chứng.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm dược lý trị liệu: Tác nhân chống ung thư khác, nhóm platin.

Mã ATC: L01XA03.

Cơ chế tác dụng

Oxaliplatin là một thuốc chống ung thư, thuộc nhóm mới của hợp chất chứa platin, trong đó nguyên tử platin được tạo phức với 1-2 diaminocyclohexan (“DACH”) và với nhóm oxalat.

Oxaliplatin là chất đồng phân đối hình đơn, Cis-[oxalato(trans-l -1,2DACH platinum].

Oxaliplatin có phổ tác dụng rộng về hai mặt: độc tính với tế bào trong ống nghiệm (in vitro) và hoạt tính chống ung thư trong cơ thể sống (in vivo) với nhiều hệ thống mô hình u khác nhau, bao gồm mô hình ung thư đại-trực tràng ở người. Oxaliplatin cũng chứng minh có hoạt tính in vitro và in vivo trên nhiều loại ung thư đề kháng với cisplatin.

Tác động hợp lực độc tế bào đã quan sát được khi kết hợp với 5-fluorouracil trong cả in vitro và in vivo.

Tuy những công trình nghiên cứu về cơ chế tác dụng của oxaliplatin chưa đi đến kết luận hoàn toàn rõ ràng, nhưng cũng đã cho thấy là những dẫn xuất tinh chất tạo thành qua quá trình chuyển dạng sinh học của oxaliplatin sẽ tương tác với DNA để tạo ra những liên kết bắt chéo khác chuỗi (inter-strand) và cùng chuỗi (intra-strand), nhờ đó phá vỡ tổng hợp DNA, dẫn đến tác dụng độc tế bào và chống ung thư.

Hiệu quả và an toàn trên lâm sàng

Ở những bệnh nhân ung thư đại-trực tràng di căn, hiệu quả của oxaliplatin (85 mg/m2 được lặp lại mỗi hai tuần) kết hợp với 5-fluorouracil/folinic acid (5-FU/FA) đã được ghi nhận trong ba nghiên cứu trên lâm sàng:

Trong điều trị bước một, nghiên cứu pha III, so sánh 2 nhánh (de Gramont, A et al., 2000), 420 bệnh nhân được phân bổ ngẫu nhiên vào nhóm đơn trị bằng 5-FU/FA (LV5FU2, N=210) hoặc vào nhóm điều trị kết hợp oxaliplatin với 5-FU/FA (FOLFOX4, N=210).

Đối với bệnh nhân được điều trị trước đó, nghiên cứu pha III so sánh 3 nhánh (Rothenberg, ML et al., 2003), 821 bệnh nhân đề kháng với điều trị phối hợp irinotecan (CPT-11) + 5-FU/FA được chọn ngẫu nhiên vào nhóm đơn trị 5-FU/FA (LV5FU2, N=275), nhóm đơn trị oxaliplatin (N=275), hoặc nhóm điều trị kết hợp oxaliplatin với 5-FU/FA (FOLFOX4, N=271).

Cuối cùng, nghiên cứu pha II không đối chứng (André, T et al., 1999), bao gồm những bệnh nhân đề kháng với đơn trị 5-FU/FA, những bệnh nhân này được điều trị phối hợp oxaliplatin và 5-FU/FA (FOLFOX4, N = 57).

Đối với 2 nghiên cứu ngẫu nhiên, trong điều trị bước một (de Gramont, A et al.) và trên bệnh nhân đã điều trị trước (Rothenberg ML et al.) , cho thấy tỷ lệ đáp ứng cao hơn có ý nghĩa, thời gian sống còn không tiến triển bệnh (PFS)/ thời gian đến khi bệnh tiến triển (TTP) gia tăng so với nhóm điều trị bằng 5-FU/FA đơn thuần. Trong nghiên cứu của Rothenberg ML và cs. được thực hiện trên những bệnh nhân đã điều trị trước và kháng thuốc, thì sự khác biệt về trung vị sống còn (OS) giữa nhóm dùng kết hợp của oxaliplatin và 5-FU/FA không đạt được ý nghĩa thống kê.

– xem Bảng 1, 2 và 3.

Image from Drug Label Content

Image from Drug Label Content

Image from Drug Label Content

Ở những bệnh nhân đã được điều trị trước (Rothenberg, ML et al., 2003), bệnh nhân có triệu chứng lúc khởi cứu, một tỷ lệ cao hơn của những bệnh nhân được điều trị oxaliplatin kết hợp với 5-FU/FA có cải thiện đáng kể các triệu chứng liên quan đến bệnh của họ so với những bệnh nhân được điều trị 5-FU/FA đơn thuần (27,7% so với 14,6%, p=0,0033).

Ở những bệnh nhân không được điều trị trước (de Gramont, A et al., 2000), không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm điều trị được tìm thấy đối với bất kỳ chỉ số nào về chất lượng sống. Tuy nhiên, chỉ số về chất lượng sống nhìn chung tốt hơn trong nhóm chứng đối với những đánh giá về tình trạng sức khỏe chung và đau, và xấu hơn trong nhóm oxaliplatin đối với buồn nôn và nôn.

Trong điều trị bổ trợ, nghiên cứu so sánh MOSAIC pha III, 2.246 bệnh nhân (899 bệnh nhân giai đoạn II/ Duke B2 và 1.347 bệnh nhân giai đoạn III/ Duke C) đã cắt bỏ hoàn toàn khối u nguyên phát của ung thư đại tràng, và được chọn ngẫu nhiên hoặc dùng đơn thuần 5-FU/FA (LV5FU2, N=1.123, trong đó B2/C=448/675) hoặc dùng oxaliplatin kết hợp 5-FU/FA (FOLFOX4, N=1.123 trong đó B2/C=451/672).

– xem Bảng 4.

Image from Drug Label Content

Nghiên cứu trên cho thấy lợi ích đáng kể về sống còn không bệnh tại thời điểm 3 năm đối với oxaliplatin kết hợp 5 FU/FA (FOLFOX4) khi so sánh với đơn trị 5-FU/FA (LV5FU2).

– xem Bảng 5.

Image from Drug Label Content

Sống còn toàn bộ (Phân tích ITT)

Tại thời điểm phân tích chỉ số sống còn không bệnh tại thời điểm 3 năm, chỉ số này là mục tiêu chính của nghiên cứu MOSAIC, có 85,1% bệnh nhân vẫn còn sống trong nhóm FOLFOX4 so với 83,8% trong nhóm LV5FU2. Điều này được diễn giải là giảm 10% nguy cơ tử vong trong nhóm FOLFOX4, nhưng không đạt được ý nghĩa thống kê (chỉ số Hazard = 0,90). Số liệu lần lượt đối với FOLFOX4 và LV5FU2 trong phân nhóm bệnh nhân giai đoạn II (Duke B2) là 92,2% so với 92,4% (chỉ số Hazard = 1,01) và trong phân nhóm bệnh nhân giai đoạn III (Duke C) là 80,4% so với 78,1% (chỉ số Hazard = 0,87).

Bệnh nhi

Oxaliplatin đơn trị đã được đánh giá trên quần thể bệnh nhi trong 2 nghiên cứu pha I (69 bệnh nhân) và 2 nghiên cứu pha II (166 bệnh nhân). Tổng cộng có 235 bệnh nhi (7 tháng tuổi – 22 tuổi) bị bướu đặc đã được điều trị. Hiệu quả của oxaliplatin đơn trị trên quần thể bệnh nhi chưa được thiết lập. Cả hai nghiên cứu pha II đã bị chấm dứt do thiếu đáp ứng của khối u.

Cơ chế tác dụng:

Oxaliplatin được biến đổi không thông qua enzym trong dịch sinh lý thành một số phức hợp có hoạt tính nhất thời, bao gồm monoaquo DACH platin và diaquo DACH platin bằng cách chuyển chỗ ligand oxalat. Các phức hợp này liên kết đồng hóa trị với các chuỗi base đặc hiệu của DNA tạo thành liên kết chéo với DNA ở cùng sợi (intrastrand) và đối sợi (interstrand). Các liên kết chéo được tạo thành ở vị trí N7 của 2 guanin kề nhau (GG), adenin-guanin kề nhau (AG) và giữa 2 guanin xen kẽ 1 nucleotid (GNG). Các liên kết chéo này ức chế DNA sao chép và phiên mã. Một vài chứng cứ cho thấy sự hiện diện của DACH của oxaliplatin có thể góp phần lớn vào ức chế tổng hợp DNA và độc tính tế bào so với cisplatin và làm mất kháng chéo giữa oxaliplatin và cisplatin. Oxaliplatin không có tính đặc hiệu đối với các pha của chu trình tế bào.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu và phân phối

Dược động học của từng chất có hoạt tính cụ thể chưa được xác định. Dược động học của platin siêu lọc, là hỗn hợp nhiều chất của platin có và không có hoạt tính, sau khi tiêm truyền trong 2 giờ oxaliplatin 130 mg/m2 mỗi 3 tuần trong 1 – 5 chu kỳ, và oxaliplatin 85 mg/m2 mỗi hai tuần trong 1 – 3 chu kỳ, kết quả như sau:

– xem Bảng 6.

Image from Drug Label Content

Các số liệu về trung bình AUC0-48, và Cmax được xác định ở chu kỳ 3 (85 mg/m2) hay ở chu kỳ 5 (130 mg/m2).

Các số liệu AUC, Vss, CL được xác định ở chu kỳ 1.

Các số liệu Cmax, AUC, AUCo-48, Vss và CL được xác định theo phương pháp phân tích không phân ngăn.

Các số liệu t1/2α, t1/2β, t1/2γ được xác định theo phương pháp phân tích có phân ngăn (kết hợp các chu kỳ 1 – 3).

Sau khi kết thúc 2 giờ tiêm truyền, 15% platin được tiêm truyền hiện diện trong vòng tuần hoàn, 85% còn lại được phân bố nhanh vào các các mô hoặc được đào thải qua nước tiểu. Do liên kết không thể đảo nghịch với hồng cầu và huyết tương, nên thời gian bán hủy của các chất ban đầu liên quan chặt chẽ với vòng đời tự nhiên của các albumin huyết tương và của hồng cầu. Không thấy có hiện tượng tích lũy platin trong huyết tương siêu lọc sau tiêm truyền 85 mg/m2 mỗi hai tuần, hay 130 mg/m2 mỗi ba tuần và trạng thái ổn định được thiết lập ngay chu kỳ 1 đối với chất ban đầu này. Sự biến thiên trong mỗi cá thể và giữa những cá thể nhìn chung là thấp.

Biến đổi sinh học

Sự biến đổi sinh học in vitro được cho là kết quả của sự thoái hóa không qua men và không có bằng chứng chuyển hóa qua trung gian men cytochrom P450 của vòng diaminocyclohexane (DACH).

Ở bệnh nhân, oxaliplatin được chuyển hóa đáng kể, và không phát hiện được thuốc còn nguyên vẹn trong huyết thanh siêu lọc khi kết thúc 2 giờ tiêm truyền. Một số chất chuyển hóa gây độc tế bào, bao gồm các dạng monocloro-, dicloro- và diaquo- DACH platin đã được xác định trong vòng tuần hoàn cùng với nhiều chất liên hợp không có hoạt tính ở những thời điểm muộn hơn.

Thải trừ

Platin chủ yếu được đào thải qua nước tiểu, thanh thải phần lớn trong vòng 48 giờ sau khi tiêm truyền.

Đến ngày thứ 5, khoảng 54% tổng liều đã dùng được tìm thấy trong nước tiểu và < 3% tìm thấy trong phân.

Đối với bệnh nhân suy thận, đã ghi nhận độ thanh thải giảm rõ rệt từ 17,6 ± 2,18 L/giờ xuống 9,95 ± 1,91 L/giờ cùng với giảm đáng kể thể tích phân bố từ 330 ± 40,9 xuống 241 ± 36,1 L.

Các quần thể đặc biệt

Bệnh nhân suy thận

Ảnh hưởng của suy thận lên việc sử dụng oxaliplatin đã được nghiên cứu trên các bệnh nhân có mức độ suy thận khác nhau. Oxaliplatin được sử dụng với liều 85 mg/m2 trên nhóm chứng có chức năng thận bình thường (CLcr > 80 mL/phút, n = 12), trên bệnh nhân suy thận nhẹ (CLcr = 50 đến 80 mL/phút, n = 13) và trung bình (CLcr = 30 đến 49 mL/phút, n = 11), và dùng liều 65 mg/m2 trên bệnh nhân suy thận nặng (CLcr < 30 mL/phút, n = 5). Phơi nhiễm trung vị lần lượt là 9, 4, 6, và 3 chu kỳ, và dữ liệu dược động học ở chu kỳ 1 thu được lần lượt trên 11, 13, 10 và 4 bệnh nhân.

Có sự gia tăng AUC của platin siêu lọc trong huyết thanh (PUF), AUC/ liều và giảm độ thanh thải (CL) thận và toàn thân và giảm thể tích phân bố ở trạng thái ổn định (Vss) kèm gia tăng suy giảm chức năng thận, đặc biệt trên nhóm (nhỏ) bệnh nhân suy thận nặng: ước tính điểm (90% CI) của tỷ số trung bình ước tính theo tình trạng thận so với chức năng thận bình thường của chỉ số AUC/liều lần lượt là 1,36 (1,08; 1,71), 2,34 (1,82; 3,01) và 4,81 (3,49; 6,64) trên bệnh nhân suy thận nhẹ, trung bình và nặng.

Sự thải trừ của oxaliplatin liên quan đáng kể với độ thanh thải creatinin. Tổng độ thanh thải (CL) platin huyết thanh siêu lọc tương ứng là 0,74 (0,59; 0,92), 0,43 (0,33; 0,55) và 0,21 (0,15; 0,29), và thể tích phân bố ở tình trạng ổn định (Vss) tương ứng là 0,52 (0,41; 0,65), 0,73 (0,59; 0,91) và 0,27 (0,20; 0,36) trên bệnh nhân suy thận nhẹ, trung bình và nặng. Vì thế, độ thanh thải toàn thân của platin huyết thanh siêu lọc giảm 26%, 57%, và 79% tương ứng trên bệnh nhân suy thận nhẹ, trung bình và nặng so với bệnh nhân có chức năng thận bình thường

Độ thanh thải thận của platin huyết thanh siêu lọc giảm 30%, 65%, và 84% tương ứng trên bệnh nhân suy thận nhẹ, trung bình và nặng so với bệnh nhân có chức năng thận bình thường.

Có sự gia tăng thời gian bán hủy beta của platin huyết thanh siêu lọc đi kèm tăng mức độ suy thận chủ yếu trên nhóm suy thận nặng. Mặc dù số lượng nhỏ bệnh nhân bị rối loạn chức năng thận nặng, nhưng những dữ liệu này là mối liên quan trên bệnh nhân suy thận nặng và nên được cân nhắc khi kê đơn oxaliplatin cho bệnh nhân suy thận.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Nước cất pha tiêm.

6.2. Tương kỵ :

Không nên trộn lẫn dung dịch đã pha loãng với các thuốc khác trong cùng 1 túi truyền dịch hoặc đường tiêm truyền. Như hướng dẫn trong phần Thận trọng đặc biệt trong pha chế và xử lý, oxaliplatin có thể được dùng cùng với folinic acid (FA) thông qua bộ dây truyền dịch chữ Y.

KHÔNG trộn lẫn với các thuốc hoặc dung dịch có tính kiềm, đặc biệt là 5-fluorouracil, trometamol, acid folinic chứa trometamol dưới dạng tá dược và muối trometamol của các sản phẩm khác. Các thuốc hoặc dung dịch có tính kiềm sẽ ảnh hưởng bất lợi đến độ ổn định của oxaliplatin.

KHÔNG pha loãng oxaliplatin với nước muối hoặc các dung dịch khác chứa ion clorid (bao gồm calci, kali hoặc natri clorid).

KHÔNG trộn lẫn với các thuốc khác trong một túi dịch truyền hoặc tiêm truyền đồng thời trong một đường truyền (xem mục Thận trọng đặc biệt trong pha chế và xử lý về hướng dẫn liên quan đến việc sử dụng đồng thời với acid folinic).

KHÔNG sử dụng vật liệu tiêm truyền có chứa nhôm.

6.3. Bảo quản:

Không bảo quản trên 30°C. Tránh ánh sáng.

Dung dịch sau pha loãng:

Trên quan điểm vi sinh, nên dùng thuốc ngay sau khi pha loãng.

Nếu không dùng ngay, thời gian và điều kiện bảo quản để dùng trước khi sử dụng thuộc trách nhiệm của người dùng và thông thường không nên kéo dài quá 24 giờ ở nhiệt độ 2 – 8°C, trừ khi quá trình pha loãng được diễn ra trong điều kiện vô trùng được kiểm soát và thẩm định

6.4. Thông tin khác :

Mô tả

Dung dịch trong suốt, không màu. pH: 4,5 – 6,5. Nồng độ thẩm thấu: khoảng 8 mOsmol/kg.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM