Thông tin tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc Zolaxa Rapid
Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng của Thuốc Zolaxa Rapid (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Olanzapine
Phân loại: Thuốc an thần /Thuốc chống loạn thần nhóm Benzodiazepine
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N05AH03.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: Zolaxa Rapid
Hãng sản xuất : Pharmaceutical Works Polpharma S.A.
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén phân tán 5 mg, 10 mg, 15 mg và 20 mg.
Thuốc tham khảo:
| ZOLAXA RAPID 5 | ||
| Mỗi viên nén phân tán có chứa: | ||
| Olanzapine | …………………………. | 5 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

| ZOLAXA RAPID 10 | ||
| Mỗi viên nén phân tán có chứa: | ||
| Olanzapine | …………………………. | 10 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

| ZOLAXA RAPID 15 | ||
| Mỗi viên nén phân tán có chứa: | ||
| Olanzapine | …………………………. | 15 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

| ZOLAXA RAPID 20 | ||
| Mỗi viên nén phân tán có chứa: | ||
| Olanzapine | …………………………. | 20 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Thông tin nhà sản xuất:
Polpharma là công ty dược phẩm Ba Lan và là một trong những nhà sản xuất thuốc hàng đầu ở khu vực Trung và Đông Âu. Công ty chuyên sản xuất thuốc Generic trong nhiều lĩnh vực như kháng sinh, giảm đau, tim mạch… và đã cung cấp ở nhiều nước trên thế giới.

► Tên công ty: Pharmaceutical Works Polpharma S.A. (Polfa SA Tarchomin).
► Địa chỉ: Pelplińska 19, 83-200 Starogard Gdański, Ba Lan (Cơ quan quản lý dược Ba Lan thuộc danh sách SRA).
► Website: https://polpharma.pl/en/
► Lịch sử hình thành: từ năm 1935.
► Dây chuyền sản xuất: EU-GMP ; Hiện tại công ty có hơn 03 nhà máy nghiên cứu và 05 nhà máy sản xuất thuốc ở dạng bào chế khác nhau bao gồm gel, bình xịt, viên nén, viên bao, viên nang, thuốc tiêm, thuốc nhỏ mắt….
► Sản phẩm thế mạnh: Thuốc kháng sinh tiêm, thuốc nhỏ mắt, thuốc tai mũi họng, thuốc tiêu hóa, thần kinh, mỹ phẩm, da liễu…
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Người lớn
Olanzapine được chỉ định điều trị bệnh tâm thần phân liệt.
Olanzapine có tác dụng duy trì sự cải thiện về mặt lâm sàng trong khi tiếp tục điều trị ở những bệnh nhân cho thấy sự đáp ứng điều trị ban đầu.
Olanzapine được chỉ định điều trị giai đoạn hưng cảm từ trung bình đến nặng.
Ở các bệnh nhân trong giai đoạn hưng cảm có đáp ứng với việc điều trị bằng Olanzapine, Olanzapine được chỉ định để phòng ngừa sự tái phát cho các bệnh nhân rối loạn lưỡng cực.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Olanzapine có thể được sử dụng mà không cần quan tâm đến các bữa ăn vì sự hấp thu không bị ảnh hưởng bởi thức ăn. Giảm dần từng bước liều dùng nên được xem xét khi ngừng sử dụng Olanzapine.
Viên nén phân tán trong miệng Zolaxa Rapid nên được đặt trong miệng, nơi mà nó sẽ nhanh chóng phân tán trong nước bọt, để có thể dễ dàng nuốt. Lấy các viên thuốc còn nguyên vẹn từ vỉ thuốc là khó khăn. Viên nén phân tán trong miệng rất dễ vỡ, nó phải được lấy ra ngay sau khi mở vỉ. Có thể chọn cách phân tán thuốc trong một ly nước hoặc các nước giải khát phù hợp khác (nước cam, nước táo, sữa hoặc cà phê) ngay trước khi sử dụng.
Viên nén phân tán trong miệng olanzapine tương đương sinh học với viên nén bao phim olanzapine, với một tỷ lệ và mức độ hấp thu tương tự. Nó được sử dụng với liều lượng và tần suất tương tự như viên nén bao phim olanzapine. Viên nén phân tán trong miệng olanzapine có thể được sử dụng thay thế cho viên nén bao phim olanzapine.
Liều dùng:
Người lớn
Bệnh tâm thân phân liệt: Liều khởi đầu khuyến cáo là từ 5 đến 10 mg mỗi ngày.
Giai đoạn hưng phấn: Liều khởi đầu là 15 mg khi sử dụng liều duy nhất mỗi ngày trong đơn trị liệu hoặc 10 mg mỗi ngày trong điều trị kết hợp.
Phòng ngừa tái phát trong rối loạn lưỡng cực: Liều khởi đầu khuyến cáo là 10mg mỗi ngày. Đối với bệnh nhân đang sử dụng Olanzapine để điều trị giai đoạn hưng cảm, tiếp tục điều trị để ngăn ngừa tái phát với liều tương tự. Khi xảy ra giai đoạn hưng cảm, hỗn hợp hoặc trầm cảm, nên tiếp tục điều trị bằng Olanzapine (với liều tối ưu hóa khi cần thiết), kèm theo liệu pháp bổ sung để điều trị các triệu chứng tâm thần, như chỉ định lâm sàng.
Trong quá trình điều trị tâm thần phân liệt, giai đoạn hưng cảm và phòng ngừa tái phát trong rối loạn lưỡng cực, liều dùng hàng ngày sau đó có thể được điều chỉnh trong khoảng từ 5 đến 20 mg mỗi ngày dựa trên cơ sở tình trạng lâm sàng của từng bệnh nhân. Tăng liều lớn hơn liều đề nghị ban đầu chỉ nên tiến hành sau khi đánh giá lại lâm sàng một cách thỏa đáng và thường tiến hành ở khoảng thời gian không ít hơn 24 giờ.
Trẻ em và thanh thiếu niên
Olanzapine không được đề nghị sử dụng cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi do thiếu dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả. Tăng cân, biến đổi lipid và prolactin đã được báo cáo xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu ngắn hạn ở các bệnh nhân vị thành niên so với các bệnh nhân người lớn.
Người già
Liều khởi đầu thấp hơn (mỗi ngày 5mg) thường không được chỉ định nhưng cần xem xét sử dụng cho những người 65 tuổi trở lên khi các yếu tố lâm sàng đảm bảo.
Suy gan và/ hoặc suy thận
Liều khởi đầu thấp hơn (mỗi ngày 5mg) cần được cân nhắc sử dụng cho các bệnh nhân này. Trong trường hợp suy gan trung bình (xơ gan, Child-Pugh loại A hoặc B), liều khởi đầu nên là 5 mg và chỉ được tăng lên một cách thận trọng.
Giới tính
Liều khởi đầu và khoảng liều dùng thường không cần thay đổi cho bệnh nhân nữ so với bệnh nhân nam.
Bệnh nhân hút thuốc
Liều khởi đầu và khoảng liều dùng thường không cần thay đổi cho các bệnh nhân không hút thuốc lá so với bệnh nhân hút thuốc lá.
Khi có nhiều hơn một yếu tố dẫn đến sự chuyển hóa chậm hơn (giới tính nữ, người có tuổi, tình trạng không hút thuốc), cần xem xét để giảm liều khởi đầu.Khi có chỉ định tăng liều từng bước, cẩn thận trọng ở các bệnh nhân này.
4.3. Chống chỉ định:
Mẫn cảm với hoạt chất hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.
Bệnh nhân được biết có nguy cơ glôcôm góc hẹp.
4.4. Thận trọng:
Trong quá trình điều trị thuốc chống loạn thần, việc cải thiện tình trạng lâm sàng của bệnh nhân có thể mất vài ngày đến vài tuần. Bệnh nhân cần được giám sát chặt chẽ trong thời gian này.
Sa sút trí tuệ liên quan đến rối loạn tâm thần và/hoặc rối loạn hành vi:
Olanzapin không được phê duyệt để điều trị loạn thần liên quan đến mất trí và/hoặc rối loạn hành vi cũng như không được khuyến cáo sử dụng cho những bệnh nhân này do thuốc làm tăng tỷ lệ tử vong và nguy cơ xảy ra tai biến mạch vành. Trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng giả dược (trong 6-12 tuần) trên bệnh nhân cao tuổi (trung bình 78 tuổi) bị loạn thần liên quan đến mất trí và/hoặc rối loạn hành vi, tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân sử dụng olanzapin tăng gấp 2 lần so với ở nhóm dùng giả dược (tỷ lệ tử vong ở 2 nhóm lần lượt là 3,5% và 1,5%). Tỷ lệ tử vong cao không liên quan đến liều olanzapin (liều trung bình hàng ngày là 4,4mg) hay thời gian điều trị. Các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ tử vong ở những bệnh nhân này bao gồm trên 65 tuổi, khó nuốt, an thần, kém dinh dưỡng và mất nước, các tình trạng ở phổi (như viêm phổi, có hoặc không kèm theo tình trạng hít dịch) hoặc sử dụng đồng thời các dẫn chất benzodiazepin. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong ở nhóm điều trị bằng olanzapin cao hơn nhóm dùng giả dược không phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ này.
Cũng trong các thử nghiệm lâm sàng này, các biến cố bất lợi mạch vành (như đột quỵ, cơn thiếu máu cơ tim thoáng qua), kể cả tử vong đã được ghi nhận. Tỷ lệ biến cố bất lợi mạch vành ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng olanzapin cao gấp 3 lần ở nhóm dùng giả dược (với tỷ lệ lần lượt là 1,3% và 0,4%). Tất cả bệnh nhân sử dụng olanzapin và giả dược gặp biến cố bất lợi mạch vành đều mang các yếu tố nguy cơ. Tuổi trên 75 và mất trí do tổn thương mạch não/mất trí thể hỗn hợp đã được xác định là các yếu tố nguy cơ gây ra biến cố bất lợi mạch vành khi điều trị bằng olanzapin. Hiệu quả của olanzapin chưa được chứng minh trong các thử nghiệm này.
Bệnh Parkinson
Việc sử dụng olanzapin trong điều trị loạn thần liên quan đến chủ vận dopamin ở bệnh nhân mắc bệnh Parkinson không được khuyến cáo. Trong các thử nghiệm lâm sàng, các triệu chứng Parkinson trở nên nghiêm trọng hơn và tình trạng ảo giác được ghi nhận với tần suất rất phổ biến ở nhóm sử dụng olanzapin và cao hơn so với nhóm dùng giả dược, đồng thời kết quả thử nghiệm cũng cho thấy olanzapin không hiệu quả hơn giả dược trong điều trị các triệu chứng loạn thần. Trong các thử nghiệm này, ban đầu bệnh phải được ổn định bằng liều thấp nhất của các thuốc điều trị Parkinson (thuốc chủ vận dopamin) và duy trì cùng liều các thuốc này trong suốt quá trình nghiên cứu. Olanzapine được bắt đầu với liều 2,5 mg/ ngày và điều chỉnh tối đa lên đến 15 mg/ ngày.
Hội chứng an thần kinh ác tính (NMS):
NMS là tình trạng có khả năng đe dọa tính mạng liên quan với việc điều trị bằng các thuốc chống loạn thần. Có rất ít báo cáo về các trường hợp NMS có liên quan với olanzapine. Biểu hiện lâm sàng của NMS là sốt cao, cứng cơ, thay đổi tình trạng tâm thần, và có sự bất ổn định ở hệ thần kinh tự động (bất thường về mạch hoặc huyết áp, nhịp tim nhanh, vã mồ hôi, và loạn nhịp tim). Các dấu hiệu khác có thể có bao gồm tăng creatinine phosphokinase, myoglobin niệu (tiêu cơ vân), và suy thận cấp. Khi bệnh nhân có các dấu hiệu và triệu chứng của NMS, hoặc có sốt cao không rõ nguyên nhân mà không có những biểu hiện lâm sàng của NMS, phải ngưng tất cả các thuốc chống loạn thần, kể cả olanzapine.
Tăng đường huyết và bệnh tiểu đường
Tăng đường huyết và/ hoặc tiến triển hoặc kịch phát bệnh tiểu đường liên quan tới nhiễm acid ceton hoặc hôn mê đã được báo cáo nhưng hiếm gặp, bao gồm cả một số trường hợp tử vong.
Một vài trường hợp trước đó có sự gia tăng trọng lượng cơ thể đã được báo cáo có thể là nhân tố dễ mắc phải tăng đường huyết và bệnh tiểu đường.
Theo dõi lâm sàng thích hợp nên được tiến hành phù hợp với hướng dẫn sử dụng thuốc chống loạn thần ví dụ như đo đường huyết lúc ban đầu, 12 tuần sau khi bắt đầu điều trị với olanzapine và mỗi năm sau đó.
Bệnh nhân điều trị với bất kỳ thuốc chống loạn thần nào nên được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của tăng đường huyết (như chứng khát nhiều,tiểu nhiều, ăn nhiều và yếu mệt), các bệnh nhân đái tháo đường hoặc có yếu tố nguy cơ bệnh tiểu đường cần được theo dõi đường huyết thường xuyên. Trọng lượng cơ thể cũng cần được theo dõi định kỳ, ví dụ như vào lúc ban đầu, 4, 8 và 12 tuần sau khi bắt đầu sử dụng olanzapin và hàng quý sau đó.
Thay đổi lipid
Sự thay đổi không mong muốn các lipid đã được quan sát thấy ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapine trong các thử nghiệm lâm sàng sử dụng giả dược có kiểm soát. Thay đổi lipid cần được kiểm soát bằng các biện pháp lâm sàng thích hợp, đặc biệt ở các bệnh nhân loạn chuyển hóa mỡ và các bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ rồi loạn lipid. Bệnh nhân điều trị với bất kỳ thuốc chống loạn thần cần được theo dõi thường xuyên các chỉ số về. lipid phù hợp với hướng dẫn sử dụng thuốc chống loạn thần, ví dụ như vào lúc ban đầu, 12 tuần sau khi bắt đầu điều trị với olanzapine và mỗi 5 năm sau đó.
Hoạt tính kháng cholinergic
Trong khi olanzapine đã chứng minh có hoạt động kháng cholinergic in vitro, kết quả từ các thử nghiệm lâm sàng cho thấy có một tỷ lệ thấp của các biến cố liên quan. Tuy nhiên, do kinh nghiệm lâm sàng với olanzapine còn hạn chế ở những bệnh nhân có bệnh đồng thời, cần thận trọng khi sử dụng cho bệnh nhân phì đại tiền liệt tuyến, liệt ruột và các tình trạng liên quan.
Chức năng gan
Tăng thoáng qua, không có triệu chứng của các aminotransferase gan, ALT, AST thường được ghi nhận, đặc biệt là trong điều trị sớm. Nên thận trọng và theo dõi ở những bệnh nhân tăng ALT và/hoặc AST, bệnh nhân có dấu hiệu và triệu chứng của suy gan, bệnh nhân có các tình trạng làm hạn chế chức năng dự trữ gan từ trước, và ở những bệnh nhân đang được điều trị với các loại thuốc có khả năng gây độc cho gan. Trong trường hợp viêm gan (bao gồm tổn thương tế bào gan, gan ứ mật hoặc hỗn hợp) đã được chẩn đoán, nên ngưng điều trị với olanzapine.
Giảm bạch cầu trung tính
Cần thận trọng khi sử dụng olanzapin cho bệnh nhân có số lượng bạch cầu và/hoặc bạch cầu trung tính thấp bất kể nguyên nhân, bệnh nhân đang sử dụng các thuốc đã được xác định là gây giảm bạch cầu trung tính, bệnh nhân có tiền sử suy tủy xương hoặc nhiễm độc tủy xương do dùng thuốc, bệnh nhân suy tủy xương do bệnh kèm theo, do xạ trị hoặc hóa trị và bệnh nhân tăng bạch cầu ái toan hoặc mắc bệnh tăng sinh tủy xương. Giảm bạch cầu đã được báo cáo thường xảy ra khi olanzapine và valproate được sử dụng đồng thời..
Ngừng điều trị
Các triệu chứng cấp tính như đổ mồ hôi, mất ngủ, run, lo lắng, buồn nôn và nôn đã được ghi nhận với tần suất hiếm gặp (<0,01%) khi olanzapin ngừng sử dụng đột ngột.
Khoảng QT
Trong các thử nghiệm lâm sàng, tình trạng kéo dài khoảng QTc có ý nghĩa lâm sàng (QT hiệu chỉnh theo Fridericia [QTcF] ≥500mili giây (msec) tại bất kỳ thời điểm nào sau khi dùng thuốc ở bệnh nhân có trị số QTcF cơ bản <500msec) thường không phổ biến (tần suất 0,1 đến 1%) ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapin và không có sự khác biệt đáng kể về các biến cố ở tim khi so sánh giữa 2 nhóm sử dụng olanzapin và giả dược. Tuy nhiên, giống như khi sử dụng các thuốc chống loạn thần khác, cần thận trọng khi kê đơn olanzapin cùng với các thuốc đã được biết là gây kéo dài khoảng QTc, đặc biệt là cho bệnh nhân cao tuổi, bệnh nhân mắc hội chứng QT kéo dài bẩm sinh, suy tim sung huyết, phì đại tim, hạ kali máu và hạ magie máu.
Bệnh nghẽn tĩnh mạch
Mối liên quan giữa thời gian sử dụng olanzapine và bệnh nghẽn tĩnh mạch (VTE) đã được báo cáo ở mức độ không phổ biến (> 0,1% và < 1%). Mối liên hệ nhân quả giữa bệnh nghẽn tĩnh mạch và việc điều trị với olanzapine chưa được thiết lập. Tuy nhiên, ở các bệnh nhân có sẵn các nguy cơ của bệnh nghẽn tĩnh mạch, tất cả các yếu tố làm tăng nguy cơ của bệnh nghẽn tĩnh mạch, ví dụ như các bệnh nhân bất động, cần được xác định và tiến hành các biện pháp phòng ngừa.
Tác dụng chung trên thần kinh trung ương
Căn cứ vào các tác dụng chủ yếu trên hệ thần kinh trung ương của olanzapine, cần thận trọng khi sử dụng kết hợp với các thuốc có tác động trung ương khác và rượu. Vì olanzapine bộc lộ tính đối kháng dopamine in vitro, nó có thể đối kháng tác dụng của các thuốc chủ vận dopamine trực tiếp và gián tiếp.
Động kinh
Olanzapine cần được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân có tiền sử động kinh hoặc có các yếu tô có thể làm giảm ngưỡng động kinh. Các cơn động kinh đã được báo cáo hiếm khi xảy ra ở những bệnh nhân khi điều trị với olanzapine. Trong hầu hết các trường hợp này, có tiền sử động kinh hoặc các yếu tô nguy cơ co giật đã được báo cáo.
Loạn vận động muộn
Trong các nghiên cứu so sánh trong thời gian một năm hoặc ít hơn, điều trị olanzapine có tỷ lệ các rối loạn vận động sớm thấp hơn có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, nguy cơ rối loạn vận động muộn tăng lên khi điều trị lâu dài, và do đó nếu xuất hiện các dấu hiệu hoặc triệu chứng của rối loạn vận động muộn ở bệnh nhân sử dụng olanzapine, nên cân nhắc giảm liều hoặc ngưng điều trị. Những triệu chứng này có thể tạm thời xấu đi hoặc thậm chí xuất hiện sau khi ngưng điều trị.
Hạ huyết áp tư thế
Hạ huyết áp tư thế thường không phổ biến ở bệnh nhân cao tuổi trong các thử nghiệm lâm sàng với olanzapin. Giống như khi sử dụng các thuốc chống loạn thần khác, cần định kỳ kiểm tra huyết áp của bệnh nhân trên 65 tuổi.
Tử vong đột ngột do tim
Trong các báo cáo lưu hành trên thị trường với olanzapIne, chết đột ngột do tim đã được báo cáo ở những bệnh nhân sử dụng olanzapine. Trong một nghiên cứu hồi cứu quan sát, nguy cơ tử vong tim đột ngột ở những bệnh nhân được điều trị với olanzapine cao khoảng gấp đôi nguy cơ bệnh nhân không sử dụng thuốc chống loạn thận. Trong nghiên cứu này, nguy cơ của olanzapine được so sánh với các nguy cơ của các thuốc chống loạn thần không điển hình bao gồm trong một phân tích gộp.
Bệnh nhân nhi
Olanzapine không được chỉ định để sử dụng trong điều trị cho trẻ em và thanh thiếu niên. Các nghiên cứu ở bệnh nhân từ 13-17 tuổi cho thấy các phản ứng bất lợi khác nhau, bao gồm tăng cân, thay đổi các thông số chuyển hóa và tăng nồng độ prolactin. Kết cục lâu dài liên quan với các biến cố này vẫn chưa được nghiên cứu và vẫn chưa được biết.
Phenylalanine
Viên nén phân tán trong miệng Zolaxa Rapid chứa aspartame, một chất có nguồn gốc từ phenylalanine, có thể gây hại đối với người bị acid phenylpyruvic niệu.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Không có các nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc được thực hiện. Do olanzapine có thê gây buồn ngủ và chóng mặt, bệnh nhân cần thận trọng khi lái xe và vận hành máy móc.
4.5. Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: C
US FDA pregnancy category: C
Thời kỳ mang thai:
Chưa có các nghiên cứu đầy đủ và có kiểm soát chặt chẽ ở phụ nữ mang thai. Bệnh nhân cần được tư vấn đề thông báo cho bác sĩ nếu họ có thai hay dự định có thai trong khi điều trị bằng Olanzapine. Tuy nhiên, do kinh nghiệm sử dụng trên người còn hạn chế, Olanzapine chỉ được sử dụng trong thai kỳ khi lợi ích lớn hơn nguy cơ tiềm tàng đối với thai nhi.
Thời kỳ cho con bú:
Trẻ sơ sinh có mẹ sử dụng thuốc chống loạn thần trong ba tháng cuối của thai kỳ có nguy cơ có các phản ứng có hại bao gồm các triệu chứng ngoại tháp và/ hoặc các triệu chứng ngưng thuốc, các triệu chứng này có thể khác nhau về mức độ và thời gian sau khi trẻ ra đời. Đã có các báo cáo về tình trạng kích động, tăng trương lực, giảm trương lực, run, buồn ngủ, suy hô hấp và rối loạn ăn uống. Do đó, trẻ sơ sinh cần được theo dõi cẩn thận.
Trong một nghiên cứu trên phụ nữ khỏe mạnh đang cho con bú, Olanzapine có bài tiết qua sữa mẹ. Nồng độ thuốc trung bình ở trẻ bú mẹ (mg/ kg) ở trạng thái ổn định, ước tính bằng 1.8% liều Olanzapine dùng cho người mẹ (mg/ kg). Bệnh nhân cần được tư vấn không cho trẻ bú sữa mẹ nếu họ đang dùng Olanzapine.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Người lớn
Các phản ứng bất lợi phổ biến nhất (được ghi nhận ở ≥1% bệnh nhân) liên quan đến việc sử dụng olanzapin trong các thử nghiệm lâm sàng là ngủ gà và tăng cân, tăng bạch cầu ái toan, tăng nồng độ prolactin, cholesterol, glucose và triglycerid, glucose niệu, tăng thèm ăn, chóng mặt, bồn chồn, hội chứng Parkinson, loạn vận động, Hạ huyết áp tư thế đứng, tác dụng kháng cholinergic, tăng men gan thoáng qua không biểu hiện triệu chứng, phát ban, suy nhược, mệt mỏi và phù nề.
Bảng sau đây liệt kê các phản ứng có hại và nghiên cứu xét nghiệm quan sát được từ các báo cáo tự phát và trong các thử nghiệm lâm sàng. Trong mỗi nhóm tần suất, phản ứng có hại được trình bày theo thứ tự giảm mức độ nghiêm trọng.
Tần suất phản ứng bất lợi được quy ước như sau: rất phổ biến (≥10%), phổ biến (≥1% và <10%), không phổ biến (≥0,1% và <1%), hiếm gặp (≥0,01% và <0,1%), rất hiếm (<0,001%), chưa được biết đến (chưa thể ước lượng tần suất từ dữ liệu hiện có).

Sử dụng thuốc lâu dài (ít nhất 48 tuần)
Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc kéo dài gặp phản ứng bất lợi, có ý nghĩa lâm sàng như tăng cân, tăng nồng độ glucose, cholesterol toàn phần/LDL/HDL hoặc triglycerid tăng lên theo thời gian. Ở người trưởng thành đã hoàn tất đợt điều trị kéo dài 9-12 tháng, tốc độ tăng đường huyết trung bình chậm lại sau khoảng 6 tháng.
Thông tin thêm về các nhóm dân cư đặc biệt
Trong các thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân cao tuổi bị sa sút trí tuệ, việc điều trị với olanzapine có liên quan đến tỉ lệ chết và các phản ứng có hại trên mạch máu não cao hơn so với giả dược. Các phản ứng có hại rất phổ biến liên quan tới việc sử dụng olanzapine trong nhóm bệnh nhân này là dáng đi bất thường và té ngã. Viêm phỏi, tăng nhiệt độ cơ thể, hôn mê, ban đỏ, ảo giác thị giác và tiểu không tự chủ thường được quan sát thấy.
Trong các thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân loạn thần do cảm ứng thuốc (chủ vận dopamin) có biểu hiện hội chứng Parkinson, tình trạng nặng thêm của triệu chứng Parkinson và ảo giác đã được ghi nhận với tần suất phổ biến và với tỷ lệ cao hơn so với dùng giả dược.
Trong một thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, sử dụng đồng thời valproat cùng với olanzapin gây giảm bạch cầu trung tính với tỷ lệ 4,1%. Một yếu tố nguy cơ gây ra tình trạng này là nồng độ cao của valproat trong huyết tương. Sử dụng olanzapin cùng với lithi và valproat làm tăng (≥10%) tỷ lệ run rẩy, khô miệng, tăng thèm ăn và tăng cân. Loạn vận ngôn nói cũng đã được ghi nhận với tần suất phổ biến. Trong quá trình điều trị bằng olanzapin kết hợp với lithi hoặc divalproex, tình trạng tăng thể trọng ≥7% so với trước khi dùng thuốc được ghi nhận ở 17,4% số bệnh nhân điều trị trong thời gian ngắn (tới 6 tuần). Điều trị kéo dài bằng olanzapin (tới 12 tháng) để dự phòng tái phát ở bệnh nhân rối loạn lưỡng cực làm tăng thể trọng ≥7% ghi nhận được ở 39,9% số bệnh nhân.
Bệnh nhân nhi
Olanzapin không được chỉ định để điều trị cho bệnh nhân nhi và thiếu niên dưới 18 tuổi. Mặc dù chưa có nghiên cứu lâm sàng nào được thiết kế để so sánh trực tiếp 2 nhóm bệnh nhân là thiếu niên và người lớn đã được tiến hành, dữ liệu từ các thử nghiệm trên thiếu niên được so sánh với các dữ liệu từ các thử nghiệm trên người lớn.
Bảng sau đây tóm tắt các phản ứng bất lợi được ghi nhận ở thiếu niên (tuổi từ 13-17) với tần suất cao hơn so với ở người lớn hoặc các phản ứng bất lợi chỉ được ghi nhận trong các thử nghiệm ngắn hạn ở thiếu niên. Tình trạng tăng cân (≥7%) rõ rệt trên lâm sàng phổ biến hơn ở bệnh nhân thiếu niên so với ở người lớn khi mức độ phơi nhiễm thuốc là tương đương. Mức độ tăng cân và tỷ lệ bệnh nhân thiếu niên tăng cân rõ rệt trên lâm sàng khi dùng thuốc kéo dài (tối thiểu 24 tuần) cao hơn so với khi dùng thuốc ngắn hạn.
Các thuật ngữ tần số được định nghĩa như sau:
Rất phổ biến (> 1/10), phổ biến (> 1/100 đến <1/10).

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng điều trị trong trường hợp xuất hiện các biểu hiện của hội chứng an thần kinh ác tính. Điều trị hỗ trợ tích cực và theo dõi chặt bệnh nhân. Cần thận trọng khi sử dụng lại olanzapin cho bệnh nhân sau khi xuất hiện hội chứng an thần kinh ác tính: nên lựa chọn các thuốc ít gây hội chứng này hơn và cần tăng liều từ từ cho bệnh nhân.
Ngừng điều trị hoặc giảm liều olanzapin nếu xuất hiện loạn động muộn trong quá trình sử dụng thuốc.
Giảm liều hoặc dùng thuốc 1 lần/ngày lúc đi ngủ nếu xuất hiện buồn ngủ trong quá trình sử dụng olanzapin.
Sử dụng các biện pháp điều trị dùng thuốc hoặc không dùng thuốc để điều chỉnh rối loạn lipid máu nếu xuất hiện trong quá trình điều trị bằng olanzapin. Có thể cân nhắc sử dụng thay thế bằng các thuốc an thần kinh khác ít gây ảnh hưởng trên chuyển hóa lipid như risperidon, ziprasidon hay aripiprazol.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Bệnh nhân nhi:
Các nghiên cứu về sự tương tác chỉ được tiên hành ở người lớn.
Các tương tác có thể ảnh hưởng đến olanzapin
Vì olanzapin được chuyển hóa bởi CYP1A2 nên các chất gây cảm ứng hoặc ức chế isoenzym này có thể ảnh hưởng đến dược động học của olanzapin.
Ảnh hưởng của CYP1A2
Sự chuyển hóa olanzapin có thể bị cảm ứng bởi hút thuốc lá hoặc sử dụng carbamazepin, kết quả là làm giảm nồng độ olanzapin. Chỉ quan sát thấy hiện tượng tăng nhẹ đến vừa độ thanh thải của olanzapin. Ảnh hưởng lâm sàng thường không đáng kể, tuy nhiên cần theo dõi tình trạng bệnh nhân và có thể cân nhắc tăng liều olanzapin nếu cần thiết.
Các chất ức chế CYP1A2
Fluvoxamin, một thuốc ức chế CYP1A2 đặc hiệu, đã được ghi nhận là ức chế rõ rệt chuyển hóa của olanzapin. Tỷ lệ tăng Cmax trung bình của olanzapin sau khi sử dụng fluvoxamin là 54% ở nữ giới không hút thuốc và 77% ở nam giới hút thuốc. Mức độ tăng AUC của olanzapin ở 2 nhóm đối tượng này là 52% và 108%. Nên cân nhắc sử dụng liều khởi đầu thấp hơn cho bệnh nhân đang điều trị bằng fluvoxamin hoặc bất kỳ thuốc ức chế CYP1A2 nào khác như ciprofloxacin. Giảm liều olanzapine nên được xem xét nếu được bắt đầu điều trị với một chất ức chế CYP1A2.
Giảm sinh khả dụng
Than hoạt tính làm giảm sinh khả dụng của olanzapin dùng theo đường uống từ 50% đến 60% và do đó, cần uống than hoạt tính ít nhất 2 giờ trước hoặc sau khi sử dụng olanzapin.
Fluoxetin (một thuốc ức chế CYP2D6), liều đơn thuốc kháng acid (nhôm, magnesi) hoặc cimetidin không ảnh hưởng đáng kể đến dược động học của olanzapin.
Khả năng olanzapine ảnh hưởng đến sản phẩm thuốc khác
Olanzapin có thể đối kháng tác dụng của các thuốc chủ vận dopamin trực tiếp và gián tiếp.
Olanzapine không ức chế các isoenzymes CYP450 chủ yếu trong in vitro (như 1A2, 2D6, 2C9, 2C19, 3A4). Vì vậy, chưa có tương tác cụ thể nào được khẳng định thông qua các thử nghiệm in vivo do chưa ghi nhận tác dụng ức chế của olanzapin đối với các thuốc sau: thuốc chống trầm cảm 3 vòng (chủ yếu chuyển hóa bởi CYP2D6), warfarin (CYP2C9), theophyllin (CYP1A2) hoặc diazepam (CYP3A4 và 2C19).
Olanzapine cho thấy không có tương tác khi sử dụng phối hợp với lithi hoặc biperiden.
Theo dõi nồng độ huyết thanh của valproate không cho thấy việc điều chỉnh liều lượng valproate là cần thiệt sau khi sử dụng đồng thời olanzapine.
Tác động chung trên hệ thần kinh trung ương
Cần thận trọng ở những bệnh nhân sử dụng rượu hay các sản phẩm thuốc có thể gây trầm cảm hệ thần kinh trung ương.
Việc sử dụng đồng thời olanzapine với thuốc Parkinson ở những bệnh nhân bị bệnh Parkinson và sa sút trí tuệ không được đề nghị.
Khoảng QTc
Cần thận trọng khi sử dụng olanzapine đồng thời với các sản phẩm thuốc được biết làm tăng khoảng QTc.
4.9 Quá liều và xử trí:
Dấu hiệu và triệu chứng
Các triệu chứng quá liều rất phổ biến (tần suất >10%) bao gồm nhịp tim nhanh, kích động/hung hăng, loạn vận ngôn, các triệu chứng ngoại tháp khác nhau và giảm mức độ nhận thức từ an thần đến hôn mê.
Di chứng có ý nghĩa về mặt y tế khác bao gồm mê sảng, co giật, hôn mê, hội chứng an thần kinh ác tính, ức chế hô hấp, viêm phổi sặc, tăng huyết áp hoặc hạ huyết áp, loạn nhịp tim (<2% các trường hợp quá liều) và ngưng tim phổi. Kết quả gây tử vong đã được báo cáo cho quá liều cấp tính với liều thấp 450 mg, nhưng cũng có báo cáo về trường hợp sống sót sau khi quá liều cấp tính khoảng 2 g olanzapine đường uống.
Kiểm soát quá liều
Không có thuốc giải độc đặc hiệu đối với Olanzapine. Gây nôn không được khuyến cáo. Tiến hành các biện pháp tiêu chuẩn để kiểm soát quá liều có thể được chỉ định (rửa dạ dày, sử dụng than hoạt tính). Sử dụng đồng thời than hoạt tính cho thây giảm sinh khả dụng đường uống của Olanzapine từ 50 đến 60%.
Điều trị triệu chứng và theo dõi chức năng của các cơ quan quan trọng cần được tiến hành tùy theo biểu hiện lâm sàng, bao gồm cả điều trị hạ huyết áp và trụy tuần hoàn, hỗ trợ chức năng hô hấp. Không được sử dụng epinephrine, dopamine, hoặc các thuốc cường giao cảm khác có hoạt tính chủ vận beta vì sự kích thích beta có thể làm trầm trọng thêm tình trạng hạ huyết áp.
Cần theo dõi tim mạch để phát hiện khả năng các rối loạn nhịp tim. Giám sát và theo dõi y tế chặt chẽ cần được tiếp tục cho đến khi bệnh nhân hồi phục.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Nhóm dược lý điều trị: các diazepine, các oxazepine và các thiazepine.
Mã ATC: N05A H03.
Olanzapin là thuốc chống loạn thần, chống hưng cảm và ổn định tâm trạng có hoạt tính dược lý rộng trên một số hệ receptor. Thuốc thê hiện tính đối kháng đối với serotonin (5-HT2), dopamin (D2, D4), cholinergic (M) và hoạt tính đối với 5-HT2 mạnh hơn so với D2. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng olanzapine làm giảm một cách có chọn lọc sự kích thích các nơ-ron thần kinh dẫn truyền dopamin (A10), trong khi rất ít tác dụng lên thể vân (A9) có vai trò trong chức năng vận động.
Trong các thử nghiệm lâm sàng trên các bệnh nhân tâm thần phân liệt với các biểu hiện cả dương tính và âm tính, olanzapine cải thiện đáng kể về mặt thông kê các triệu chứng dương tính cũng như âm tính.
Ở bệnh nhân trong giai đoạn hưng cảm hoặc hỗn hợp của rối loạn lưỡng cực, olanzapine làm giảm các triệu chứng hưng cảm và các triệu chứng trầm cảm.
Ở các bệnh nhân hưng cảm lặp đi lặp lại, olanzapine đã chứng tỏ tác dụng phòng chống tái phát có ý nghĩa về mặt thống kê và cho thấy một lợi thế đáng kể về mặt thống kê trong việc ngăn ngừa cả chứng hưng cảm tái phát cũng như làm giảm nhẹ sự trầm cảm.
Bệnh nhân nhi:
Kinh nghiệm sử dụng olanzapin trên thiếu niên (tuổi từ 13 đến 17) mới chỉ giới hạn ở dữ liệu trong điều trị ngắn hạn tâm thần phân liệt (6 tuần) và hưng cảm liên quan đến rối loạn lưỡng cực I (3 tuần) trên quần thể ít hơn 200 thiếu niên. Olanzapin đã được sử dụng với mức liều linh động từ 2,5 đến 20 mg/ngày. Trong quá trình điều trị bằng olanzapin, bệnh nhân thiếu niên tăng cân nhiều hơn rõ rệt so với người lớn. Mức độ thay đổi các thông số cholesterol toàn phần lúc đói, LDL cholesterol, triglycerid và prolactin ở thiếu niên cao hơn so với ở người lớn. Không có dữ liệu về sự duy trì hiệu quả và các dữ liệu về tính an toàn khi sử dụng lâu dài còn hạn chế.
Cơ chế tác dụng:
Olanzapin là thuốc an thần kinh (thuốc chống loạn thần) không điển hình (thế hệ thứ hai) và là dẫn chất của dibenzodiazepin. Thuốc có nhiều đặc tính dược lý khác với các thuốc chống loạn thần điển hình là dẫn chất của phenothiazin hay butyrophenon như ít gây hội chứng ngoại tháp, ít làm tăng tiết prolactin, ít gây loạn vận động muộn khi điều trị kéo dài đồng thời có hiệu quả trên cả các biểu hiện dương tính, âm tính và ức chế của tâm thần phân liệt. Tác dụng chống loạn thần của olanzapin có cơ chế phức tạp và còn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Cơ chế này có liên quan đến tính đối kháng của thuốc ở các thụ thể serotonin typ 2 (5-HT2A, 5-HT2C), typ 3 (5-HT3), typ 6 (5-HT6) và dopamin ở hệ thần kinh trung ương. Olanzapin có tác dụng ức chế và làm giảm đáp ứng (điều hòa âm tính) đối với thụ thể 5-HT2A, liên quan đến tác dụng chống hưng cảm của thuốc. Ngoài ra, olanzapin còn làm ổn định tính khí do một phần ức chế thụ thể D2 của dopamin. Olanzapin dùng tiêm bắp để điều trị cơn động kinh cấp một phần do tác dụng an thần, làm dịu hơn là chỉ do tác dụng gây ngủ.
Olanzapin còn có tác dụng đối kháng với các thụ thể muscarin (M1, M2, M3, M4 và M5). Tác dụng kháng cholinergic của thuốc một mặt giải thích việc giảm nguy cơ xuất hiện hội chứng ngoại tháp, mặt khác lại liên quan đến một số tác dụng không mong muốn khác của olanzapin. Olanzapin cũng có tác dụng đối kháng thụ thể H1 của histamin và thụ thể alpha-1 adrenergic. Tác dụng này liên quan đến khả năng gây ngủ gà, hạ huyết áp tư thế khi sử dụng olanzapin
5.2. Dược động học:
Viên nén phân tán trong miệng olanzapine tương đương sinh học với vién bao olanzapine, với một tỉ lệ và mức độ hấp thu tương tự. Viên nén phân tán trong miệng olanzapine có thể được sử dụng thay thế cho viên bao olanzapine.
Hấp thu: Olanzapin được hấp thu tốt khi uống, đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương trong vòng 5 đến 8 giờ. Hấp thu không bị ảnh hưởng bởi thức ăn. Sinh khả dụng đường uống tuyệt đối so với đường tiêm tĩnh mạch chưa được xác định..
Phân bố: Olanzapine gắn với protein huyét tương khoảng 93% trong khoảng nồng độ từ 7 đến 1000 ng/ml. Olanzapine chủ yếu gắn với albumin và alpha1-acid-glycoprotein.
Chuyển hóa:
Olanzapin được chuyển hóa tại gan qua con đường liên hợp và oxy hóa. Chất chuyển hóa chính tìm thấy trong tuần hoàn là 10-N-glucuronide, chất này không qua được hàng rào máu não. Các cytochrom P450-CYP1A2 và P450-CYP2D6 tham gia vào việc tạo ra các chất chuyển hóa N-desmethyl và 2-hydroxymethyl. Cả hai chất chuyển hóa này đều có hoạt tính dược lý in vivo yếu hơn nhiều so với olanzapin trong các nghiên cứu trên động vật. Tác dụng dược lý chủ yếu là do thuốc gốc olanzapin.
Thải trừ:
Sau khi dùng đường uống, thời gian bán thải cuối cùng trung bình của olanzapine ở những người tình nguyện khỏe mạnh thay đổi theo tuổi tác và giới tính.
Ở người cao tuổi (65 tuổi trở lên) khỏe mạnh, So với những người trẻ tuổi, thời gian bán thải trung bình của olanzapin kéo dài hơn (51,8 so với 33,8 giờ) và độ thanh thải giảm đi (17,5 so với 18,2 L/giờ). Biến thiên về dược động học ở người cao tuổi vẫn nằm trong phạm vi biến thiên như ở người trẻ tuổi. Ở 44 người bệnh tâm thần phân liệt trên 65 tuổi, sử dụng liều từ 5 đến 20 mg/ngày không dẫn đến sự khác biệt nào về các phản ứng có hại.
Ở phụ nữ so với nam giới, thời gian bán thải trung bình kéo dài hơn một chút (36,7 so với 32,3 giờ) và do thanh thải giảm (18,9 so với 27,3 l/ giờ). Tuy nhiên, olanzapine (5-20 mg) đã chứng minh độ an toàn ở phụ nữ (n = 467) có thể so sánh với bệnh nhân nam (n = 869).
Bệnh nhân suy thận:
Ở các bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinin < 10 ml/ phút) so với các đối tượng khỏe mạnh, không có sự khác biệt đáng kể về thời gian bán thải trung bình (37,7 so với 32,4 giờ) hoặc độ thanh thải (21,2 so với 25,0 l/ giờ). Một nghiên cứu cân bằng khối lượng cho thấy rằng khoảng 57 olanzapine có đánh dấu phóng xạ xuất hiện trong nước tiểu, chủ yếu dưới dạng chất chuyển hóa.
Người hút thuốc
Ở người bệnh hút thuốc có rối loạn chức năng gan nhẹ, thời gian bán thải trung bình (39,3 giờ) kéo dài hơn và độ thanh thải (18,0 L/giờ) giảm đi tương tự như đối với ở những người khỏe mạnh không hút thuốc (các trị số tương ứng là 48,8 giờ và 14,1 L/giờ).
Ở những người không hút thuốc so với những người hút thuốc (nam giới và nữ giới), thời gian bán thải trung bình kéo dài hơn (38,6 so với 30,4 giờ) và độ thanh thải giảm đi (18,6 so với 27,7 L/giờ).
Độ thanh thải huyết tương của olanzapin thấp hơn ở người cao tuổi so với ở người trẻ tuổi, ở nữ giới so với ở nam giới, và ở người không hút thuốc so với người hút thuốc. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố độ tuổi, giới tính hoặc hút thuốc đến độ thanh thải và thời gian bán thải của olanzapin là nhỏ khi so sánh với sự khác nhau chung giữa các cá thể.
Trong một nghiên cứu trên người da trắng, người Nhật Bản và Trung Quốc, không có sự khác nhau về các thông số dược động học giữa ba nhóm người này.
5.3. Hiệu quả lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Không có thông tin.
6.2. Tương kỵ :
Không có.
6.3. Bảo quản:
Viên nén bảo quản trong bao bì kín, ở nhiệt độ không quá 30 oC.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
HDSD Thuốc Zolaxa Rapid.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM