Thuốc Psycholanz là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Psycholanz (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Olanzapine
Phân loại: Thuốc an thần /Thuốc chống loạn thần nhóm Benzodiazepine
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N05AH03.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: Psycholanz
Hãng sản xuất : Ipca Laboratories Ltd.
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén bao phim: Mỗi viên: Olanzapine 5mg hoặc 10mg.
Thuốc tham khảo:
| PSYCHOLANZ 10 | ||
| Mỗi viên nén bao phim có chứa: | ||
| Olanzapine | …………………………. | 10 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

| PSYCHOLANZ 5 | ||
| Mỗi viên nén bao phim có chứa: | ||
| Olanzapine | …………………………. | 5 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Tâm thần phân liệt: Olanzapine được chỉ định để điều trị ngắn hạn (6-8 tuần) bệnh tâm thần phân liệt.
Cơn hưng cảm lưỡng cực: Olanzapine dùng để điều trị cơn hưng cảm cấp tính có liên quan đến các rối loạn lưỡng cực I
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Thuốc dùng đường uống, dùng theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.
Liều dùng:
Tâm thần phân liệt
Liều thường dùng: Thường bắt đầu điều trị với liều 5-10mg, dùng một lần trong 24 giờ mà không cần chú ý đến bữa ăn, liều tấn công là 10mg/ngày trong vòng vài ngày. Chỉ điều chỉnh liều nếu cần và tối thiểu là 1 tuần sau khi bắt đầu điều trị vì Olanzapine chỉ đạt trạng thái cân bằng sau khoảng 1 tuần ở những bệnh nhân điển hình. Nếu cần điều chỉnh liều, nên tăng hoặc giảm 5mg mỗi lần.
Mức liều 10-15mg/ngày là có tác dụng điều trị hiệu quả tâm thần phân liệt. Tuy nhiên, liều lớn hơn 10mg/ngày cũng không có hiệu quả hơn liều 10mg/ngày. Chỉ tăng liều lên hơn liều tấn công 10mg/ngày (chẳng hạn liều 15mg/ngày hoặc lớn hơn) khi đã có đánh giá lâm sàng chính xác. Sự an toàn của mức liều hơn 20mg/ngày chưa được chứng minh trên lâm sàng.
Cơn hưng cảm lưỡng cực
Liều thường dùng: Thường bắt đầu điều trị với liều 10-15mg, một lần mỗi ngày mà không cần chú ý đến bữa ăn. Nếu cần, có thể điều chỉnh liều ít nhất sau khi đã điều trị 24 giờ, theo như nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân đối chứng. Khi cần điều chỉnh liều nên thay đổi 5mg mỗi lần.
Olanzapine có tác dụng điều trị hưng cảm ngắn hạn với liều 5-20mg/ ngày. Độ an toàn của mức liều hơn 20mg/ngày chưa được chứng minh trên lâm sàng.
Tác dụng điều trị lâu dài của Olanzapine chưa được chứng minh rõ. Nếu muốn điều trị lâu hơn cần xem xét lại tác dụng lâu dài của thuốc.
Liều dùng cho các nhóm bệnh nhân đặc biệt:
Trẻ em : Olanzapine chưa được nghiên cứu ở người dưới 18 tuổi.
Người bệnh cao tuổi
Không nên dùng thường quy với liều khởi đầu là 5 mg/ngày, nhưng nên cân nhắc đối với người bệnh hơn 65 tuổi khi có kèm các yếu tố lâm sàng không thuận lợi.
Bệnh nhân suy thận và/hoặc suy gan
Nên cân nhắc để dùng liều khởi đầu thấp là 5 mg/ngày ở những người bệnh này. Trong trường hợp suy gan trung bình (xơ gan, loại A hoặc B Child-Pugh), nên dùng liều khởi đầu 5 mg và cẩn thận khi tăng liều.
Người bệnh nữ so với người bệnh nam : Không có khác nhau về liều khởi đầu và phạm vi liều thông thường ở bệnh nhân nam và nữ.
Người bệnh không húi thuốc so với người bệnh có hút thuốc: Không có khác nhau về liều khởi đầu và phạm vi liều thông thường ở người bệnh không hút thuốc và người bệnh có hút thuốc.
Khi có nhiều hơn một yếu tố làm chậm quá trình chuyển hóa của Olanzapine (nữ giới, không hút thuốc, người già > 65 tuổi), nên cân nhắc để dùng liều khởi đầu thấp. Nên cẩn thận khi có chỉ định tăng liều ở những người bệnh này.
4.3. Chống chỉ định:
Bệnh nhân quá mẫn với Olanzapine hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.
4.4 Thận trọng:
Hội chứng an thần kinh ác tính (NMS)
Triệu chứng phức tạp có nguy cơ gây tử vong được coi là hội chứng an thần kinh ác tính đã được báo cáo khi dùng các thuốc chống loạn thần kinh, trong đó có Olanzapine. Các biểu hiện của NMS bao gồm sốt cao, cứng cơ, trạng thái tâm thần thay đổi và có biểu hiện không ổn định của hệ thần kinh thực vật (mạch hoặc huyết áp không đều, nhịp tim nhanh, toát mồ hôi, loạn nhịp tim). Những dấu hiệu khác gồm tăng creatinin phosphokinase, myoglobin niệu (tiêu cơ vân) và suy thận cấp.
Rối loạn vận động muộn
Có thể xuất hiện các triệu chứng rối loạn vận động muộn khi dùng các thuốc điều trị loạn thần kinh. Mặc dù triệu chứng này thường thấy ở người già, đặc biệt là bệnh nhân nữ cao tuổi, khi mới bắt đầu điều trị nhưng nó không thể dự báo trước. Nguy cơ bị rối loạn vận động muộn có thể tăng cao cùng với thời gian và tổng liều điều trị của các thuốc chữa loạn thần kinh. Tuy nhiên, khi dùng liều thấp trong thời gian ngắn ít thấy biểu hiện của triệu chứng này.
Hạ huyết áp thế đứng
Olanzapine có thể gây hạ áp thế đứng kết hợp với chóng mặt, nhịp tim nhanh. Trên một số bệnh nhân, ngất, đặc biệt trong thời kỳ đầu dùng thuốc, có thể ảnh hưởng đến đặc tính chẹn α1-adrenergic. Nguy cơ hạ áp thế đứng và ngất có thể giảm thiểu bằng cách dùng liều khởi đầu 5mg một lần mỗi ngày. Olanzapine cần thận trọng khi dùng trên các bệnh nhân có tiền sử bệnh tim mạch (tiền sử nhồi máu cơ tim hoặc thiếu máu cục bộ, suy tim), các bệnh về não mạch, và các tình trạng có thể gây hạ huyết áp cho bệnh nhân (mất nước, giảm thể tích máu, và dùng các trị liệu với các thuốc hạ huyết áp).
Động kinh
Olanzapine cần được sử dụng thận trọng trên các bệnh nhân có tiền sử động kinh hoặc các tình trạng có nguy cơ làm giảm ngưỡng động kinh, ví dụ chứng mất trí Alzheimer.
Tăng transaminase
Cần thận trọng trên các bệnh nhân có dấu hiệu và triệu chứng suy gan, bệnh nhân có chức năng gan hạn chế và trên các bệnh nhân đã điều trị với các thuốc có khả năng gây độc cho gan.
Đánh giá transaminase là cần thiết trên các bệnh nhân có các bệnh đáng kể về gan.
Nguy cơ tự tử và tâm thần phân liệt
Cần theo dõi rất chặt trên các bệnh nhân nguy cơ cao trong quá trình điều trị
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Không nên lái xe hoặc điều khiển máy móc khi đang dùng thuốc vì thuốc Olanzapine có thể gây buồn ngủ.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: C
US FDA pregnancy category: C
Thời kỳ mang thai:
Không có các nghiên cứu kiểm soát chặt chẽ và đầy đủ ở người mang thai. Phụ nữ được khuyên nên báo cho thầy thuốc nếu họ có thai hoặc có ý định mang thai khi đang dùng Olanzapine. Do kinh nghiệm còn hạn chế ở người, chỉ nên dùng thuốc này ở người mang thai khi lợi ích đem lại hơn hẳn mối nguy hại cho bào thai.
Thời kỳ cho con bú:
Người bệnh không nên cho con bú khi đang dùng thuốc Olanzapine.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Các tác dụng không mong muốn thường được báo cáo với Olanzapine gồm:
Toàn thân: Đau răng, triệu chứng cúm, căng thẳng, có ý định tự sát.
Tim mạch: Hạ huyết áp, tai biến mạch máu não, suy tim sung huyết.
Hệ tiêu hoá: Tăng tiết nước bọt, khát nước, khó nuốt.
Tuyến nội tiết:Tiểu đường.
Hệ máu và bạch huyết: Giảm bạch cầu, thiếu máu.
Bất thường về chuyển hoá và đinh dưỡng: Nhiễm toan, tăng phosphatase kiềm.
Hệ cơ xương: Cứng khớp, viêm khớp, chuột rút chân.
Hệ thần kinh: Mộng mị, cảm xúc không ổn định, hưng cảm, phản ứng tâm thần phân liệt, dị cảm, kích thích thần kinh trung ương.
Hệ hô hấp: Khó thở, có thể ngừng thở, hen.
Da và phần mềm: Ra mồ hôi, eczema.
Các giác quan: Viêm màng kết, điếc, khô mắt, đau mắt, viêm mắt, đau tai, ù tai, thay đổi vị giác.
Hệ tiết niệu và sinh dục: Tiểu tiện ra máu, mất kinh, chảy máu tử cung, viêm âm đạo (nữ giới).
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng thuốc trong trường hợp xuất hiện các biểu hiện của hội chứng an thần kinh ác tính. Điều trị hỗ trợ tích cực và theo dõi chặt bệnh nhân. Cần thận trọng khi sử dụng lại olanzapin cho bệnh nhân sau khi xuất hiện hội chứng an thần kinh ác tính: nên lựa chọn các thuốc ít gây hội chứng này hơn và cần tăng liều từ từ cho bệnh nhân.
Ngừng thuốc hoặc giảm liều olanzapin nếu xuất hiện loạn động muộn trong quá trình sử dụng thuốc.
Giảm liều hoặc dùng thuốc 1 lần/ngày lúc đi ngủ nếu xuất hiện buồn ngủ trong quá trình sử dụng olanzapin.
Sử dụng các biện pháp điều trị dùng thuốc hoặc không dùng thuốc để điều chỉnh rối loạn lipid máu nếu xuất hiện trong quá trình điều trị bằng olanzapin. Có thể cân nhắc sử dụng thay thế bằng các thuốc an thần kinh khác ít gây ảnh hưởng trên chuyển hóa lipid như risperidon, ziprasidon hay aripiprazol.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Chưa có nghiên cứu đầy đủ về tương tác của Olanzapine với các thuốc khác nhưng căn cứ vào tác dụng trên thần kinh trung ương của Olanzapine, nên thận trọng khi dùng cùng với các thuốc tác dụng trên thần kinh trung ương và rượu.
Olanzapine có thể làm mất tác dụng của levodopa và các chất chủ vận dopamin
Ảnh hưởng của các thuốc khác đến Olanzapine:
Các yếu tố tạo ra CYP 1A2 hay enzym glucuronyl transferase như omeprazol và rifampicin có thể làm tăng thải trừ Olanzapine. Ức chế CYP 1A2 giúp làm giảm thải trừ. Mặc đù Olanzapine bị chuyển hoá bởi nhiều hệ thống enzyme nhưng tăng cường hoặc ức chế một enzyme đơn độc cũng có thể làm thay đổi đáng kể độ thanh thải của Olanzapine. Chính vì thế, khi tăng hoặc giảm liều cần đặc biệt lưu ý đến từng loại thuốc.
Cimetidin và các thuốc antacid: liều duy nhất cimetidin (800mg) hoặc nhôm, magie không ảnh hưởng đến sinh khả dụng của Olanzapine đùng đường uống.
Than hoạt: sẽ làm giảm nồng độ tối đa trong huyết tương và sinh khả dụng của Olanzapine đường uống đến 60%. Có thể dùng than hoạt để điều trị khi quá liều Olanzapine.
Carbamazepin: Liều điều trị của carbamazepin (200mg, 2 lần mỗi ngày) có thể làm tăng thải trừ Olanzapine đến 50%. Tăng liều carbamazepin có thể làm tăng hơn nữa thải trừ Olanzapine.
Ethanol: liều duy nhất 45mg/ 70kg ethanol không ảnh hưởng đến dược động học của Olanzapine.
Fluoxetin: (liều duy nhất 60mg hoặc liều 60mg/ngày trong 8 ngày) có thể làm tăng nhẹ (16%) nồng độ tối đa trong máu của Olanzapine và giảm nhẹ độ thanh thải (16%). Ảnh hưởng của thuốc này là rất nhỏ so với toàn bộ sinh khả dụng do đó không cần điều chỉnh liều khi dùng đồng thời 2 thuốc.
Fluvoxamin: là một chất ức chế CYP 1A2 nên nó làm giảm thải trừ Olanzapine, làm tăng nồng độ tối đa trong máu 54% ở bệnh nhân nữ không hút thuốc và 77% ở bệnh nhân nam hút thuốc. Nó làm tăng sinh khả dụng ở 2 nhóm đối tượng trên lần lượt là 52% và 108%. Cần giảm liều Olanzapine khi dùng cùng với fluvoxamin.
Valproat: những nghiên cứu in-vitro sử dụng microsome gan người cho thấy Olanzapine ít ức chế con đường chuyển hoá chính của valproat là liên hợp glucuronic. Ngược lại, valproat cũng ít ảnh hưởng đến sự chuyển hoá của Olanzapine.
Ảnh hưởng của Olanzapine đến những thuốc khác:
Trong các nghiên cứu ¡n-vitro dùng microsome gan người cho thấy Olanzapine ít ức chế CYP 1A2, CYP 2C9, CYP 2D6 và CYP 3A. Chính vì thế, Olanzapine không gây ra tương tác nghiêm trọng nào với các thuốc chuyển hoá trung gian bởi các enzym này.
Liều duy nhất Olanzapine không ảnh hưởng đến dược động học của imipramine hay chất chuyển hoá có hoạt tính của nó desipramine và warfarin, theophyllin và chất chuyển hoá. Dùng nhiều liều Olanzapine cũng không ảnh hưởng đến động học của diazepam và chất chuyển hoá hoạt động của nó là N-desmethyldiazepam, lithium, ethanol hay biperiden. Tuy nhiên, khi dùng cùng với diazepam hoặc ethanol, có khả năng bị hạ huyết áp thế đứng.
4.9 Quá liều và xử trí:
Kinh nghiệm khi đùng quá liều Olanzapine còn hạn chế. Trong các thử nghiệm lâm sàng, có 67 bệnh nhân dùng quá liều Olanzapine cấp tính do vô ý hoặc cố tình. Ở bệnh nhân dùng liều cao nhất được phát hiện là 300 mg, có triệu chứng chóng mặt và nói nhịu. Với số lượng bệnh nhân hạn chế được đánh giá tại bệnh viện, kể cả bệnh nhân dùng 300 mg, không thấy có các dấu hiệu có hại ở các chất được xét nghiệm và điện tâm đồ. Các dấu hiệu sinh tồn vẫn trong mức giới hạn bình thường ở những bệnh nhân dùng quá liều.
Dựa vào các đữ liệu trên động vật, các triệu chứng quá liều là những triệu chứng của sự tăng quá mức những tác dụng dược lý đã biết của thuốc. Các triệu chứng này bao gồm buồn ngủ, giãn đồng tử, mắt mờ, ức chế hô hấp, hạ huyết áp, và có thể có các rối loạn ngoại tháp. Không có thuốc giải độc đặc hiệu cho Olanzapine. Vì vậy, cần bắt đầu với các biện pháp điều trị hỗ trợ thích hợp. Cần xem xét khả năng quá liều của nhiều loại thuốc khác nhau.
Trong trường hợp ngộ độc cấp tính, cần thiết lập và giữ thông đường hô hấp, đảm bảo quá trình oxy hóa và thông khí đầy đủ. Nên xem xét dùng than hoạt, vì than hoạt làm giảm sinh khả dụng của Olanzapine dùng đường uống từ 50 đến 60%. Nếu cần, nên rửa dạ dày (sau khi đặt ống thông vào khí quản, nếu bệnh nhân hôn mê). Thẩm phân lọc máu không tách bỏ được nhiều Olanzapine.
Hạ huyết áp và trụy mạch nên điều trị bằng các biện pháp thích hợp như truyền dịch và/hoặc thuốc kích thích giao cảm như norepinephrine (không dùng epinephrine, dopamine, hoặc các thuốc kích thích giao cảm khác có hoạt tính chủ vận bêta, vì kích thích bêta có thể làm nặng thêm tình trạng hạ huyết áp trong hoàn cảnh receptor alpha bị phong bế do Olanzapine). Cần theo dõi tim mạch để phát hiện những chứng loạn nhịp tim. Tiếp tục theo dõi kỹ, cho đến khi người bệnh hồi phục.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Olanzapine là thuốc chống loạn thần có hoạt tính dược lý học rộng trên một số hệ receptor. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, Olanzapine có ái lực cao với các receptor: serotonin 5HT2A/2C, dopamine D1-4, muscarinic M1-5, adrenergic α1 và histamin H1. Olanzapine liên kết yếu với GABAA, BZD và β-adrenergic.
Cơ chế hoạt động của Olanzapine cũng như các thuốc có tác dụng điều trị tâm thần phân liệt khác chưa được biết rõ. Tuy nhiên, người ta cho rằng nó có tác dụng điều trị tâm thần phân liệt thông qua sự liên kết chất chủ vận dopamin và serotonin type 2 (5HT2). Cơ chế tác dụng của Olanzapine trong điều trị cơn hưng cảm cấp tính có liên quan đến rối loạn lưỡng cực I chưa được biết.
Cơ chế tác dụng:
Olanzapin là thuốc an thần kinh (thuốc chống loạn thần) không điển hình (thế hệ thứ hai) và là dẫn chất của dibenzodiazepin. Thuốc có nhiều đặc tính dược lý khác với các thuốc chống loạn thần điển hình là dẫn chất của phenothiazin hay butyrophenon như ít gây hội chứng ngoại tháp, ít làm tăng tiết prolactin, ít gây loạn vận động muộn khi điều trị kéo dài đồng thời có hiệu quả trên cả các biểu hiện dương tính, âm tính và ức chế của tâm thần phân liệt. Tác dụng chống loạn thần của olanzapin có cơ chế phức tạp và còn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Cơ chế này có liên quan đến tính đối kháng của thuốc ở các thụ thể serotonin typ 2 (5-HT2A, 5-HT2C), typ 3 (5-HT3), typ 6 (5-HT6) và dopamin ở hệ thần kinh trung ương. Olanzapin có tác dụng ức chế và làm giảm đáp ứng (điều hòa âm tính) đối với thụ thể 5-HT2A, liên quan đến tác dụng chống hưng cảm của thuốc. Ngoài ra, olanzapin còn làm ổn định tính khí do một phần ức chế thụ thể D2 của dopamin. Olanzapin dùng tiêm bắp để điều trị cơn động kinh cấp một phần do tác dụng an thần, làm dịu hơn là chỉ do tác dụng gây ngủ.
Olanzapin còn có tác dụng đối kháng với các thụ thể muscarin (M1, M2, M3, M4 và M5). Tác dụng kháng cholinergic của thuốc một mặt giải thích việc giảm nguy cơ xuất hiện hội chứng ngoại tháp, mặt khác lại liên quan đến một số tác dụng không mong muốn khác của olanzapin. Olanzapin cũng có tác dụng đối kháng thụ thể H1 của histamin và thụ thể alpha-1 adrenergic. Tác dụng này liên quan đến khả năng gây ngủ gà, hạ huyết áp tư thế khi sử dụng olanzapin
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Olanzapine được hấp thu tốt sau khi uống, đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương trong vòng 5-8 giờ. Thuốc chuyển hoá lần đầu qua gan đến 40%. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu. Nồng độ Olanzapine trong huyết tương tuyến tính và tỷ lệ với liều dùng trong các thử nghiệm nghiên cứu có liều dùng từ 1 đến 20 mg.
Olanzapine phân bố rộng rãi trong cơ thể, thể tích phân bố xấp xỉ 1000L. Thuốc liên kết 93% với protein huyết tương.
Olanzapine được chuyển hóa tại gan qua cơ chế liên hợp và oxy hóa. Chất chuyển hóa chính trong tuần hoàn là 10-N-glucuronide, chất này không qua hàng rào máu não. Các cytochromes P450-CYP1A2 và P450-CYP2D6 tham gia vào việc tạo ra các chất chuyển hóa N-desmethyl và 2-hydroxymethyl. Cả hai chất chuyển hóa này đều có hoạt tính dược lý in vitro thấp hơn so với olanzapine trong các nghiên cứu trên động vật. Sau khi uống, thời gian bán thải trung bình của olanzapine ở người khỏe mạnh thay đổi theo tuổi và giới tính. Thời gian bán thải trung bình là 33 giờ và độ thanh thải huyết tương trung bình của Olanzapine là 26 L/giờ.
Ở những người cao tuổi (65 và cao hơn) khỏe mạnh so với những người trẻ tuổi, thời gian bán thải trung bình là kéo dài (51,8 so với 33,8 giờ) và độ thanh thải giảm đi (17,5 so với 18,2 L/giờ). Các thay đổi dược động học ở người cao tuổi vẫn nằm trong phạm vi thay đổi của người trẻ tuổi. ở 44 người bệnh tâm thần phân liệt ( 65 tuổi), liều dùng từ 5 đến 20 mg/ngày không có sự khác biệt nào về các tác dụng phụ.
Ở phụ nữ so với nam giới, thời gian bán thải trung bình là kéo dài (36,7 so với 32,3 giờ) và độ thanh thải giảm đi ( 18,9 so với 27,3 L/giờ). Tuy nhiên độ an toàn của Olanzapin (5 -20 mg) tương đương nhau ở những bệnh nhân nữ ( N = 467) và nam ( n = 869 ).
Không có sự khác nhau đáng kể về thời gian bán thải trung bình (37,7 so với 32,3 giờ) hoặc độ thanh thải ( 21,2 so với 25,0 L/giờ) của Olanzapin giữa người suy thận (độ thanh thải creatini <10 mL/phút) với người khỏe mạnh. Khoảng 57% Olanzapin được đánh dấu bằng chất phóng xạ được thải qua nước tiểu, chủ yếu dưới dạng các chất chuyển hóa.
Ở người bệnh hút thuốc mà có rối loạn nhẹ chức năng gan, thời gian bán thải trung bình là kéo dài ( 39,3 giờ ) và độ thanh thải ( 18,0 L/giờ) giảm tương tự như đối với người khỏe mạnh không hút thuốc ( tương ứng là 48,8 giờ và 14,1 L/giờ ).
Ở người không hút thuốc so với hút thuốc (nam giới và nữ giới), thời gian bán thải trung bình là kéo dài ( 38,6 so với 30,4 giờ) và độ thanh thải giảm ( 18,6 so với 27,7 L/giờ).
Độ thanh thải của olanzapine trong huyết tương thấp hơn ở người già so với người trẻ, ở nữ giới so với nam giới và ở người hút thuốc lá so với người không hút thuốc lá. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của tuổi tác, giới tính hoặc hút thuốc trên độ thanh thải và thời gian bán thải của olanzapine là nhỏ khi so sánh với sự thay đổi chung giữa các cá thể.
Thuốc thải trừ chủ yếu qua nước tiểu (57%) và phân (30%) ở dạng chuyển hoá không còn hoạt tính. Chỉ khoảng 7% thải qua nước tiểu ở dạng không đổi.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược: Lactose, cellulose vi tinh thể, natri starch glycolat (Primojel), pregelatinsed starch, talc tinh chế, silic dioxid dạng keo khan (Aerosil-200), magnesi stearat, HPMC 15 cps, titan dioxid, tá dược màu vàng (Eurolake quinoline yellow), dibutyl phthatlat.
6.2. Tương kỵ :
Không có.
6.3. Bảo quản:
Bảo quản không quá 30oC trong bao bì gốc tránh ánh sáng và tránh ẩm.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM