Thông tin cơ bản về dược liệu, vị thuốc Ngũ vị tử
Dưới đây là nội dung cơ bản về dược liệu, vị thuốc Ngũ vị tử (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên dược liệu/vị thuốc:
Tên thường gọi: Ngũ vị tử.
Tên dân gian, tên khác: Sơn hoa tiêu, Ngũ vị bắc, Ngũ mai tử, Huyền cập, Wu Wei Zi (Trung Quốc).…
Tên khoa học vị thuốc: Fructus Schisandrae
Tên khoa học của nguồn gốc chế biến ra vị thuốc: Schisandra chinensis K. Koch, Baill. hay Schisandra chinensis Turcz. Baill.
Họ: Ngũ vị tử (Schisandraceae).
Phân nhóm: Nhóm thuốc thu liễm, cố sáp.
Nhóm pháp lý, nguồn gốc: Dược liệu trong nước và nước ngoài (Bắc-Nam).
Bộ phận dùng: Quả chín phơi hoặc sấy khô.
2. Mô tả – Thành phần hóa học – Dạng bào chế:
2.1. Mô tả dược liệu/vị thuốc:
Dược liệu được dùng chủ yếu là quả chín phơi hoặc sấy khô của cây Ngũ vị bắc (Schisandra chinensis (Turcz.) Baill.) hoặc Ngũ vị Hoa nam (Schisandra sphenanthera ehd. et Wils.) thuộc họ Ngũ vị (Schisandraceae). Tuy nhiên còn có Nam ngũ vị tử là quả của cây nắm cơm (Kadsura japonica L.) cũng thuộc họ Ngũ vị tử. Ở trong nước ta thì thường dùng quả khô của cây ngũ vị bắc, do đó trong bài chỉ đề cập tới quả của loài này.
Ngũ vị Bắc: Quả hình cầu không đều hoặc hình cầu dẹt, đường kính 5-8mm. Mặt ngoài màu đỏ, đỏ tía hoặc đỏ thẫm, nhăn nheo, có dầu, thịt quả mềm. Có trường hợp mặt ngoài màu đỏ đen hoặc phủ lớp phấn trắng. Có 1-2 hạt hình thận, mặt ngoài màu vàng nâu, sáng bóng. Vỏ hạt mỏng, giòn. Thịt quả mùi nhẹ, vị chua. Sau khi đập vỡ, hạt có mùi thơm, vị cay, hơi đắng.
Thông tin bổ sung: Ngũ vị nam có quả tương đối nhỏ, mặt ngoài màu đỏ nâu đến nâu, khô héo, nhăn nheo. Thịt quả thường dính chặt vào hạt.
Hình ảnh tham khảo:

Ngũ vị tử (Fructus Schisandrae)
2.2. Thành phần hóa học và hàm lượng:
Trong quả Ngũ vị tử có thành phần chính là các dẫn chất của dibenzo [a,c] cycloocten (Dibenzo-[a,c]-cyclooctene lignans), hay còn gọi là các lignan (schisandrol A/B, schisandrin A/B/C, schisantherin A-E, gomisin, angeloylgomisin, anwulignan, wulignan, epiwulignan, epischisandron). Hàm lượng của nhóm lignan này trong hạt ngũ vị tử giao động từ 7.2-19.2%, cao nhất vào tháng 5 và tháng 6 và từ 1.3% đến 10.3% trong cành. Ngoài ra còn có tinh dầu, và các acid hữu cơ, 11% acid citric, 7% acid malic và 0.8% acid tartric
Tinh dầu mùi chanh, trong đó thành phần tinh dầu gồm 30% Sesquiterpenes (sesquicarene, (+) α-ylangene, chamigrenal, α- and ß-chamigrene, ß-bisabolene), Monoterpenes (borneol, 1,8 cineol, citral, p-cymol, α,ß-pinene), 20% aldehyd và aceton.
Một số hoạt chất đã được phân lập và có tiềm năng ứng dụng trong y học như: Anwulignan; Schizandrin A/B; Schisandrin A/B/C; Gomisin A; Schisantherin A/B; Nigranoic acid; Angeloylgomisin ; Schisanwilsonin …

Cấu trúc hóa học một số hoạt chất có trong Ngũ vị tử (Fructus Schisandrae chemical.).
2.3. Các dạng bào chế hoặc thuốc dạng thành phẩm:
Trong dân gian, các lương y hay dùng Ngũ vị tử được dùng nhiều dưới dạng thuốc sắc để chữa mộng tinh, di tinh, hoạt tinh, đái dầm,… Trong nhân dân còn ngâm rượu nhân sâm ngũ vị tử (Rượu 500ml, nhân sâm 10-20g, ngũ vị tử 30g, câu kỷ tử 30g. Ngâm 7 ngày uống trước khi đi ngủ 15-20ml) hoặc dùng làm món ăn như món Tim lợn hầm ngũ vị tử dùng cho bệnh nhân hồi hộp loạn nhịp tim, mất ngủ, vã mồ hôi (tim lợn 1 cái, ngũ vị tử 9g: Tim lợn rạch mở, rửa sạch, cho ngũ vị tử vào, khâu lại, hầm cách thủy).. Một số bài thuốc sắc đông y có chứa Ngũ vị tử có thể kể đến như bài chữa chứng cơ thể hư nhược, ra nhiều mồ hôi (Bá tử nhân 125g, bán hạ khúc 125g, mẫu lệ 63g, nhân sâm 63g, ma hoàng căn 63g, bạch truật 63g, ngũ vị tử 63g, đại táo hầm bỏ hạt 30 quả nghiền chung thành bột mịn, nhào với đại táo làm hoàn dùng để uống); bài chữa thận dương hư, hoạt tinh (tang phiêu tiêu 12g, ngũ vị tử 8g, long cốt 12g, phụ tử 12g, sắc uống); bài chữa chứng tân dịch không đủ, miệng khô, khát nước (Đẳng sâm 12g, mạch đông 12g, ngũ vị tử 6g, Sắc uống)…
Trong y học hiện đại, nhiều công ty cổ phần dược phẩm đã sản xuất được thuốc có chứa thành phần Ngũ vị tử dưới nhiều dạng bào chế khác nhau như viên nén, viên nang, viên hoàn, rượu thuốc…. Hay được phối hợp với các vị khác và dùng trong các sản phẩm thuốc bổ như bổ thận, bổ phế, bổ thần kinh, bổ tim hoặc điều trị triệu chứng thời kỳ tiền mãn kinh… Hiện nay nhiều sản phẩm trên thị trường có chứa thành phần Ngũ vị tử, có thể kể tới các biệt dược sau đây: An thần bổ tâm-F, Aquadia, Bát tiên trường thọ P/H, Bearbidan, Bổ huyết điều kinh đông dược việt, Bổ não – H, Bổ phế chỉ khái DHĐ, Bổ thận dương đông dược việt, Cao lỏng Thiên vương bổ tâm, Cửu tử bổ thận, Diacap, Dưỡng tâm an thần PV, Dưỡng tâm an thần Vinaplant, Fitôgra- H, Formenton, Giáng chỉ đường an, Hắc long, Hepaschis, Hoa đà tái tạo hoàn, Hoa đà Thephaco, Hoàn thiên vương bổ tâm TP, Khởi dương hoàn, Mãn kinh Nhất Nhất, Meken, Ngũ canh tả P/H, Op.Calife Viên Canh Niên An, Silymax complex, Sinh mạch giao, Testovim-Tráng dương bổ thận Xuân Quang, Thăng áp Nam Dược, Thiên Vương Bổ Tâm, Thiên vương bổ tâm đan, Thông mạch Nhất Nhất, Thuốc ho Bảo Thanh, Thuốc ho bổ phế, Thuốc ho bổ phế Trường Bách Diệp, Thuốc ho la hớn quả Xuân Quang, Tieukhatling caps, Tinh thận đơn, Vagirea 6, Viên nang cửu tử bổ thận, Viên ngậm Bảo Thanh NS, Viên ngậm ho bổ phế Trường bách diệp Trường Thọ, Viên ngậm ho Masacat, Viên sáng mắt TW3 ….
Hình ảnh sản phẩm tham khảo:
| HOA ĐÀ TÁI TẠO HOÀN | ||
| Mỗi 4gr hoàn cứng chứa cao dược liệu tương đương: | ||
| Xuyên khung | …………………………. | 1,2 g |
| Tần giao | …………………………. | 1,2 g |
| Bạch chỉ | …………………………. | 1,2 g |
| Đương qui | …………………………. | 1,2 g |
| Mạch môn | …………………………. | 0,8 g |
| Hồng sâm | …………………………. | 1,2 g |
| Ngô thù du | …………………………. | 0,8 g |
| Băng phiến | …………………………. | 0,04g |
| Ngũ vị tử | …………………………. | 1,2 g |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

Thuốc Hoa đà tái tạo hoàn của Guangzhou Baiyunshan Qixing Pharmaceutical Co., Ltd. (China) có chứa thành phần Ngũ vị tử.
3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Công dụng, chủ trị:
Ngũ vị tử thường được dùng đơn độc hoặc dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác trong các trường hợp sau:
Chữa viêm gan mạn tính.
Chữa suy nhược cơ thể do phế khí hư, chữa suy nhược cơ thể do mất máu, thiếu máu.
Chữa hen phế quản, hen suyễn ở người già.
Hỗ trợ nhồi máu cơ tim (kết hợp với cấp cứu của y học hiện đại).
Hỗ trợ điều trị suy tim, điều trị tai biến mạch máu não (kết hợp với y học hiện đại).
Trị chóng mặt, ù tai, mất ngủ, hay quên.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng dạng sắc hoặc cao lỏng: Cần sắc theo hướng dẫn trước khi uống.
Dạng bột, tán nhỏ làm hoàn: tán bột, thường phối hợp với các dược liệu khác, dùng trực tiếp hoặc trộn với nước hoặc mật ong rồi nặn thành viên bằng hạt đậu xanh.
Quả ăn được nên có thể chế biến làm món bồi bổ (ví dụ như hầm với tim lợn….)
Liều dùng:
Liều khuyến cáo: Mỗi lần uống 2 – 8g, ngày 3 lần dạng thuốc sắc hoặc 2-6g/ngày ở dạng bột. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.
Dạng bào chế thành phẩm: Dùng theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất.
4.3. Chống chỉ định:
Mẫn cảm với thành phần hoạt chất của vị thuốc/dược liệu.
4.4 Thận trọng, cảnh báo:
Không dùng cho người đang cảm sốt cao, đang lên sởi hoặc sốt phát ban.
Người đang bị tiểu giắt, bí tiểu do thấp nhiệt không dùng.
Người viêm khí phế quản mới phát gây ho, sốt không dùng.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:
Không ảnh hưởng.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Thời kỳ mang thai:
Chưa có nghiên cứu nào trên phụ nữ mang thai. Tránh dùng cho phụ nữ mang thai.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa có nghiên cứu nào trên phụ nữ cho con bú. Tránh dùng cho phụ nữ cho con bú.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Chưa ghi nhận được báo cáo về phản ứng có hại của thuốc.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Trong thời gian được điều trị, nếu nhận thấy có bất cứ tác dụng phụ nào xấu xảy ra hoặc các triệu chứng bệnh vẫn tiếp tục tăng nặng thì nên ngưng dùng ngay và tìm kiếm phương pháp chữa trị khác phù hợp hơn.
4.8 Tương tác, tương kỵ:
Ngũ vị tử đã được ghi nhận ảnh hưởng tới một số enzym, đặc biệt là cytochrome P450 3A, do đó cản trở quá trình chuyển hóa của một số thuốc dùng chung như Midazolam, Amlodipin, Colchicin, Budesonide….
Ngũ vị tử cũng cho thấy có tác dụng ức chế P-gp, dẫn đến tăng sinh khả dụng đường uống của một số chất như talinolol; tacrolimus…
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
4.9 Quá liều và độc tính:
Chưa có nghiên cứu quá liều trên người.
Độc tính: Ngũ vị tử có độc tính không đáng kể.
5. Tính vị, quy kinh, tác dụng dược lý, cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Tính vị – Quy kinh – Công năng:
Tính vị: vị chua, mặn , tính ấm. (Gọi là Ngũ vị tử vì trong quả có 5 vị: Đắng, chua cay, mặn, ngọt. Nhưng vị chua là chính do đó tính vị coi là chua, vỏ có vị mặn ngọt, bên trong hạt có vị đắng và cay; Vị mặn và chua được cho là có tác dụng đối với gan và tinh hoàn, vị đắng và cay được cho là có lợi cho tim và phổi. Vị ngọt được cho là có tác dụng đối với dạ dày).
Quy kinh: Quy vào kinh phế, thận.
Công năng: Có tác dụng liễm phế chỉ ho, sinh tân chỉ hàn, bổ thận cố tinh, chỉ tả, an thần.
5.2. Tác dụng dược lý:
Tác dụng chống viêm: Trong một nghiên cứu, 3 lignan (gomisin N, gomisin J và schisandran C) đã ức chế sự bài tiết các cytokine tiền viêm trong đại thực bào ở động vật thí nghiệm. Tuy nhiên tác dụng này được cho là chưa rõ ràng.
Tác dụng hỗ trợ điều trị rối loạn cương dương: Theo nghiên cứu, các Lignans schisandrol A và schisandrol B trong ngũ vị tử đã tăng gấp đôi khả năng làm giãn thể hang do sildenafil gây ra. Schisandrol A có tác dụng làm giãn tốt nhất và có thể có vai trò hiệp đồng đối với những bệnh nhân rối loạn cương dương không đáp ứng đầy đủ khi dùng đơn trị liệu bằng sildenafil.
Tác dụng trên đường tiêu hóa: trong khi một nghiên cứu cho thấy schisandra có tác dụng ức chế co bóp dạ dày và giảm stress gây loét dạ dày khi tiêm tĩnh mạch ở chuột, đồng thời không có tác dụng lên lượng bài tiết acid dạ dày, pH dạ dày.
Tác động tới đường huyết: Trong một nghiên cứu trên chuột, chiết xuất ngũ vị tử làm giảm hàm lượng glycogen trong gan và cơ, đồng thời tăng mức glucose trong gan và máu, cho thấy tác dụng kích thích quá trình phân giải glycogen.
Tác dụng bảo vệ gan: Các thành phần lignan của ngũ vị tử có tác dụng bảo vệ gan rõ rệt. Bao gồm lignan wu-wei-zu C, shisantherin D, deoxygomisin A, gomisin N và gomisin C. Thử nghiệm trên người, có đối chứng giả dược, hỗn hợp này làm giảm ALT và AST ở bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan và cải thiện bệnh gan nhiễm mỡ. Khả năng chống oxy hóa được thể hiện thông qua tổng số gốc tự do, gốc anion superoxide và các chất phản ứng axit thiobarbituric đều bị giảm.
Tác dụng lên hệ thần kinh: Ngũ vị tử có thể kích thích hệ thần kinh và được cho là làm tăng phản ứng phản xạ và cải thiện nhận thức. Ở Trung Quốc, quả mọng được dùng để điều trị các bệnh tâm thần như trầm cảm, điều trị chứng mất ngủ, chứng mất trí nhớ. Các thành phần giàu phenolic từ quả này có lợi trong việc ngăn ngừa và điều trị các tình trạng thoái hóa thần kinh như bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson và Huntington thông qua ngăn ngừa sự teo các nhánh của quá trình tế bào thần kinh, ức chế thần kinh trung ương nhờ tác động lên các thụ thể dopaminergic.
Cơ chế một số tác dụng chính:
Anwuligan thuộc nhóm Lignans có hoạt tính kháng khuẩn và chống ung thư đối với Streptococcus và các loài liên cầu khác. Nó cũng cho thấy các hoạt động chống oxy hóa, dọn gốc tự do và bảo vệ thần kinh. (+)-Anwulignan có tác dụng ức chế kết tập tiểu cầu gây ra bởi adenosine diphosphate (ADP) và yếu tố kích hoạt tiểu cầu (PAF).
Schisandrin A thuộc nhóm Lignans, một chất chủ vận của thụ thể adiponectin 2 (AdipoR2), có tác dụng bảo vệ thần kinh, chống viêm, bảo vệ gan, chống ung thư và chống oxy hóa. Nó làm giảm bớt tổn thương viêm thần kinh thông qua việc ức chế các đường truyền tín hiệu TRAF6-IKKβ-NF-κB và Jak2-Stat3. Nó ức chế hoạt động của CYP3A.
Schizandrin C thuộc nhóm Lignans được phân lập từ Ngũ vị tử có thể được sử dụng như một chất chống viêm thần kinh tự nhiên, tạo ra các enzym chống oxy hóa Pha II thông qua tín hiệu cAMP/PKA/CREB và Nrf-2.
Schisandrol A thuộc nhóm Lignans cũng có tác dụng đối với chứng nhiễm độc thần kinh, rối loạn cương dương và trong các bệnh tim mạch. Nó có thể ức chế hoạt động của Pgp, Beta Amyloid, CYP3A4, cGMP và NOS.
Gomisin A có đặc tính chống viêm, hạ huyết áp, bảo vệ thần kinh và chống tăng sinh, nó tạo ra tác dụng bảo vệ rõ rệt chống lại tổn thương gan và thận do tiếp xúc với CCl(4) thông qua sự điều chỉnh đường dẫn truyền tín hiệu MAPK. Gomisin A còn ức chế COX-2, iNOS, IL-6, TNF-α và NO thông qua quá trình giảm kích hoạt RIP2 và NF-κB.
Schisantherin A/B thể hiện các hoạt động chống ho, an thần, chống viêm, chống oxy hóa, chống loãng xương, bảo vệ thần kinh, tăng cường nhận thức và bảo vệ tim mạch. Schisantherin A có thể làm giảm đáng kể tình trạng suy giảm trí nhớ và học tập do Aβ1-42 gây ra và cải thiện thay đổi đáng kể những mô bệnh ở vùng hải mã. Schisantherin A thể hiện khả năng bảo vệ thần kinh chống lại ion 1-methyl-4-phenylpyridinium (MPP(+)) thông qua việc điều chỉnh hai con đường riêng biệt bao gồm tăng biểu hiện Bcl-2 qua trung gian CREB và kích hoạt tín hiệu PI3K/Akt.
Chưa có thông tin cơ chế tác dụng của các hoạt chất khác trong Ngũ vị tử.
5.3. Dược động học:
Chưa có nghiên cứu.
5.4. Các nghiên cứu lâm sàng và tiền lâm sàng:
(1) Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Viện dược liệu):
Cao từ quả và hạt ngũ vị tử có tác dụng trợ tim, điều hòa tuần hoàn máu, kích thích hô hấp, giãn mạch ngoại biên, tăng tính kích thích phản xạ, và tăng hoạt động phản xạ có điều kiện với liều thấp. Nước sắc hạt làm hạ đường máu trên động vật gây đái tháo đường thực nghiệm, giảm clorid máu và độ kiềm dự trữ. Trong mô, ngũ vị tử làm tăng ít lượng glycogen, trong khi làm giảm lượng glycogen trong gan; lượng acid lactic giảm trong mô và tăng trong gan. Nghiên cứu trên tử cung cô lập và trên tử cung in vivo của động vật cho thấy cao từ hạt có tác dụng mạnh nhất, làm tăng co bóp nhịp nhàng cơ tử cung và hầu như không ảnh hưởng đến trương lực cơ tử cung và huyết áp. Ngũ vị tử có độc tính không đáng kể. Thử nghiệm lâm sàng cho thấy chế phẩm từ hạt ngũ vị tử có hiệu quả điều trị trầm cảm ở bệnh nhân tâm thần và suy nhược, trị lỵ, làm tăng thị lực ban đêm, làm hạ huyết áp do tác dụng dãn mạch và có tác dụng bổ. Thuốc không gây tác dụng ngoài ý muốn.
Ngũ vị tử có tác dụng bảo vệ chống độc hại gan trong những thử nghiệm gây độc hại tế bào in vitro với carbon tetraclorid và D.galactosamin. Trong thử nghiêm trên ba mô hình thương tổn gan do miễn dịch ở chuột nhắt trắng, gomisin A, một lignan phân lập từ quả ngũ vị tử, có tác dụng ức chế sự tăng hoạt độ các transaminase AST và ALT và có xu hướng ức chế các biến đổi mô bệnh lý của gan. Gomisin A cũng ức chế sự giải phóng transaminase gây bởi acid deoxycholic từ tế bào gan chuột cống trắng nuôi cấy in vitro; nhưng không ảnh hưởng đến sự tạo những tế bào gâv mảng tan máu ở lách chuột nhắt trắng miễn dịch, và đến hoạt tính tan máu của bổ thể chuột lang trong phản ứng tan máu miễn dịch. Kết quả thí nghiệm chứng minh gomisin A bảo vệ màng tương của tế bào gan và không ức chế sự tạo kháng thể và hoạt động của bổ thể.
Quả ngũ vị tử chứa các lignan có tác dụng làm giảm tổn thương gan trong các trường hợp viêm gan virus mạn tính. Ngũ vị tử là vị thuốc kháng khuẩn, bảo vệ gan, cường tim và an thần. Ngũ vị tử được dùng để điều trị viêm gan mạn tính có hoạt độ transaminase huyết thanh cao, tổn thương gan, mệt nhọc, đổ mồ hôi đêm, mất ngủ, stress mạnh, hay quên, hồi hộp và tiêu chảy mạn tính.
Ngũ vị tử có tác dụng hồi phục chức năng gan và làm giảm ALT huyết thanh nhanh trong viêm gan mạn tính, và còn kích thích cytochrom P450 làm tăng khả năng giải độc trong cơ thể. Ngũ vị tử làm tăng tổng hợp protein trong gan và làm tăng hoạt động các tiểu thể gan, các tiểu thể này làm tăng khả năng giải độc và tăng hoạt động chức năng gan. Thử nghiệm lâm sàng cho thấy ngũ vị tử uống hàng ngày với liều 3g trong một tháng có tác dụng điều hòa hoạt độ transaminase huyết thanh ở một tỷ lệ cao bệnh nhân viêm gan mạn tính.
Ngũ vị tử có hoạt tính chống đông máu trong thử nghiệm in vitro. Lignan từ ngũ vị tử có hoạt tính đối kháng với yếu tố hoạt hóa tiểu cầu, yếu tố này có vai trò ưong nhiều tác dụng trên người như hạ huyết áp, tăng độ thấm mao mạch, viêm cấp, hen suyễn, tính quá mẫn của tim, loét dạ dày ruột, sốc do nội độc tố, dị ứng da và sự loại bỏ bộ phận cấy ghép. Một bài thuốc bảo vệ gan cổ truyền gồm ngũ vị tử và 6 dược liệu khác có tác dụng chống peroxy hóa lipid ở gan. Trong thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân viêm gan mạn, có sự giảm rõ rệt các transaminase AST và ALT trong huyết thanh sau một tháng điều trị với bài thuốc.
(2) Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS.TS. Đỗ Tất Lợi (2004):
Nhân dân vùng Viễn Đông nước Nga biết tác dụng bổ của ngũ vị tử đã lâu, những người đi ăn thường mang theo mình, mỗi ngày chỉ cần ăn một vốc tay quả khô là có thể đi săn cả ngày không thấy mệt. Cũng tại đây người ta còn dùng thân, vỏ cây và quả pha nước như pha chè uống để đỡ mệt nhọc.
Đông y Trung Quốc và Việt Nam coi ngũ vị tử là một vị thuốc bổ thận dùng trong những trường hợp thân thể mệt nhọc, uể oải không muốn làm gì, còn dùng chữa ho, liệt dương.
Ngũ vị tử được các nhà nghiên cứu được lý hết sức chú ý kiểm tra tìm hiểu những kinh nghiệm của nhân dân, đặc biệt tại Liên Xô cũ.
Triều Tiên. K. V. Drake, V. A. Ephimova, L. N. Markova (1949, 1954) đã chứng minh rằng với liểu nhỏ và trung bình (0,2-0,5mg/kg thể trọng) tiêm vào mạch máu (dạng nước hãm) có tác dụng làm mạnh hệ thống tim mạch của những động vật máu nóng, làm mạnh huyết áp và tàng biên độ co của tim, kích thích hô hấp, tăng nhịp và làm sâu biên độ hô hấp, với nóng đo 1:1.000- 1:2.000 làm giãn mạch tai có lập của thỏ từ 40- 60 den 100%
Thị nghiệm còn chứng minh rằng nước hãm và cồn quả ngũ vị từ với liều 02-0,3mg/1kg thể trọng có tác dụng kích thích hệ thống thần kinh, làm tàng khả năng phản xạ có điều kiện lên chuột bạch bình thường hay đã gây mê. Thuốc chế từ quả và hạt có tác dụng mạnh hơn là thuốc chế từ vỏ và thân cây,
Ngũ vị tử tán nhỏ cho uống có tác dụng kích thích đối với phần 1 chân sau của chó. Với liều cao (3g/1kg thể trọng có tác dụng kích thích đối với hệ thống thần kinh trung ương và sau cùng thì ức chế chức năng này. Khi dùng liều nhỏ (0,5-1g/1kg) thì tác dụng bắt đầu sau 4-6 giờ, liềuu cao hơn (tác dụng xuất hiện sau 12 giờ), thời gian tác dụng kéo dài từ 4-20 giờ.
V. A. Ephimova còn nghiên cứu tác dụng của ngũ vị tử đối với khả năng kích thích của hệ thống thần kinh cơ trên người từ 18 đến 4 tuổi đã nhân thấy rằng 11 người trên 13 nguời uống ngũ vị tử đã thấy khả năng kích thích của thân kinh cơ được tâng lên, chức năng của hệ thán kinh ngoại vi được mạnh lên. Đối với thiếu niên. liệu 05g, đối với người trưởng thành liệu 1.5g cho tác dụng mạnh nhất.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Đặc điểm, nguồn gốc, phân bố dược liệu, vị thuốc:
Đặc điểm nguồn gốc:
Ngũ vị bắc – Schizandra sinensis BailL. là một loại dây leo to, dài 4-7m, có thể hơn. Thân cành màu xám nâu, có nốt sần, cành non hơi có cạnh. Lá mọc so le, hình trứng, dài 6-12cm, rộng 3-8cm, gốc thuôn hẹp, đầu có mũi nhon, mép khía răng nhỏ, mặt trên nhẵn màu lục sẫm, mặt dưới có lông ngắn ở gân những lá non, cuống lá dài 1.5-3cm.
Hoa đơn tính, khác gốc, tràng có 6-9 cánh, màu vàng trắng, có mùi thơm, nhị 5. Quả mọng, hình cầu, đường kính 5-7mm, khi chín màu đỏ sẫm; trong chứa 1 đến 2 hạt. Tại Trung Quốc mùa hoa tháng 5-7, mùa quả vào tháng 8-9.
Phân bố:
Căn cứ vào đặc điểm của lá noãn và sự sắp xếp các phân quả, ngay từ năm 1830 C.L.Blome đã tách 2 chi Schisandra Michx và Kadsura Juss. Từ họ Magnoliaceae thành họ là Schisandraceae. Cả chi Schisandra Michx và Kadsura Juss có khoảng 50 loài, phân bố chủ yếu ở vùng Đông Á, Nam, và Đông Nam Á, một số loài có ở Bắc Mỹ.
Ở Việt nam, có 4 loài, trong đó 2 loài thuộc chi Schisandra Michx (S. coccinea Michx; S chinensis Baill.) và 2 loài thuộc chi Kadsura Juss. (K.longgipedunculata Finet. Et Gagnep.). Quả của các loài này được dùng làm thuốc với tên gọi chung là “ ngũ vị tử” hay “ngũ vị tử nam”. Riêng loài ngũ vị tử (S.chinensis Baill. ) đã được phát hiện ở một số vùng núi cao giáp biên giới Trung Quốc như Lào Cai (Sapa, Bát Xát), Lai Châu (Phong Thổ, Sìn Hồ). Loài này còn gặp nhiều ở Trung Quốc.
Cây mọc ở vùng Xà Xén (xã Sa Pa, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai) thấy ra hoa quả nhiều hàng năm; đến cuối mùa thu quả chín; rụng xung quanh gốc cây mẹ. Quả ngũ vị tử chín còn được một số loài chim, sóc ăn và phát tán hạt giống đi khắp nơi.

Cây Ngũ vị tử (Schisandra chinensis Turcz. Baill – Ngũ vị Bắc).
6.2. Thu hái – Sơ chế:
Vào mùa thu hàng năm, hái quả ngũ vị tử chín về rồi nhặt bỏ cuống, loại tạp chất, phơi hoặc sấy khô để dùng làm thuốc.
Theo cách dùng trong dân gian thì trộn ngũ vị tử cùng với rượu theo tỉ lệ (5:1) sau đó đun cách thủy trong 4 giờ đến khi cạn hết rượu, quả ngũ vị tử chuyển sang màu đen thì đem phơi hay sấy khô.
6.3. Bảo quản:
Không bảo quản ở nhiệt độ trên 30°C.
6.4. Thông tin khác:
CHÚ Ý BẮC NGŨ VỊ TỬ DỄ NHẦM LẪN VỚI CÁC CÂY SAU ĐÂY:
(1) Nam ngũ vị tử: Fructus Kadsurae là quả chín phơi hay sấy khô của cây nam ngũ vị tử hay cây nắm cơm Kadsura japonica L. cùng họ Ngũ vị Schisandraceae. Tuy gọi là nam ngũ vị tử nhưng là nam đối với Trung Quốc. Một số tài liệu cho rằng nam ngũ vị tử cũng là một loài Schizandra sphenanthera Rehd. et Wik cùng họ, hình thái gần giống với cây bắc ngũ vị tử nhưng khác nhau ở hoa bắc ngũ vị từ chỉ có 5 nhị còn cây nam ngũ vị tử có tới 10-15 nhị.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS.TS. Đỗ Tất Lợi (2004).
Theo Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam của Viện dược liệu (Tái bản lần 1).
Theo Dược thư Quốc Gia Việt Nam.
Nguồn tổng hợp khác.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM