Thuốc Smabelol là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Smabelol (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Nebivolol
Phân loại: Thuốc ức chế thụ thể giao cảm chọn lọc beta1.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): C07AB12.
Biệt dược gốc: Nebilet.
Biệt dược: Smabelol
Hãng sản xuất : Công ty cổ phần dược phẩm Me Di Sun
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén 5 mg, 10 mg.
Thuốc tham khảo:
| SMABELOL | ||
| Mỗi viên nén có chứa: | ||
| Nebivolol | …………………………. | 5 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Thuốc được dùng cho các trường hợp:
Tăng huyết áp
Điều trị tăng huyết áp nguyên phát.
Suy tim mãn tính (CHF)
Điều trị suy tim mãn tính nhẹ và vừa có triệu chứng đã ổn định bổ sung cho các liệu pháp điều trị suy tim cơ bản ở những bệnh nhân trên 70 tuổi.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng uống thuốc với một lượng vừa đủ nước (một cốc nước) trong hoặc sau bữa ăn.
Liều dùng:
Với bệnh nhân tăng huyết áp:
Người lớn: Liều dùng một viên (5mg) /ngày, tốt nhất nên uống cùng một thời điểm trong ngày.
Tác dụng làm hạ huyết áp thấy rõ sau 1-2 tuần điều trị. Đôi khi, tác dụng tối ưu chỉ đạt được sau 4 tuần.
Có sử dụng phối hợp với các thuốc hạ áp khác: trường hợp bệnh nhân beta-block có thể dùng đơn độc thuốc hoặc phối hợp với các thuốc hạ huyết áp khác. Hiệu quả hạ huyết áp thấy rõ khi sử dụng phối hợp nebivolol 5mg với hydrochlorothiazid 12,5- 25mg.
Với bệnh nhân suy thận: Liều khởi đầu khuyến cáo là 2,5mg/ ngày. Nếu cần, có thể tăng liều lên 5 mg.
Với bệnh nhân suy gan: chống chỉ định với bệnh nhân suy gan.
Người cao tuổi: Ở những bệnh nhân trên 65 tuổi, liều khởi đầu khuyến cáo là 2,5mg/ ngày. Nếu cần, có thể tăng liều lên 5mg.
Trẻ em và thanh thiếu niên: sự an toàn và hiệu quả sử dụng nebivolol ở trẻ dưới 18 tuổi chưa được nghiên cứu. Vì vậy, không có khuyến cáo sử dụng cho trẻ em và thanh thiếu niên.
Với bệnh nhân suy tim mãn tính (CHF):
Xác định liều ban đầu nên theo những bước sau: cách khoảng 1-2 tuần dựa trên khả năng dung nạp của bệnh nhân: 1,25 mg nebivolol, tăng lên 2,5 mg nebivolol x 1 lần/ngày, sau đó tăng lên 5 mg x 1 lần/ngày và 10 mg x 1 lần/ngày. Liều khuyến cáo tối đa là 10 mg x 1 lần/ngày.
Khởi đầu điều trị và mỗi đợt tăng liều nên được thực hiện dưới sự giám sát của các bác sĩ có kinh nghiệm trong khoảng thời gian ít nhất 2 giờ để chắc chắn tình trạng lâm sàng (đặc biệt như tình trạng huyết áp, nhịp tim, rối loạn dẫn truyền, những dấu hiệu xấu đi của suy tim) vẫn còn ổn định.
Với bệnh nhân suy thận: không cần điều chỉnh liều trong trường hợp suy thận nhẹ đến trung bình.
Với bệnh nhân suy gan: chống chỉ định với bệnh nhân suy gan.
Người cao tuổi: không cần điều chỉnh liều.
Trẻ em và thanh thiếu niên: sự an toàn và hiệu quả sử dụng nebivolol ở trẻ dưới 18 tuổi chưa được nghiên cứu. Vì vậy, không có khuyến cáo sử dụng cho trẻ em và thanh thiếu niên.
4.3. Chống chỉ định:
Quá mẫn với nebivolol hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.
Suy gan hoặc suy giảm chức năng gan.
Suy tim cấp tính, sốc tim, hoặc đợt suy tim mất bù cần được tiêm mạch thuốc co bóp cơ tim.
Hội chứng rối loạn khả năng dẫn truyền ở nút xoang, bao gồm cả block xoang – nhĩ.
Block tim độ 2 hoặc độ 3 ( không được đặt máy điều hòa nhịp).
Tiền sử co thắt phế quản hoặc hen phế quản.
U tuỷ thượng thận chưa điều trị.
Nhiễm acid chuyển hoá.
Nhịp tim chậm (nhịp tim < 60 nhịp/phút trước khi bắt đầu điều trị)
Hạ huyết áp (huyết áp tâm thu < 90 mmHg).
Rối loạn tuần hoàn ngoại vi nặng.
4.4 Thận trọng:
Thuốc gây mê
Duy trì việc điều trị bằng thuốc chẹn beta làm giảm nguy cơ bị loạn nhịp trong quá trình gây cảm ứng chuẩn bị cho gây mê và nội soi. Nếu phải ngưng thuốc chẹn beta để chuẩn bị phẫu thuật thì nên ngưng ít nhất trước 24 giờ. Cần theo dõi thận trọng đối với một vài thuốc gây mê có thể gây suy cơ tim. Bệnh nhân được bảo vệ chống lại phản ứng thần kinh phó giao cảm bằng cách tiêm tĩnh mạch atropin.
Tim mạch
Thông thường, thuốc chẹn beta – adrenergic không nên sử dụng cho bệnh nhân suy tim sung huyết chưa được điều trị, trừ khi tình trạng của bệnh nhân đã ổn định.
Ở những bệnh nhân thiếu máu tim cục bộ, điều trị với thuốc chẹn beta nên ngưng thuốc từ từ trong 1-2 tuần. Nếu cần, điều trị thay thế nên bắt đầu cùng thời điểm để ngăn ngừa tăng đau thắt ngực.
Thuốc chẹn beta – adrenergic có thể gây nhịp tim chậm: nếu tần số mạch giảm dưới 50 – 55 nhịp/phút lúc nghỉ ngơi và/ hoặc bệnh nhân có những dấu hiệu liên quan đến bệnh nhịp tim chậm, cần phải giảm liều.
Nên dùng thuốc thận trọng với những bệnh nhân: những bệnh nhân có rối loạn tuần hoàn ngoại biên (hội chứng Raynaud, chứng khập khiễng cách hồi); những bệnh nhân block tim độ 1; những bệnh nhân bị chứng đau thắt ngực Prinzmetal.
Chuyển hóa/nội tiết
Thuốc không ảnh hưởng đến nồng độ glucose ở bệnh nhân đái tháo đường. Tuy nhiên, nên dùng thận trọng vì nebivolol có thể che lấp một vài triệu chứng hạ đường huyết (nhịp tim nhanh, đánh trống ngực).
Hô hấp
Ở những bệnh nhân bị rối loạn tắc nghẽn phổi mạn tính, nên dùng thuốc dùng thận trọng vì có thể làm tăng thêm sự co thắt đường thở..
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Chưa có nghiên cứu sự ảnh hưởng trên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Các nghiên cứu dược lực học cho thấy thuốc không ảnh hưởng đến chức năng tâm thần vận động. Khi lái xe và vận hành máy móc nên thận trọng vì có thể gây choáng váng và mệt mỏi.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: C
US FDA pregnancy category: NA
Thời kỳ mang thai:
có thể có những tác động gây hại cho người mẹ cũng như thai nhi. Trong trường hợp cần thiết sử dụng phải thường xuyên kiểm tra lưu lượng máu qua nhau thai cũng như sự phát triển của thai nhi.
Thời kỳ cho con bú:
các nghiên cứu cho thấy nebivolol được bài tiết qua sữa, chưa rõ có bài tiết qua sữa mẹ hay không, vì vậy không nên dùng trong thời kì cho con bú..
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Điều trị cao huyết áp:
Tác dụng phụ thông thường đã được báo cáo như: nhức đầu, choáng váng, dị cảm, khó thở, táo bón, buồn nôn, tiêu chảy, mệt mỏi và phù.
Điều trị suy tim mãn tính:
Tác dụng phụ thông thường đã được báo cáo là chậm nhịp tim và choáng váng. Những tác dụng phụ sau được xem là liên quan đặc biệt đến việc điều trị suy tim mãn tính: sự trầm trọng thêm tình trạng suy tim, hạ huyết áp thế đứng, không dung nạp thuốc, block nhĩ thất độ một, phù chi dưới..
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Tương tác về dược lực học đối kháng với thụ thé beta-andrenergic
Không nên phối hợp
Với các thuốc chống loạn nhịp nhóm I (quinidin, hydroquinidin, cibenzolin, flecainid, disopyramid, lidocain, mexiletin, propafenon): tác động lên thời gian dẫn truyền nhĩ – thất và tăng tác động hướng cơ âm tính.
Với nhóm chẹn kênh calci thuộc nhóm verapamil/diltiazem: tác dụng âm tính trên sự co bóp và dẫn truyền nhĩ – thất. Tiêm tĩnh mạch verapamil trên bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc chẹn beta có thể dẫn đến hạ huyết áp quá mức và blốck nhĩ – thất.
Với nhóm hạ huyết áp tác động lên trung ương (clonidin, guanfacin, moxonidin, methyldopa, rilmenidin): dùng đồng thời với thuốc hạ huyết áp tác động lên trung ương có thể làm xấu đi tình trạng suy tim do làm giảm trương lực thần kinh giao cảm trung ương (giảm nhịp tim và cung lượng tim, giãn mạch). Ngưng thuốc đột ngột, đặc biệt nếu trước đó có ngừng sử dụng thuốc chẹn beta, có thể làm tăng nguy cơ “tăng huyết áp dội ngược”.
Thận trọng khi phối hợp
Với các thuốc chống loạn nhịp tim nhóm III (amiodaron): có thể ảnh hưởng đến thời gian dẫn truyền nhĩ -thất.
Với các thuốc gây mê halogen dễ bay hơi: sử dụng đồng thời các thuốc đối kháng beta – andrenergic với các thuốc gây mê có thể làm giảm nhịp tim nhanh phản xạ, đồng thời tăng nguy cơ hạ huyết áp. Trong điều tri beta – block, tranh ngừng thuốc đột ngột. Chỉ nên dùng thuốc gây mê khi bệnh nhân đã uống nebivolol
Insulin và thuốc uống điều trị đái tháo đường: Mặc dù nebivolol không ảnh hưởng đến nồng độ glucose trong máu, việc sử dụng đồng thời có thể che lấp một vài triệu chứng hạ đường huyết (nhịp tim nhanh, đánh trống ngực).
Baclofen (thuốc giãn cơ), amifostin (thuốc hỗ trợ điều trị ung thư): Sử dụng đồng thời với thuốc hạ huyết áp có khả năng tăng hạ huyết áp. Vì thề phân liều thuốc hạ huyết áp nên được điều chỉnh phù hợp.
Lưu ý khi phối hợp:
Nhóm glycosid tim: sử dụng đồng thời có thể làm tăng thời gian dẫn truyền nhĩ – thất. Thử nghiệm lâm sàng cho thấy nebivolol không làm ảnh hưởng đến dược động học của các digoxin..
Thuốc chẹn calci nhóm dihydropyridin (amlodipin, felodipin, lacidipin, nifedipin, nicardipin, nimodipin, rirtrendipin): sử dụng đồng thời có thể làm tăng nguy cơ hạ huyết áp và không loại trừ có thể tăng nguy cơ suy giảm chức năng bơm máu của tâm thất ở những bệnh nhân suy tim.
Thuốc an thần, thuốc chống trầm cảm (3 vòng, barbiturat và phenothiazin): sử dụng đồng thời gây tăng ảnh hưởng của beta-block lên quá trình tăng huyết áp..
Thuốc chống viêm không steroid (NSAID): không gây ảnh hưởng đến tác dụng hạ huyết áp của nebivolol.
Thuốc cường giao cảm: sử dụng đồng thời có thể làm mất tác dụng của các chất đối kháng beta-andrenergic. Các thuốc beta-andrenergic có thể gây tác dụng không đối kháng α-adrenergic của thuốc chống trầm cảm..
Tương tác dược động học
Quá trình chuyển hóa của nebivolol cần có sự tham gia của enzym chuyển hóa CYP2D6, khi đồng hấp thu với những chất ức chế hoạt động của enzym, đặc biệt là paroxetin, fluoxetin, thioridaizin và quinidin có thể gây ra tăng nồng độ của nebivolol trong huyết tương và làm tăng nguy cơ chậm nhịp tim quá mức và tăng các tác dụng phụ của thuốc.
Khi đồng hấp thu nebivolol cùng với cimetidin gây tăng nồng độ nebivolol trong huyết tương mà không làm thay đổi tác dụng trên lâm sàng. Đồng hấp thu cùng ranitidin không ảnh hưởng đến quá trình dược động học của thuốc. Có thể chỉ định 2 phác đồ điều trị: dùng nebivolol trong bữa ăn và một antacid giữa các bữa ăn.
Liên kết giữa nebivolol và nicardipin làm tăng nồng độ trong huyết tương của cả hai thuốc mà không thay đổi hiệu quả điều trị.
Đồng hấp thu nebivolol với rượu, furosemid hoặc hydrochlorothiazfd không làm ảnh hưởng đến dược động học của nebivolol.
Nebivolol không làm ảnh hưởng đến dược động học cũng như dược lực học của thuốc chống đông warfarin.
4.9 Quá liều và xử trí:
Chưa có báo cáo về các phản ứng quá liều khi sử dụng nebivolol.
Triệu chứng
Các triệu chứng của quá liều thuốc chẹn beta là: nhịp tim chậm, hạ huyết áp, co thắt phế quản và suy tim cấp.
Xử trí
Trong trường hợp quá liều hoặc mẫn cảm với thuốc, bệnh nhân cần được giám sát chặt chẽ và điều trị dưới sự chăm sóc đặc biệt. Nên kiểm tra nồng độ glucose trong máu. Có thể ngăn chặn sự hấp thu phần còn lại của thuốc vẫn còn hiện diện trong đường tiêu hóa bằng phương pháp rửa dạ dày, dùng than hoạt tính và một thuốc nhuận tràng. Cần hô hấp nhân tạo. Chậm nhịp tim hoặc phản ứng phó giao cảm quá mức cần được điều trị bằng cách dùng atropin hoặc methylatropin. Hạ huyết áp và sốc nên điều trị bằng huyết tương/chất thay thế huyết tương và nếu cần thiết, dùng các catecholamin. Tác dụng của thuốc chẹn beta có thể giảm bằng cách tiêm tĩnh mạch chậm isoprenalin hydroclorid, bắt đầu với liều khoảng 5mcg/phút hoặc dobutamin bắt đầu với liều 2.5mcg/phút cho đến khi đạt hiệu quả mong muốn. Trong những trường hợp dai dẳng, isoprenalin có thể được kết hợp với dopamin. Nếu vẫn chưa đạt hiệu quả mong muốn, có thể tiêm tĩnh mạch glucagon 50 – 100mcg/kg. Nếu cần thiết, nên lặp lại bằng cách tiêm tĩnh mạch glucagon 70mcg/kg trong vòng một giờ, có theo dõi. Trong những trường hợp phức tạp của việc điều trị chống lại nhịp tim chậm có thể sử dụng thêm máy điều hòa nhịp.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Nebivolol là chất chẹn thụ thể beta chọn lọc và cạnh tranh.
Nebivolol gây giãn mach nhẹ do tương tác với L-arginin/nitrie oxyd trên đường đi.
Dùng Nebivolol liều đơn hay liều nhắc lại làm giảm nhịp tim và hạ huyết áp khi nghỉ ngơi và khi vận động thể lực, ở cả những người có huyết áp bình thường và cả những bệnh nhân tăng huyết áp. Hiệu quả hạ huyết áp được duy trì khi điều trị lâu dài. Ở liều điều trị, Nebivolol không có tác dụng đối kháng hệ alpha – adrenergic.
Trong quá trình điều trị ngắn và điều trị dài ngày với Nebivolol cho bệnh nhân tăng huyết áp, kháng lực mạch toàn thân giảm. Mặc dù nhịp tim giảm, nhưng cung lượng tim khi nghỉ và khi vận động thể lực cũng không đổi do tăng thể tích nhát bóp. Các nghiên cứu lâm sàng về sự khác nhau về huyết động học khi so với các chất đối kháng thụ thể beta 1 khác chưa được thiết lập đầy đủ.
Đối với bệnh nhân tăng huyết áp, Nebivolol làm tăng đáp ứng dãn mạch qua trung gian NO đối với acetylcholin mà thông số này thường giảm ở những bệnh nhân rối loạn chức năng nội mạc.
Về tỷ lệ tử vong và tỷ lệ bệnh tật, trong một thử nghiệm lâm sàng có so sánh với giả dược tiến hành trên 2128 bệnh nhân ≥70 tuổi (tuổi trung bình là 75,2) bị suy tim mạn tính ổn định có hoặc không có suy giảm phân suất tống máu của thất trái (LVEF trung bình: 36±12,3%, với sự phân bố như sau: LVEF < 35% ở 56% bệnh nhân; LVEF: 35% – 45% ở 25% bệnh nhân và LVEF >45% ở 19% bệnh nhân) được theo dõi trong thời gian trung bình 20 tháng, nebivolol, thuộc nhóm trị liệu tốt nhất, kéo dài thời gian xuất hiện tử vong hoặc nhập viện lại vì những lý do tim mạch với tỉ lệ giảm nguy cơ tương đối 14% (tỉ lệ giảm nguy cơ tuyệt đối là 4,2%). Nguy cơ giảm sau 6 tháng điều trị và duy trì trong suốt quá trình điều trị (trung bình là 18 tháng). Hiệu quả của nebivolol không phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính hoặc LVEF của đối tượng nghiên cứu. Lợi ích giảm tử vong do mọi nguyên nhân không khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh với giả dược (giảm tỉ lệ tử vong tuyệt đối 2,3%).
Tỷ lệ đột tử giảm khi điều trị nebivolol cho bệnh nhân (4,1% so với 6,6%, giảm tương đối 38%).
Các thử nghiệm in vitro và in vivo ở động vật cho thấy nebivolol không có tác dụng giống giao cảm nội sinh (intrinsic sympathicomimetic activity).
Các thử nghiệm in vitro và in vivo ở động vật cho thấy nebivolol dùng ở liều dược lý không có tính ổn định màng.
Ở người tình nguyện khoẻ mạnh, nebivolol không có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng gắng sức tối đa hoặc tính bền bỉ.
Cơ chế tác dụng:
Nebivolol là một hỗn hợp racemic gồm hai dạng đồng phân SRRR – nebivolol (hay d – nebivolol) và RSSS – nebivolol (hay l – nebivolol). Thuốc phối hợp cả hai tác động dược lý: Nebivolol là thuốc chẹn thụ thể beta chọn lọc và cạnh tranh, tác động này do SRRR – enantiomer (d – enantiomer). Thuốc có những đặc tính giãn mạch nhẹ do tương tác với L – arginin/nitric oxyd trên đường đi.
5.2. Dược động học:
Hấp thu: Cả hai đồng phân nebivolol được hấp thu nhanh chóng sau khi uống. Sự hấp thu của nebivolol không bị ảnh hưởng bởi thức ăn, Thuốc có thể dùng trong hoặc ngoài bữa ăn..
Phân bố:
Nebivolol phân bố trong cơ thể đưới dạng phức hợp liên kết với albumin huyết tương.
Tỷ lệ liên kết của đồng phân d-Nebivolol với albumin là 98,1 %.
Tỷ lệ liên kết của đồng phân l-Nebivolol với albumin là 97,9%.
Chuyển hóa :
Nebivolol được chuyển hoá rộng rãi, phần lớn thành chất chuyển hoá hydroxy hoạt tính. Nebivolol được chuyển hoá thông qua hydroxyl hoá vòng no và vòng thơm, khử alkyl và glucuronide hoá, ngoài ra, glucuronide của chất chuyển hoá hydroxyl cũng được hình thành.
Chất chuyển hoá của nebivolol bằng cách hydroxyl hoá vòng thơm do enzyme CYP2D6 phụ thuộc vào hình thái oxy hoá mang tính chất di truyền. Độ sinh khả dụng trung bình của nebivolol sau khi uống là 12% với các chất chuyển hoá nhanh và gần như hoàn toàn với các chất chuyển hoá kém. Ở trạng thái ổn định và liều như nhau, nồng độ đỉnh trong huyết tương của nebivolol không biến đổi ở dạng chuyển hoá kém có nồng độ gấp khoảng 23 lần so với ở dạng chuyển hoá nhanh. Khi so sánh thuốc chưa chuyển hoá và chất chuyển hoá có hoạt tính thì sự chệnh lệch về nồng độ đỉnh trong huyết tương là 1,3-1,4 lần. Vì sự thay đổi khác nhau về tốc độ chuyển hoá, liều lượng Nebilet luôn luôn được điều chỉnh cho từng đối tượng bệnh nhân: những người chuyển hoá kém dùng liều thấp hơn.
Với các chất chuyển hoá nhanh, thời gian bán hủy thải trừ của các đồng phân nebinolol trung bình là 10 giờ. Với các chất chuyển hoá chậm, thời gian sẽ kéo dài gấp 3-5 lần. Khi chuyển hoá nhanh, nồng độ trong huyết tương của đồng phân RSSS cao hơn đồng phân SRRR một chút. Khi chuyển hoá chậm, sự khác biệt này sẽ lớn hơn. Khi chuyển hoá nhanh, thời gian bán hủy thải trừ của các chất chuyển hoá hydroxyl của 2 dạng đồng phân trung bình là 24 giờ, và khi chuyển hóa chậm thì thời gian này kéo dài gấp 2 lần.
Ở hầu hết đối tượng nghiên cứu (dạng chuyển hóa nhanh) nồng độ thuốc trong huyết tương đạt trạng thái ổn định trong vòng 24 giờ đối với nebivolol và khoảng vài ngày đối với chất chuyển hoá hydroxyl.
Nồng độ thuốc trong huyết tương tỷ lệ thuận với liều từ 1 mg tới 30 mg. Dược động học của nebivolol không bị ảnh hưởng bởi độ tuổi.
Thải trừ: thuốc được thải trừ qua phân và nước tiểu.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Lactose monohydrat, tinh bét ngô tiền hồ hóa, croscarmellose natri, povidon, crospovidon, colloidal silica khan, magnesi stearat, nước tinh khiết vừa đủ.
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM