Midazolam – Midazolam-hameln/Paciflam

Thuốc Midazolam-hameln , Paciflam là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Midazolam-hameln , Paciflam (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Midazolam

Phân loại: Thuốc chống lo âu, an thần nhóm benzodiazepine.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N05CD08.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Midazolam-hameln , Paciflam

Hãng sản xuất : Siegfried Hameln GmbH

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch tiêm 1mg/ml, 5mg/ml

Thuốc tham khảo:

MIDAZOLAM – HAMELN 5mg/ml
Mỗi ml dung dịch tiêm có chứa:
Midazolam …………………………. 1 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

PACIFLAM 5MG/ML
Mỗi ml dung dịch tiêm có chứa:
Midazolam …………………………. 5 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Midazolam-hameln / Paciflam là thuốc an thần được chỉ định:

Ở người lớn

An thần tỉnh trước và trong khi chẩn đoán hoặc trong quá trình điều trị có hay không có gây tê cục bộ.

Gây mê: Tiền mê trước khi khởi mê; Khởi mê; Như là một thành phần an thần trong gây mê phối hợp.

An thần trong phòng chăm sóc đặc biệt.

Ở trẻ em

An thần tỉnh trước và trong khi chẩn đoán hoặc trong quá trình điều trị có hay không có gây tê cục bộ.

Gây mê – Tiền mê trước khi khởi mê.

An thần trong phòng chăm sóc đặc biệt.

An thần trong phòng chăm sóc tích cực

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Thuốc được chỉ định dùng theo đường tiêm. Midazolam là thuốc an thần mạnh nên phải thực hiện thăm dò liều và tiêm chậm.

Hướng dẫn cách sử dụng/bảo quản

Thuốc chỉ dùng một lần cho bệnh nhân và nên sử dụng ngay sau khi mở. Không được sử dụng nếu như phát hiện có cặn và loại bỏ dung dịch thừa.

Khi truyền dịch liên tục, dung dịch thuốc tiêm midazolam có thể được pha loãng với tỷ lệ l5 mg midazolam với 100 – 1000 ml với một trong các dung dịch truyền sau đây: NaCl 0.9 %, dextrose 5 % và 10 % và dung dịch Ringer lactate.

Liều dùng:

Liều lượng chuẩn:

Midazolam là một thuốc an thần mạnh yêu cầu sự chuẩn độ và tiêm chậm. Sự chuẩn độ được khuyến cáo mạnh để đạt mức độ an thần an toàn mong muốn theo yêu cầu lâm sàng, thể chất, tuổi tác và các thuốc phối hợp. Ở người lớn trên 60 tuổi, bệnh nhân thể trạng suy nhược hoặc có bệnh mãn tính và bệnh nhân nhi, cần phải cần thận xác định liều dùng và các yếu tố gây nguy cơ của từng bệnh nhân. Các liều lượng chuẩn được cung cấp theo bảng dưới đây. Các chi tiết khác cũng được cung cấp sau bảng liệt kê này:

Chỉ định Người lớn < 60 tuổi Người lớn ≥ 60 tuổi/ suy nhưọc hoặc có bệnh mãn tính Trẻ em
An thần tỉnh Đường tĩnh mạch:

Liều khởi đầu: 2-2,5 mg

Liều thăm dò: 1 mg Tồng liều: 3,5-7,5 mg

Đường tĩnh mạch:

Liều khởi đầu: 0,5-1 mg Liều thăm dò: 0,5-1 mg Tổng liều: < 3,5 mg

Đường tĩnh mạch ở bệnh nhân từ 6 tháng – 5 tuổi:

Liều khởi đầu: 0,05-0,1 mg/kg Tổng liều: <6 mg

Đường tĩnh mạch ở bệnh nhân từ 6 -12 tuổi:

Liều khởi đầu: 0,025-0,05 mg/kg

Tổng liều: < 10 mg

Qua đường trực tràng, trẻ > 6 tháng: 0,3-0,5 mg/kg

Tiêm bắp từ 1-15 tuổi: 0,05-0,15 mg/kg

Tiền mê Tiêm bắp:

0,07-0,1 mg/kg

Tiêm bắp:

0,025-0,05 mg/kg

Qua dường trực tràng, trẻ > 6 tháng:

0,3-0,5 mg/kg

Tiêm bắp 1-15 tuổi:

0,08-0,2 mg/kg

Cảm ứng mê Đường tĩnh mạch:

0,15 -0,2 mg/kg (0,3­0,35 không sử dụng chất tiền mê)

Đường tĩnh mạch:

0,1 -0,2 mg/kg (0,15-0,3 không chuẩn mê)

Thành phần an thần trong gây mê phối hợp Đường tĩnh mạch:

Liều truyền ngắt quãng 0,03-0,1 mg/kg hoặc truyền liên tục 0,03-0,1 mg/kg/giờ

Đường tĩnh mạch:

Dùng liều thấp hơn liều khuyến cáo đối với người < 60 tuổi

An thần trong phòng chăm sóc tích cực Đường tĩnh mạch:

Liều tấn công: 0,03-0,3 mg/kg khoảng tăng liều từ 1-2,5 mg

Liều duy trì: 0,03-0,2 mg/kg/giờ

Đường tĩnh mạch:

Trẻ sơ sinh thiêu tháng < 32 tuần thai: 0,03 mg/kg/h

Trè sơ sinh > 32 tuần thai và trẻ em < 6 tháng tuổi: 0,06 mg/kg/h

Trẻ em ≥6 tháng tuổi:

Liều tấn công: 0,05-0,2 mg/kg Liều duy trì: 0,06-0,1 mg/kg/h

An thần tỉnh

Midazolam được sử dụng qua đường tĩnh mạch trong các trường hợp an thần tỉnh dùng trong chẩn đoán hoặc trong phẫu thuật. Liều lượng cần được thăm dò theo từng cá nhân, và không tiêm nhanh hay tiêm nhanh một lần với lượng lớn. Tác dụng bắt đầu gây an thần có thể thay đổi theo từng cá nhân tùy thuộc vào thể trạng của từng bệnh nhân và từng trường hợp cụ thể theo liều sử dụng (tốc độ tiêm, lượng thuốc tiêm). Nếu cần thiết, các liều tiếp theo có thể được sử dụng tùy theo tình trạng của từng bệnh nhân. Thời gian tác dụng khoảng 2 phút sau khi tiêm. Hiệu quả tối đa đạt được sau khoảng từ 5 đến 10 phút.

Người lớn

Midazolam sử dụng qua đường tĩnh mạch phải được tiêm chậm, ốc độ tiêm khoảng l mg trong 30 giây. Ở người lớn dưới 60 tuổi, liều khởi đầu từ 2 đến 2,5 mg truyền trong 5 đến 10 phút trước khi bắt đầu quá trình điều trị. Có thể sử đụng các liều 1 mg tiếp theo nếu cần thiết. Tổng liều trung bình là từ 3,5 đến 7,5 mg. Tổng liều lớn hơn 5 mg thường không cần thiết. Ở người lớn trên 60 tuổi, bệnh nhân bị suy nhuợc hoặc có bệnh mãn tính, liều khởi đầu từ 0,5 đến 1 mg. Có thể tiêm thêm các liều từ 0,5 đến 1 mg nếu cần thiết, Tổng liều lớn hơn 3,5 mg thường không cần thiết.

Trẻ em

Tiêm qua đường tĩnh mạch: nên thực hiện thăm dò liều Midazolam từ từ để đạt được hiệu quả lâm sàng mong muốn. Liều khởi đầu của Midazolam nên được tiêm từ 2 đến 3 phút. Phải đợi thêm từ 2 đến 5 phút để đánh giá đầy đủ tác dụng an thần trước khi bắt đầu hoặc sử dụng liều lặp lại. Nếu cần thêm tác dụng an thần, tiếptục dò liều bằng cách tăng dần lượng nhỏ đến khi đạt đến mức độ an thần phù hợp. Trẻ nhỏ đưới 5 tuổi có thể cần liều cao hơn (mg/kg) so với trẻ lớn và thanh thiếu niên.

Bệnh nhi dưới 6 tháng tuổi: thường dễ bị tổn thương đường hô hấp và giảm thông khí. Vì lý do này, khuyến cáo không nên sử dụng thuốc trong an thần tỉnh ở trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi,

Bệnh nhi từ 6 tháng đến 5 tuổi: liều khởi đầu 0,05 đến 0,1 mg/kg, Tổng liều có thể lên đến 0,6 mg/kg để đạt đến mức độ an thần như mong muốn, nhưng tổng liều không nên vượt quá 6 mg. Tác dụng an thần kéo dài và nguy cơ giảm thông khí có thể xảy ra khi sử dụng liều cao hơn.

Bệnh nhi từ 6 đến 12 liều khởi đầu 0,025 đến 0,05 mg/kg. Tổng liều đến 0,4 mg/kg và tối đa 10 mg nếu cần thiết. Tác dụng an thần kéo dài và nguy cơ giảm thông khí có thể xảy ra khi sử dụng liều cao hơn.

Bệnh nhi từ 12 đến 16 tuổi: nên dùng liều như người lớn.

Sử dụng qua đường trực tràng: tổng liều Midazolam thông thường từ 0,3 đến 0,5 mg/kg. Dung dịch thuốc trong ống tiêm được bơm vào trực tràng bằng dụng cụ chuyên biệt bằng nhựa gắn vào cuối ống bơm tiêm. Nếu như thế tích sử dụng quá nhỏ, có thể pha thêm nước để đạt đến thể tích 10 ml. Tổng liều nên được sử dụng một lần và tránh sử dụng lặp lại qua đường trực tràng. Khuyến cáo không nên sử dụng cho trẻ đưới 6 tháng tuổi vì không có đầy đủ số liệu nghiên cứu ở nhóm bệnh nhân này.

Tiêm bắp: liều sử dụng vào khoảng 0,05 và 0,15 mg/kg. Tổng liều lớn hơn 10,0 mg là không cần thiết.

Chỉ nên sử dụng đường dùng này trong các trường hợp ngoại lệ. Nên dùng qua trực tràng hơn vì tiêm bắp gây đau.

Ở trẻ em đưới 15 kg thể trọng, khuyến cáo không sử dụng dung dịch Midazolam với nồng độ cao hơn 1 mg/ml. Nồng độ cao hơn nên được pha loãng tới nồng độ 1 mg/ml.

Gây mê

Tiền mê

Tiền mê với Midazolam ngay trước khi thực hiện quá trình gây mê để tạo ra trạng thái an thần (gây ngủ, ngủ lơ mơ và giải lo âu) và làm giảm nhẹ trí nhớ trước phẫu thuật. Midazolam cũng có thể được sử dụng kết hợp với các thuốc kháng cholinergic. Trong chỉ định này, Midazolam nên được tiêm bắp sâu vào khối cơ lớn từ 20 đến 60 phút trước khi cảm ứng mê, hoặc ưu tiên sử dụng qua đường trực tràng ở trẻ em (xem phần dưới). Phải theo dõi bệnh nhân cẩn thận sau khi tiền mê vì mức nhạy cảm của từng cá nhân khác nhau và triệu chứng quá liều có thể xảy ra.

Người lớn

Để an thần trước phẫu thuật và để làm giảm trí nhớ về các sự kiện tiền phẫu thuật, liều khuyến cáo đối với người lớn có Điều kiện Thể chất thuộc nhóm I và II theo phân loại của Hiệp hội gây mê Hoa Kỳ (ASA) và dưới 60 tuổi là từ 0,07 đến 0,1 mg/kg tiêm bắp. Cần phải giảm liều và điều chỉnh phù hợp theo từng cá nhân khi sử dụng midazolam cho người lớn trên 60 tuổi, bệnh nhân suy nhược hay bị bệnh mãn tính. Khuyến cáo nên sử dụng liều từ 0,025 đến 0,05 mg/kg tiêm bắp, Liều thông thường từ 2 đến 3 mg.

Trẻ em

Sử dụng qua đường trực tràng: Tổng liều midazolam, thông thường khoảng 0,3 tới 0,5 mg/kg nên được sử dụng 15 đến 30 phút trước khi khởi mê. Sử dụng dung dịch trong ống qua đường trực tràng được thực hiện bằng dụng cụ bằng nhựa gắn vào cuối ống bơm tiêm. Nếu như lượng thể tích quá nhỏ, có thể pha thêm nước để đạt được tông thể tích là 10 ml.

Sử dụng qua đường tiêm bắp: vì tiêm bắp gây đau nhức, đường dùng này chỉ được dùng đến trong những trường hợp ngoại lệ. Nên chọn đường trực tràng. Tuy nhiên liều từ 0,08 đến 0,2 mg/kg sử dụng qua đường tiêm bắp tỏ ra hiệu quả và an toàn. Ở trẻ từ 1 tuổi đến 15 tuổi, các liều cao hơn theo tỷ lệ so với người lớn và tương quan với thể trọng.

Khuyến cáo không nên sử dụng ở trẻ em dưới 6 tháng tuổi vì số liệu có được là hạn chế.

Ở trẻ em dưới 15 kg thể trọng, khuyến cáokhông nên sử dụng midazolam ở các nồng độ cao hơn 1 mg/ml, Các nồng độ cao hơn nên được pha loãng đến 1mg/ml.

Khởi mê

Ở người lớn

Nếu như midazolam được sử dụng để khởi mê trước khi các tác nhân gây mê khác được sử dụng, đáp ứng cá thể thường hay thay đổi. Liều dùng nên được chuẩn độ liều để đạt đến hiệu quả mong muốn tùy theo tuổi của bệnh nhân và tình trạng lâm sàng. Khi midazolam được sử dụng trước hay kết hợp với các tác nhân khác qua đường tĩnh mạch hay qua đường khí dung để khởi mê, liều khởi đầu của mỗi tác nhân phải được giảm đáng kể. Mức độ gây mê mong muốn đạt được theo từng bước của Sự chuẩn độ.

Liều khởi mê đường tĩnh mạch của midazolam nên được sử dụng từ từ theo hướng tăng dần. Mỗi bước tăng dần không quá 5 mg mỗi lần sẽ được tiêm từ 20 đến 30 giây cho phép khoảng cách là 2 phút giữa các lần tăng.

Ở người lớn dưới 60 tuổi, thông thường liều tiêm qua tĩnh mạch từ 0,15 đến 0,2 mg/kg là đủ. Ở người lớn không có tiền mê dưới 60 tuổi, liều dùng có thể cao hơn (0,3 tới 0,35 mg/kg qua đường tĩnh mạch). Nếu cần thiết để khởi mê hoàn toàn, có thể áp dụng việc tăng dẫn khoảng 25% liều khởi điểm. Khởi mê có thể hoàn toàn thay vì gây mê qua đường khí dung. Trong trường hợp đề kháng, tổng liều đến 0,6 mg/kg có thể được sử dụng để khởi mê, nhưng ở liều lớn hơn này cũng có thể kéo dài sự hồi phục.

Ở người lớn trên 60 tuổi, bệnh nhân bị suy nhược hay bị bệnh mãn tính, liều từ 0,1đến 0,2 mg/kg được sử dụng qua đường tĩnh mạch. Thông thường người lớn trên 60 tuổi không có tiền mê cần đến nhiều midazolam hơn đề khởi mê, khuyến cáo dùng liều khởi đầu từ 0,15 đến 0,3 mg/kg. Các bệnh nhân không dùng tiền mê có bệnh toàn thân nghiêm trọng hoặc suy nhược, thông thường có nhu cầu về midazolam thấp hơn để khởi mê. Thông thường liều khởi đầu từ 0,15 đến 0,25 mg/kg là đủ.

Thành phần an thần trong gây mê phối hợp

Người lớn

Có thể sử dụng Midazolam như là thành phần gây an thần trong gây mê phối hợp bằng cách hoặc sử dụng những liều nhỏ ngắt quãng qua đường tĩnh mạch (liều từ 0,03-0,1 mg/kg) hoặc truyền liên tục qua đường tĩnh mạch (liều từ 0,03-0,1 mg/kg/giờ), đặc biệt kết hợp với các thuốc giảm đau. Liều lượng và khoảng cách giữa các liều thay đổi tùy thuộc vào phản ứng của từng bệnh nhân.

Ở người lớn trên 60 tuổi, bệnh nhân suy nhược hay có bệnh mãn tính, sẽ dùng liều duy trì thấp hơn.

An thần trong chăm sóc đặc biệt

Mức độ gây mê mong muốn đạt được theo từng bước chuẩn độ Midazolam bằng cách hoặc truyền dịch liên tục hoặc tiêm từng hồi, tùy theo yêu cầu lâm sàng, tình trạng thể chất, tuổi và sự phối hợp thuốc (xem phần tương tác với các thuốc và các tương tác khác).

Ở người lớn

Liều nạp qua đường tĩnh mạch: 0,03 đến 0,3 mg/kg tiêm chậm theo hướng tăng dần. Mỗi lần tăng dần lên từ 1 đến 2,5 mg nên được tiêm từ 20 đến 30 giây cho phép khoảng cách là 2 phút giữa các lần tiêm tăng liều tiếp theo. Ở các bệnh nhân giảm lưu lượng máu, co mạch, hoặc hạ thân nhiệt, liều khởi phát nên được giảm hoặc loại bỏ. Khi sử dụng Midazolam kết hợp với các thuốc giảm đau mạnh, nên sử dụng thuốc giảm đau trước do đó tác dụng an thần của midazolam có thể được chuẩn độ một cách an toàn cộng thêm vào bất kỳ tác dụng an thần nào do các thuốc giảm đau mang lại.

Liều duy trì qua đường tĩnh mạch: có thể sử dụng các liều từ 0,03 tới 0,2 mg/kg/giờ. Ở các bệnh nhân giảm lưu lượng máu, co mạch, hoặc hạ thân nhiệt, liều duy trì nên được giảm. Nên đánh giá đều đặn mức độ an thần. Với an thần lâu dài, sự dung nạp có thể phát triển và có thể sẽ phải tăng liều.

Trẻ em trên 6 tháng tuổi

Ở các bệnh nhi có luồnốống và thông khí, liều nạp từ 0,05 đến 0,2 mg/kg sử dụng từ từ qua đường tĩnh mạch trên ít nhất từ 2 đến 3 phút nhằm xác định được tác dụng lâm sàng mong muốn. Không nên tiêm nhanh qua đường tĩnh mạch. Việc truyền liên tục qua đường tĩnh mạch kế tiếp theo liều khởi phát là từ 0,06 đến 0,12 mg/kg/giờ (1 đến 2 mcg/kg/phút). Tốc độ truyền có thể tăng hoặc giảm (nói chung khoảng 25% tốc độ truyền ban đầu hay tốc độ truyền tiếp theo sau) theo yêu cầu, hoặc có thể bổ sung liều midazolam qua đường tĩnh mạch nhằm làm tăng hay duy trì tác dụng mong muốn.

Khi bắt đầu việc truyền midazolam ở các bệnh nhân có huyết động học bị tổn thương, liều nạp thông thường nên được chuẩn độ theo mức độ tăng dần lượng nhỏ và cần theo dõi tình trạng không ổn định về huyết động, học ở bệnh nhân, ví dụ giảm huyết áp. Các bệnh nhân này cũng dễ bị nguy cơ do các tác dụng suy yếu hô hấp của midazolam và cần phải theo dõi cẩn thận nhịp hô hấp và sự bão hòa ôxy.

Trẻ sơ sinh và trẻ đến 6 tháng tuổi

Nên truyền Midazolam liên tục qua đường tĩnh mạch, bắt đầu ở 0,03 mg/kg/giờ (0,5 mcg/kg/phút) ở trẻ sơ sinh < 32 tuần hoặc 0,06 mg/kg/giờ (1 mcg/kg/phút) ở trẻ sơ sinh >32 tuần tuổi và trẻ đến 6 tháng tuổi.

Khuyến cáo không nên sử dụng các liều nạp qua đường tĩnh mạch ở các trẻ sinh non, trẻ sơ sinh và trẻ em đến 6 tháng tuổi, tốt hơn có thể truyền nhanh hơn trong các giờ đầu tiên để đạt được mức độ điều trị trong huyết tương. Tốc độ truyền nên được đánh giá lại một cách thận trọng và thường xuyên, đặc biệt sau 24 giờ đầu tiên để truyền liều thấp nhất có hiệu quả và giảm khả năng tích lũy thuốc.

Yêu cầu theo dõi cẩn thận nhịp hô hấp và sự bão hòa ôxy,

Ở trẻ sinh non, trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 15 kg thể trọng, khuyến cáo không nên sử dụng dung dịch midazolam với các nồng độ cao hơn 1 mg/ml. Nồng độ cao hơn nên được pha loãng ở mức 1 mg/ml.

4.3. Chống chỉ định:

Sử dụng thuốc nảy cho các bệnh nhân được biết quá mẫn cảm với benzodiazepine hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Sử dụng thuốc này để an thần tỉnh với các bệnh nhân bị suy hô hấp trầm trọng hoặc suy hô hấp cấp.

Sử dụng thuốc cho người bị sốc hoặc hôn mê hoặc nhiễm độc rượu cấp kèm theo dấu hiệu nặng đe dọa tính mạng. Glocom góc đóng.

4.4 Thận trọng:

Chỉ nên sử dụng midazolam khi có sẵn các phương tiện hồi sinh phù hợp, vì việc sử dụng midazolam qua đường tĩnh mạch có thể làm suy giảm sự co thắt cơ tim và gây ngạt thở, Các tác dụng không mong muốn nghiêm trong trên tim phổi đã từng xảy ra trong các trường hợp hiếm gặp. Các trường hợp này bao gồm suy hô hấp, ngạt thở, ngưng thở và/hoặc ngưng tim. Các sự cố đe dọa đến tính mạng này có khả năng xảy ra khi tiêm thuốc quá nhanh hoặc tiêm với liều cao. Bệnh nhân nhi dưới 6 tháng tuổi đặc biệt dễ bị nguy cơ nghẽn đường đường thở và giảm thông khí, vì thế việc tối cần là chuẩn độ với những liều nhỏ tăng dần để đạt được tác dụng lâm sàng và cần thiết theo dõi nhịp hô hấp và kiểm soát sự bão hòa ôxy.

Khi sử dụng midazolam để làm tiền mê, theo dõi bệnh nhân chặt chẽ sau khi tiêm là bắt buộc vì sự nhạy cảm ở từng bệnh nhân có thay đổi khác nhau và các triệu chứng quá liều có thể xảy ra.

Thận trọng đặc biệt nên được thực hiện khi sử dụng midazolam cho các bệnh nhân có nguy cơ cao:

người lớn trên 60 tuổi

bệnh nhân bị bệnh mãn tính hoặc suy nhược.

các bệnh nhân suy hô hấp mãn

các bệnh nhân suy thận mãn, thiểu năng gan hoặc suy chức năng tim.

bệnh nhân nhi đặc biệt các trẻ có các bệnh về tim mạch không ổn định.

Các bệnh nhân nguy cơ cao này yêu cầu liều lượng thấp hơn (xem Liều lượng và cách dùng) và phải được liên tục theo dõi để phát hiện các dấu hiệu sớm về các thay đổi ở các chức năng sống còn.

Nên thận trọng khi sử dụng Benzodiazepin ở các bệnh nhân có tiền sử nghiện rượu và ma túy.

Cũng như đối với các thuốc làm dịu hệ thần kinh trung ương và/hoặc các thuốc giãn cơ, cần thận trọng đặc biệt khi sử dụng midazolam cho các bệnh nhân bị chứng nhược cơ năng.

Dung nạp :

Đã có các báo cáo mất một số tác dụng khi sử dụng midazolam để gây an thần kéo dài ở phòng chăm sóc đặc biệt (ICU).

Lệ thuộc thuốc

Khi midazolam được sử dụng để gây an thần kéo dài ở ICU, nên nhớ rằng sự lệ thuộc về thể chất với midazolam có thể phát triển, nguy cơ về lệ thuộc thuốc gia tăng cùng với liều dùng và thời gian điều trị.

Các triệu chứng cai nghiện

Trong thời gian điều trị kéo dài với midazolam tại ICU, sự lệ thuộc thuốc về thể chất có thể phát triển.

Do đó, ngưng điều trị đột ngột sẽ đi kèm theo các triệu chứng cai nghiện. Các triệu chứng theo sau có thể xảy ra: nhức đầu, đau cơ, lo âu, căng thẳng, thao thức, lầm lẫn, nóng giận, mất ngủ tái phát, thay đổi tính khí, ảo giác và co giật. Vì nguy cơ các triệu chứng cai nghiện lớn hơn sau khi ngưng điều trị đột ngột, khuyến cáo nên giảm liều dần.

Chứng hay quên

Midazolam gây nên chứng quên về sau (thông thường tác dụng này được mong xảy ra trong các trường hợp như trước và trong khi phẫu thuật và quá trình chẩn đoán), sự kéo dài này liên quan trực tiếp vào liều dùng. Chứng hay quên kéo dài có thể gây ra một số vấn đề ở bệnh nhân ngoại trú những người đã xuất viện sau khi can thiệp. Sau khi dùng midazolam qua đường tiêm truyền, bệnh nhân chỉ được xuất viện hay phòng khoa chỉ khi có người chăm sóc đi kèm.

Các phản ứng nghịch lý

Đã có báo cáo về các phản ứng nghịch lý như kích động, các cử động không chủ tâm (bao gồm co cứng/giật run và run cơ), hiếu động, thù địch, phản ứng thịnh nộ, hiếu chiến, kích động kịch phát và hành hung xảy ra với midazolam. Các phản ứng này có thể xảy ra ở liều cao và/hoặc khi thuốc được tiêm nhanh. Các tỷ lệ cao nhất về các phản ứng này được báo cáo xảy ra ở trẻ em và người lớn tuổi.

Việc chậm thải trừ midazolam

Việc thải trừ midazolam có thể được thay đổi ở bệnh nhân nhận được các hợp chất gây ức chế hoặc cảm ứng CYP3A4 (xem phần Tương tác với các thuốc và các dạng tương tác khác).

Việc thải trừ midazolam có thể bị chậm lại ở các bệnh nhân có chức năng gan không hoạt động tốt, hiệu suất tim thấp và ở trẻ sơ sinh (xem phần Dược động học ở các nhóm bệnh nhân đặc biệt).

Trẻ sinh non và sơ sinh

Vì có nguy cơ gia tăng ngạt thở, khuyến cáo vô cùng thận trọng khi gây an thần ở trẻ sinh non hoặc trước đó bị sinh non. Thận trọng theo dõi nhịp hô hấp và độ bão hòa ôxy. Tránh tiêm nhanh ở nhóm bệnh nhân nhi sơ sinh.

Chức năng các bộ phận ở trẻ sơ sinh bị hạn chế và/hoặc non yếu và chúng cũng dễ bị tác hại do các tác dụng sâu và/hoặc kéo dài trên hô hấp của midazolam.

Tác dụng bất lợi trên huyết động học đã được báo cáo ở các bệnh nhân nhi không ổn định về tim mạch; nên tránh tiêm truyền nhanh qua đường tĩnh mạch ở nhóm bệnh nhân này.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

An thần, chứng quên, sự kém tập trung và suy chức năng cơ có thể ảnh hướng bất lợi đến khả năng điều khiển phương tiện giao thông và vận hành máy. Trước khi dùng midazolam, bệnh nhân nên được khuyến cáo không điều khiển phương tiện giao thông và vận hành máy cho đến khi bình phục hoàn toàn. Bác sĩ sẽ quyết định khi nào nên bắt đầu lại các hoạt động này. Khuyến cáo khi xuất viện nên có người đi cùng bệnh nhân về nhà.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: C

US FDA pregnancy category: D

Thời kỳ mang thai:

Không có đầy đủ các số liệu về midazolam để đánh giá về độ an toàn của thuốc trong lúc mang thai. Các cuộc nghiên cứu trên động vật không cho thấy tác dụng gây quái thai, nhưng nhiễm độc bào thai đã được quan sát với các benzodiazepin khác. Không có số liệu về trường hợp người phụ nữ mang thai bị phơi nhiễm trong 2 giai đoạn đầu của thai kỳ.

Đã có những báo cáo về việc sử dụng midazolam ở liều cao trong kỳ cuối của thời kỳ mang thai, trong khi sinh hoặc khi được sử dụng như một tác nhân tiền mê để sinh mổ đã gây ra các tác dụng không mong muốn trên người mẹ hoặc trên bào thai (nguy cơ hít vào ở người mẹ, nhịp tim không đều ở bào thai, giảm trương lực, bú kém, giảm thân nhiệt và suy hô hấp ở trẻ sơ sinh).

Hơn nữa, trẻ sinh ra từ những bà mẹ dùng các benzodiazepin thường xuyên trong giai đoạn cuối cùng của thai kỳ có thể phát triển chứng lệ thuộc thuốc về thể chất và cũng có thể có cùng các nguy cơ về các triệu chứng cai nghiện ở thời kỳ hậu sinh.

Do đó không nên sử dụng midazolam trong lúc mang thai trừ khi thật sự cần thiết. Tốt hơn nên tránh sử dụng trong sinh mổ.

Phải xét đến nguy cơ đối với trẻ sơ sinh khi sử dụng midazolam cho bất kỳ cuộc giải phẫu nào gần kỳ hạn sinh nở.

Thời kỳ cho con bú:

Midazolam đi qua sữa mẹ với lượng nhỏ. Các bà mẹ cho con bú được khuyến cáo cho con ngưng bú sữa mẹ 24 giờ sau khi sử dụng midazolam.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Các tác dụng không mong muốn sau đây được báo cáo (rất hiếm) đã xảy ra khi tiêm midazolam:

Rối loạn về da và phần phụ: phát ban, phản ứng mày đay, ngứa.

Hệ thần kinh trung ương và ngoại vi về các rối loạn tâm thần: tình trạng ngủ lơ mơ và an thần kéo dài, giảm cảnh giác, lầm lẫn, khoan khoái, ảo giác, mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, mất điều hòa, an thần hậu phẫu, chứng quên về sau, sự kéo dài các chứng này trực tiếp liên quan đến liều đã sử dụng. Chứng quên về sau có thể vẫn tồn tại vào cuối quy trình và đã có báo cáo về các trường hợp riêng lẻ chứng quên kéo dài.

Đã có báo cáo về các phản ứng nghịch lý như kích động, các cử động không chủ tâm (bao gồm co giật co cứng/giật run và run cơ), hiếu động, thù địch, phản ứng thịnh nộ, hiếu chiến, kích động kịch phát và hành hung đặc biệt xảy ra ở trẻ em và người lớn tuổi.

Đã có báo cáo về chứng co giật thường xây ra ở các trẻ sinh thiếu tháng và trẻ sơ sinh.

Việc sử dụng midazolam ngay cả ở các liều điều trị có thể dẫn đến sự phát triển về lệ thuộc thuốc về thể chất sau khi truyền qua đường tĩnh mạc kéo dài, việc ngừng thuốc đột ngột có thể đi kèm với các triệu chứng cai nghiện bao gồm cả các chứng co giật do cai nghiện.

Các rối loạn về đường tiêu hóa: buồn nôn, nôn mửa, nấc cục, táo bón, khô miệng.

Các rối loạn tim phổi: có các trường hợp bất lợi nghiêm trọng về tim phổi: suy hô hấp, ngạt thở, ngưng thở và/hoặc ngưng tim, giảm huyết áp, thay đổi nhịp tim, các tác dụng giãn nở mạch, khó thở, co thắt thanh quản.

Các sự cố đe dọa tính mạng có khả năng xảy ra ở người lớn trên 60 tuổi và những người bị suy giảm hô hấp trước đây hay giảm chức năng tim, đặc biệt khi tiêm quá nhanh hoặc sử dụng liều cao (xem phần Thận trọng).

Các rối loạn toàn thân: các phản ứng nhạy cảm toàn thân: phản ứng ngoài da, phản ứng tim mạch, co thắt phế quản, sốc phản vệ.

Rối loạn tại chỗ tiêm truyền: ban đỏ và đau ở chỗ tiêm, viêm tĩnh mạch huyết khối, huyết khối.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Giảm liều thuốc hoặc ngừng thuốc. Nếu cần, dùng flumazenil

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Sự chuyển hóa của Midazolam hầu như do isoenzym CYP3A4 thuốc cytochrome P450 (CYP450).

Các chất ức chế CYP3A4 (xem phần Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng) và các thuốc gây cảm ứng, cũng như các thuốc khác (xem bên dưới), có thể dẫn đến sự tương tác thuốc.

Chuyển hóa Midazolam xảy ra chuyển hóa bước một, nên khi sử dụng Midazolam bằng đường tiêm về lý thuyết sẽ ít bị ảnh hưởng bởi các tương tác chuyển hóa và các tác dụng phụ liên quan đến lâm sàng sẽ được hạn chế.

Itraconazole, fluconazole và ketoconazole:

Việc sử dụng đồng thời Midazolam qua đường uống và một số thuốc kháng nấm nhóm azole (itraconazole, fluconazole, ketoconazole) làm tăng nồng độ Midazolam trong huyết tương và thời gian bán thài kéo dài, dẫn đến làm sai lệch các xét nghiệm tâm thần. Thời gian bán hủy thải tăng khoảng từ 3 đến 8 giờ.

Verapamil và diltiazem:

Không có đầy đủ dữ liệu nghiên cứu tương tác trên in vivo giữa Midazolam sử dụng qua đường tĩnh mạch và verapamil hoặc diltiazem.

Mặc dù không có tương tác có ý nghĩa về mặt lâm sàng nào được ghi nhận khi sử dụng Midazolam gây an thần nhanh, nên thận trọng nếu như Midazolam sử dụng qua đường tĩnh mạch được kết hợp với verapamil hoặc diltiazem.

Kháng sinh nhóm macrolid: Erythromycin và Clarithromycin

Khi sử dụng liều đơn lớn tiêm nhanh để gây an thần, erythromycin không làm tăng hoặc kéo dài tác dụng của Midazolam có ý nghĩa trên lâm sàng, mặc dù độ thanh lọc bị giảm đáng, kể đã được ghi nhận. Nên thận trọng nêu như sử dụng Midazolam qua đường tĩnh mạch kết hợp với erythromycin hoặc clarithromycin. Không có sự tương tác đáng kể về mặt lâm sàng khi kết hợp Midazolam với các kháng sinh thuộc nhóm macrolid khác.

Cimetidine và ranitidine:

Khi kết hợp cimetidine (ở liều > 800 mg/ngày) và Midazolam qua đường tĩnh mạch làm tăng nhẹ nồng độ ổn định của Midazolam trong huyết tương có thể dẫn đến sự phục hồi chậm, trong khi việc phối hợp với ranitidin không bị ảnh hưởng. Các số liệu này cho thấy có thể sử dụng Midazolam qua đường tĩnh mạch kết hợp với cimetidine ở liều thông thường (như 400 mg/ngày) và với ranitidine mà không phải điều chỉnh liều lượng.

Saquinavir

Khi kết hợp đồng thời một liều đơn Midazolam 0,05 mg/kg qua đường tĩnh mạch sau 3 hay 5 ngày sử dụng saquinavir (liều 1200 mg/3 lần/ngày) cho 12 người tình nguyện khỏe mạnh đã làm giảm độ thanh lọc Midazolam vào khoảng 56 %⁄ và gia tăng thời gian bán thải lên từ 4,1 giờ đến 9,5 giờ.

Do đó, liều đơn lớn Midazolam tiêm nhanh qua đường tĩnh mạch có thể kết hợp với saquinavir.

Tuy nhiên, trong khi truyền Midazolam thời gian dài, khuyến cáo nên giảm tổng liều để tránh chậm sự hồi phục (xem phần Cảnh báo đặc biệt và thận trọng trong sử dụng).

Các thuốc ức chế protease:ritonavir, indinavir, nelfinavir và amprenavir

Không có các nghiên cứu in vivo về tương tác giữa Midazolam qua đường tĩnh mạch và các thuốc ức chế protease khác. Saquinavir có khả năng ức chế CYP3A4 yếu nhất trong tất cả các thuốc ức chế protease, do đó khi kết hợp đồng thời với các thuốc ức chế protease khác ngoài saquinavir phải giảm liều Midazolam khi sử dụng truyền dịch trong thời gian dài.

Các thuốc ức chế thần kinh trung ương:

Các thuốc an thần có khả năng tăng cường các tác dụng của Midazolam.

Các nhóm thuốc ức chế thần kinh trung ương bao gồm nhóm opiate (khi được sử dụng như là thuốc giảm đau, trị ho hoặc dùng để điều trị thay thế), chống loạn thần, các thuốc nhóm benzodiazepine được sử dụng giải lo âu, gây ngủ, chống trầm cảm, kháng histamin và thuốc hạ huyết áp tác động lên hệ thần kinh trung ương.

Phải chú đến tác dụng hiệp lực khi Midazolam sử dụng kết hợp với các thuốc an thần khác.

Hơn nữa, phải theo dõi tình trạng suy hô hấp khi kết hợp với các thuốc thuộc nhóm opiate, phenobarbital hoặc benzodiazepine.

Còn có thể làm tăng tác dụng an thần của Midazolam. Nên tránh tuyệt đối dùng thức uống có cần trong trường hợp sử dụng Midazolam.

Các tương tác khác: khi sử dụng Midazolam qua đường tĩnh mạch làm giảm nồng độ tối thiểu ở phế nang của các thuốc gây mê qua đường khí dung khi dùng gây mê toàn thân.

4.9 Quá liều và xử trí:

Các triệu chứng

Các triệu chứng quá liều chủ yếu là gia tăng cường độ của các tác dụng dược lý; ngủ lơ mơ, rối loạn tâm thần, ngủ lịm và giãn cơ hoặc kích động nghịch lý. Các triệu chứng nghiêm trọng hơn gồm mất phản xạ, giảm huyết áp, suy tim hô hấp, ngạt thở và hôn mê.

Điều trị

Trong phần lớn các trường hợp chỉ cần theo dõi các chức năng sống còn. Trong việc điều trị quá liều, cần quan tâm đặc biệt đến các chức năng hô hấp và tim mạch ở phòng chăm sóc đặc biệt. Chất đối kháng benzodiazepin flumazenil được chỉ định trong trường hợp ngộ độc nặng kèm theo hôn mê và suy hô hấp. Cần theo dõi cần thận khi sử dựng flumazenil trong trường hợp quá liều do kết hợp thuốc và ở các bệnh nhân động kinh đã được điều trị bằng benzodiazepin. Không nên sử dụng flumazenil cho các bệnh nhân đã điều trị bằng các thuốc kháng trầm cảm vòng ba, các thuốc gây động kinh, hoặc bệnh nhân có những khác thường trong điện tâm để ECG (QRS hoặc QT kéo dài).

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Midazolam là một dẫn xuất thuộc nhóm imidazobenzodiazepin. Dạng base tự do là một chất thân dầu ít hòa tan trong nước.

Nitrogen cơ bản ở vị trí 2 của hệ vòng imidazobenzodiazepine giúp cho hoạt chất midazolam cùng với acid tạo nên các muối hòa tan trong nước. Điều này tạo ra dung dịch thuốc tiêm có tính ổn định và được dung nạp tốt.

Tác động dược lý của midazolam đặc trưng bởi thời gian tác động ngắn do sự biến đổi chuyển hóa nhanh. Midazolam có tác dụng an thần và gây ngủ mạnh. Nó cũng có tác dụng trấn an, kháng co giật và giãn cơ. Sau khi sử dụng qua đường tiêm bắp hoặc qua đường tĩnh mạch, chứng quên về sau trong thời gian ngắn xảy ra (bệnh nhân không nhớ các sự kiện xảy ra trong lúc thuốc có tác dụng mạnh nhất)

Cơ chế tác dụng:

Midazolam là một benzodiazepin tác dụng ngắn, hòa tan trong nước ở pH < 4. Midazolam là một imidazobenzodiazepin, khi ở dạng kiềm thuốc có tính ưa mỡ và kém hòa tan trong nước. Nitơ kiềm ở vị trí 2 của vòng imidazobenzodiazepin có khả năng làm midazolam dễ tạo muối với acid hydrocloric, maleic hoặc lactic. Các muối này tạo ra một dung dịch tiêm ổn định và dung nạp tốt. Với cùng một lượng, trên lâm sàng midazolam có tác dụng mạnh hơn diazepam từ 3 – 4 lần, nhưng tác dụng ngắn hơn diazepam do thuốc chuyển hóa nhanh (1,5 – 3,5 giờ). Tác dụng của midazolam thông qua cơ chế gắn vào các thụ thể GABA (gamma-aminobutyric acid) và thụ thể benzodiazepin trong hệ thần kinh trung ương, làm tăng cường tác dụng của GABA, một chất dẫn truyền thần kinh ức chế chính của não. Midazolam được dùng như một thuốc gây ngủ ngắn, dùng trong tiền mê và để giảm đau trong một số trường hợp can thiệp gây khó chịu nhưng cần người bệnh thức tỉnh và tiếp xúc được (nội soi ruột non, soi phế quản…). Do thuốc ít độc nên có nhiều ứng dụng điều trị. Thuốc còn được dùng để điều trị mất ngủ nặng. Midazolam hydroclorid được dùng theo đường tiêm hoặc đặt vào trực tràng còn midazolam maleat dùng để uống. Tác dụng của thuốc khi tiêm tĩnh mạch phụ thuộc vào liều dùng, từ an thần nhẹ đến mê hoàn toàn. Nếu dùng thuốc thường xuyên có thể dẫn đến phụ thuộc vào thuốc và xuất hiện hội chứng cai thuốc.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu sau khi tiêm bắp

Sự hấp thu midazolam từ mô cơ thì nhanh chóng và hoàn toàn. Nồng độ tối đa trong huyết tương đạt được trong vòng 30 phút. Sinh khả dụng tuyệt đối sau khi tiêm bắp là trên 90%.

Hấp thu sau khi sử dụng qua đường trực tràng

Sau khi sử dụng qua đường trực tràng, midazolam được hấp thu nhanh. Nồng độ tối đa trong huyết tương đạt được trong vòng 30 phút. Sinh khả dụng tuyệt đối là 50%.

Phân bố

Khi midazolam được tiêm qua đường tĩnh mạch, đường cong về thời gian – nồng độ trong huyết tương cho thấy một hoặc hai pha phân bố rõ ràng. Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định từ 0,7-1,2 l/kg. 96-98 % midazolam kết gắn với các protein trong huyết tương. Sự gắn kết chủ yếu của phân đoạn protein huyết tương là do albumin. Có một lượng midazolam nhỏ và không có ý nghĩa chuyển chậm qua dịch não tủy. Ở người, midazolam đã được chứng minh đi qua nhau thai chậm và đi vào sự tuần hoàn của thai. Một lượng nhỏ Midazolam cũng được tìm thấy trong sữa mẹ.

Chuyển hóa

Midazolam gần như hoàn toàn bị đào thải do biến đổi sinh học. Phân đoạn của liều chiết xuất từ gan được ước tính từ 30 – 60 %.

Đào thải

Ở người tình nguyện khoẻ mạnh, thời gian bán thải của midazolam ở giữa khoảng 1,5 – 2,5 giờ. Sự thanh thải ở huyết tương vào khoảng 300-500 ml/phút. Midazolam chủ yếu đào thải qua thận (60-80% liều thuốc tiêm) và được tìm thấy dưới dạng alpha-hydroxymidazolam glucuronat liên hợp. Dưới 1% của liều được tìm thấy trong nước tiểu dưới dạng không thay đổi. Khi truyền midazolam qua đường tĩnh mạch, động lực học đào thải không có gì khác so với khi tiêm bolus.

Dược động học ở các nhóm bệnh nhân đặc biệt

Người lớn tuổi

Người lớn trên 60 tuổi, thời gian bán thải có thể kéo dài đến 4 lần.

Trẻ em

Mức độ hấp thu qua đường trực tràng ở trẻ em cũng tương tự như ở người lớn nhưng sinh khả dụng lại thấp hơn (5-18%). Thời gian bán thải sau khi sử dụng qua đường tĩnh mạch và đường trực tràng thì ngắn hơn ở trẻ 3-10 tuổi (1-1,5) khi so với người lớn. Sự khác biệt này phù hợp với sự tăng chuyển hóa thanh thải ở trẻ em.

Trẻ sơ sinh

Ở trẻ sơ sinh, thời gian bán thải trung bình đạt từ 6-12 giờ, nhiều khả năng là do gan chưa phát triển hoàn thiện và sự thanh thải bị giảm xuống (xem phần Cảnh báo đặc biệt và thận trọng trong sử dụng).

Béo phì

Thời gian bán hủy trung bình ở người béo phì lớn hơn so với người không béo phì (5,9 so với 2,3 giờ). Điều này do sự gia tăng khoảng 50 % thể tích phân bố được hiệu chỉnh cho tổng trọng lượng của cơ thể.

Sự thanh thải không có khác biệt đáng kể nào giữa bệnh nhân béo phì và không béo phì.

Bệnh nhân suy gan

Thời gian bán thải ở bệnh nhân xơ gan có thể kéo dài hơn và sự thanh thải thấp hơn so với những người tình nguyện khỏe mạnh (xem phần Cảnh báo đặc biệt và thận trọng trong sử dụng).

Bệnh nhân suy thận

Thời gian bán hủy đào thải ở bệnh nhân suy thận mãn tính là tương tự như những người tình nguyện khỏe mạnh.

Bệnh nhân bệnh nặng

Thời gian bán hủy đào thải của midazolam bị kéo dài lên đến 6 lần ở bệnh nhân bệnh nặng.

Bệnh nhân suy tim

Ở bệnh nhân suy tim sung huyết thời gian bán thải dài hơn so với những người khỏe mạnh (xem phần Cảnh báo đặc biệt và thận trọng trong sử dụng).

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Nước cất pha tiêm

Natri clorid

Acid hydroclorid

6.2. Tương kỵ :

Midazolam không được pha loãng với các dung dịch tiêm truyền khác ngoài những gì được nói đến trong phần Hướng dẫn sử dụng/bảo quản.

Cần kiểm tra sự tương thích trước khi sử dụng nếu như có ý định pha trộn với các thuốc khác.

Midazolam kết tủa trong các dung dịch chứa bicarbonat. Về mặt lý thuyết, dung dịch tiêm midazolam có nhiều khả năng không ổn định trong các dung dịch có độ pH trung tính hoặc kiềm. Nếu midazolam được pha trộn với albumin, amoxicillin natri, ampicillin natri, bumetamid, dexamethason natri phosphat, dimenhydrinat, floxacillin natri, furosemid, hydrocortison natri succinat, natri pentobarbital, perphenazin, prochlorperazine edisylate, ranitidin hoặc natri thiopental hoặc trimethợprimsulfamethoxazol, sẽ tạo ra kết tủa màu trắng.

Sương mù được tạo thành ngay tiếp theo sau sự tạo kết tủa màu trắng khi pha với nafcillin natri. Với ceftazidim sương mù được tạo thành.

Khi pha với methotrexat natri, xuất hiện kết tủa màu vàng. Khi pha với clonidin hydroclorid dung dịch đổi sang màu cam. Khi pha với omeprazol natri dung dịch đổi qua màu nâu, rồi kết tủa màu nâu. Với natri forscarnet, phát sinh khí.

Hơn nữa không nên pha midazolam với aciclovir, albumin, alteplase, dinatri acetazolam, diazepam, enoximon, flecainid acetat, fluorouracil, imipenem, natri mezlocillin, natri phenobarbital, natri phenytoin, kali canrenoate, natri sulbactam, theophyllin, trometamol, urokinase.

6.3. Bảo quản:

Điều kiện bảo quản đặc biệt

Bảo quản ở nhiệt độ dưới 30°C. Không đông lạnh.

Bảo quản thuốc trong hộp carton để tránh ánh sáng.

Hạn dùng sau khi pha loãng

Độ ổn định của các dung dịch pha loãng về mặt lý-hóa đã được chứng minh (xem phần Hướng dẫn cách sử dụng/bảo quản) trong vòng 72 giờ ở 25°C. Sản phẩm pha loãng nên sử dụng ngay.

Nếu không sử dụng ngay, thời gian và điều kiện bảo quản trước khi dùng thuộc trách nhiệm của người sử dụng và thông thường không kéo dài hơn 24 giờ ở 2 đến 8°C, trừ khi sự pha loãng được tiến hành trong các điều kiện có kiểm soát và chứng minh vô trùng.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM