Meropenem – Pizulen

Thuốc Pizulen là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Pizulen (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Meropenem

Phân loại: Thuốc kháng sinh nhóm beta-lactam , phân nhóm carbapenem.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J01DH02.

Biệt dược gốc: Meronem.

Biệt dược: Pizulen

Hãng sản xuất : Demo S.A. pharmaceutical industry

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Lọ bột pha tiêm chứa meropenem trihydrat tương đương với 500 mg, 1g meropenem khan.

Thuốc tham khảo:

PIZULEN 1G
Mỗi Lọ bột pha tiêm có chứa:
Meropenem …………………………. 1000 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

PIZULEN 500mg
Mỗi Lọ bột pha tiêm có chứa:
Meropenem …………………………. 500 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

PIZULEN được chỉ định điều trị ở người lớn và trẻ em các nhiễm khuẩn sau gây ra bởi một hoặc nhiều loại vi khuẩn nhạy cảm với Meropenem:

Viêm phổi bệnh viện, viêm phổi do suy giảm miễn dịch, viêm phổi không đáp ứng với việc điều trị bằng các kháng sinh khác gây ra do vi khuẩn nhạy cảm với meropenem theo kháng sinh đồ

Nhiễm khuẩn đường niệu (có biến chứng hoặc không biến chứng)

Nhiễm khuẩn ổ bụng

Nhiễm khuẩn phụ khoa, như viêm màng trong dạ con, bệnh lý viêm vùng chậu.

Nhiễm khuẩn da và mô mềm

Viêm màng não

Nhiễm khuẩn huyết.

Điều trị theo kinh nghiệm đối với trường hợp nghi ngờ nhiễm khuẩn ở người lớn bị sốt do giảm bạch cầu.

Meropenem tiêm tĩnh mạch được sử dụng hiệu quả ở bệnh nhân xơ nang và nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới mạn tính, khi sử dụng đơn độc hoặc kết hợp với các thuốc kháng khuẩn khác. Vi khuẩn không phải luôn luôn được tiệt trừ hoàn toàn. Thuốc cũng được chỉ định ở trẻ em hơn 3 tháng tuổi, để điều trị các nhiễm khuẩn như trên ngoại trừ nhiễm khuẩn phụ khoa, nhiễm khuẩn da và mô mềm và nhiễm khuẩn đường niệu không có biến chứng. PIZULEN đã được chứng minh có hiệu quả khi dùng đơn độc hoặc phối hợp với các thuốc kháng khuẩn khác trong điều trị nhiễm khuẩn hỗn hợp.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Hướng dẫn cách pha dung dịch, tương thích và ổn định: nên hòa tan Meropenem trong nước pha tiêm (5 ml cho mỗi 250 mg Meropenem) tạo dung dịch có nồng độ khoảng 50 mg/ml để tiêm bolus tĩnh mạch. Dung dịch sau khi pha trong suốt, không màu hoặc có màu vàng nhạt. Dung dịch Meropenem để truyền tĩnh mạch có thể được pha với 50 — 200 ml Natri chloride 0,9% w/v hoặc bất kỳ dịch truyền tương thích nào (xem mục Thận trọng đặc biệt trong bảo quản). Khuyến cáo nên dùng ngay dung dịch mới pha, tuy nhiên có thể bảo quản dung dịch PIZULEN đã pha tại nhiệt độ phòng (< 25°C) hoặc bảo quản trong tủ lạnh (<4°C) (xem mục Thận trọng đặc biệt trong bảo quản). PIZULEN không nên trộn hoặc thêm vào các thuốc khác. Dung dịch PIZULEN không được đông lạnh.

Liều dùng:

Người lớn:

Liều lượng và thời gian điều trị tùy thuộc vào mức độ và loại nhiễm khuẩn cũng như tình trạng bệnh nhân. Liều khuyến cáo hằng ngày như sau:

500mg meropenem dùng đường tĩnh mạch (IV) mỗi 8 giờ trong điều trị viêm phổi, nhiễm khuẩn đường niệu, các nhiễm khuẩn phụ khoa như viêm nội mạc tử cung , nhiễm khuẩn da và cấu trúc da.

1 g meropenem dùng đường tĩnh mạch (IV) mỗi 8 giờ trong điều trị viêm phổi bệnh viện, viêm phúc mạc , các nghi ngờ nhiễm khuẩn ở bệnh nhân giảm bạch cầu , nhiễm khuẩn huyết.

Ở bệnh nhân xơ nang bị viêm màng não và nhiễm khuẩn phổi, liều 2 g mỗi 8 giờ được khuyến cáo.

Tương tự như các kháng sinh khác, cần lưu ý đặc biệt khi sử dụng Meropenem đơn độc ở những bệnh nhân mắc bệnh trầm trọng đã biết hoặc nghi ngờ nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới bởi Pseudomonas Aeruginosa.

Khuyến cáo nên thử nghiệm độ nhạy cảm của thuốc thường xuyên khi điều trị nhiễm khuẩn Pseudomonas Aeruginosa.

Nên tiêm tĩnh mạch một lượng lớn PIZULEN (bolus) trong hơn 5 phút hoặc truyền tĩnh mạch khoảng hơn 15 – 30 phút (Xem mục Hướng dẫn sử dụng).

Người lớn suy chức năng thận: Nên giảm liều ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinine nhỏ hơn 51 ml/phút, theo hướng dẫn sau:

Độ thanh thải creatinine (mL/phút) Liều dùng (tính theo đơn vị liều 500 mg, 1 g, 2 g) Tần suất sử dụng thuốc
26 – 50 Một đơn vị liều Mỗi 12 giờ
10-25 Một đơn vị liều Mỗi 12 giờ
< 10 Nửa đơn vị liều Mỗi 24 giờ

Meropenem được thải trừ khi thẩm tách máu. Nếu cần thiết phải tiếp tục điều trị với PIZULEN, sau khi kết thúc quá trình thẩm tách máu, khuyên cáo sử dụng 1 đơn vị liều (tùy theo phân loại và mức độ nhiễm khuẩn) để duy trì nồng độ điều trị hiệu quả trong huyết tương. Chưa có kinh nghiệm sử dụng Meropenem ở bệnh nhân đang thẩm tách màng bụng.

Người lớn suy gan: không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi dùng)

Người cao tuổi: Không cần điều chỉnh liều cho người già có chức năng thận bình thường hoặc độ thanh thải creatinine cao hơn 50 ml/phút.

Trẻ em:

Đối với trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 12 tuổi, liều khuyến cáo là 10 — 40 mg/kg mỗi 8 giờ tùy phân loại và mức độ nghiêm trọng của nhiễm khuẩn, mức độ nhạy cảm với thuốc của vi khuẩn và tình trạng của bệnh nhân. Trẻ em có trọng lượng hơn 50 kg, nên dùng liều của người lớn. Ở bệnh nhân bị sốt do giảm bạch cầu hạt, liều khuyến cáo là 40 mg/kg mỗi 8 giờ. Nên tiêm tĩnh mạch một lượng lớn (bolus) PIZULEN trong khoảng hơn 5 phút hoặc truyền tĩnh mạch hơn 15-30 phút. Chưa có kinh nghiện sử dụng thuốc ở trẻ em suy thận.

4.3. Chống chỉ định:

PIZULEN chống chỉ định ở bệnh nhân quá mẫn với meropenem hoặc carbapenem, penicillins hoặc các kháng sinh beta-lactam khác.

4.4 Thận trọng:

Bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với carbapenem, penicillins hoặc các kháng sinh beta-lactam khác có thể cũng có phản ứng quá mẫn với meropenem. Tương tự như các kháng sinh beta-lactam khác, phản ứng quá mẫn hiếm khi xảy ra (Xem mục Tác dụng không mong muốn). Cũng như các kháng sinh khác, tăng quá mức các vi khuẩn không nhạy cảm có thê xảy ra và do đó cần phải theo dõi bệnh nhân liên tục.

Không khuyến cáo sử dụng thuốc ở bệnh nhân nhiễm vi khuân Staphylococci đề kháng với methicilline.

Hiếm thấy viêm ruột kết màng giả được báo cáo ở bệnh nhân dùng Meropenem như khi dùng các kháng sinh khác. Điều quan trọng là cần xem xét chẩn đoán viêm ruột kết màng giả trong trường hợp bệnh nhân bị tiêu chảy do sử dụng PIZULEN.

Nên thận trọng cân nhắc khi sử dụng PIZULEN cùng với thuốc có khả năng gây độc thận.

Về liều lượng xem mục “Liều lượng và cách dùng”

Trẻ em: Hiệu quả và sự dung nạp ở trẻ em dưới 3 tháng tuổi chưa được thiết lập. Do đó, PIZULEN không được khuyến cáo sử dụng cho trẻ dưới 3 tháng tuổi.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Không có dữ liệu thích hợp, nhưng người ta không cho rằng PIZULEN sẽ ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B2

US FDA pregnancy category: B

Thời kỳ mang thai:

Sự an toàn của PIZULEN đối với phụ nữ mang thai chưa được đánh giá. Nghiên cứu ở động vật không cho thấy tác dụng phụ trên sự phát triển của bảo thai. Không nên dùng PIZULEN cho phụ nữ có thai trừ khi khả năng lợi ích đạt được vượt trội rủi ro có thé xay ra cho bào thai. Trong mọi trường hợp, nên dùng thuốc dưới sự giám sát trực tiếp của bác sĩ.

Thời kỳ cho con bú:

Meropenem được tìm thấy trong sữa động vật ở nồng độ rất thấp. Không nên sử dụng PIZULEN cho phụ nữ cho con bú trừ phi lời ích vượt trội các rủi ro có thể xảy ra cho trẻ.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

PIZULEN nói chung được dung nạp tốt và hiếm khi gây các tác dụng phụ đến mức phải ngưng điều trị

Các tác dụng phụ nghiêm trọng hiếm khi xảy ra. Hầu hết các tác dụng phụ được báo cáo là dưới 1% tổng số bệnh nhân:

Phản ứng tại vị trí tiêm: viêm, viêm tĩnh mạch huyết khối, dau tại vị trí tiêm.

Phản ứng dị ứng toàn thân: hiếm khi, phản ứng dị ứng toàn thân (quá mẫn) có thể xảy ra sau khi dùng PIZULEN. Những phản ứng này bao gồm phù mạch và có biểu hiện sốc phản vệ.

Phản ứng trên da: phát ban, ngứa, mày đay. Hiếm khi xảy ra phản ứng trên da nặng như hồng ban đa dạng, hội chứng Steven Johnson và nhiễm ngộ độc da gây hoại tử.

Đường tiêu hóa: đau bụng, nôn, buồn nôn, tiêu chảy.

Máu: tăng tạo tiểu cầu, tăng bạch cầu ưa acid, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, và giảm bạch cầu đa nhân trung tính (kể cả một số trường hợp hiếm gặp về mất bạch cầu hạt).

Chức năng gan: tăng nồng độ bilirubin, transaminase, phosphate kềm và lacticdehydrogenase trong huyết thanh đơn thuần hoặc phối hợp.

Hệ thần kinh trung ương: đau đầu, di cảm. Co giật hiếm khi xảy ra nhưng chưa thiết lập được mối quan hệ nhân quả gây ra co giật.

Nhiễm candida âm đạo và miệng.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Nếu xảy ra các ADR nghiêm trọng, cần ngừng dùng meropenem và áp dụng các biện pháp điều trị thích hợp.

Khi bệnh nhân bị co giật hoặc gặp các phản ứng bất lợi trên thần kinh trung ương, cần giảm liều hoặc ngừng dùng meropenem.

Nếu bệnh nhân bị tiêu chảy trong hoặc sau khi điều trị bằng meropenem, cần theo dõi và có chấn đoán, điều trị phù hợp.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Probenecid cạnh tranh với meropenem trong bài tiết chủ động qua ống thận, do đó ức chế sự bài tiết meropenem qua thận, gây tăng thời gian bán thải và nồng độ meropenem trong huyết tương. Khi không dùng chung với probenecid, meropenem đã có hoạt tính thích hợp và thời gian tác động đủ dài nên không khuyến cáo sử dụng đồng thời meropenem với probenecid.

Chưa có nghiên cứu về khả năng ảnh hưởng của meropenem đến các thuốc kết hợp với protein hoặc sự chuyển hóa. Protein kết hợp với meropenem thấp và do đó không có tương tác với các thuốc khác dựa trên sự thay thế vị trí kết hợp với protein huyết tương. Meropenem đã được dùng đồng thời với các thuốc khác mà không gây tương tác bất lợi về dược lý học. Meropenem có thể làm giảm nồng độ acid valproic trong huyết thanh và do đó nồng độ có thể thấp hơn nồng độ điều trị ở một số bệnh nhân. Tuy nhiên, không có dữ liệu cụ thê về khả năng tương tác với các thuốc khác trừ probenecid.

4.9 Quá liều và xử trí:

Quá liều Pizulen do ngẫu nhiên có thể xảy ra trong khi điều trị, đặc biệt ở bệnh nhân suy thận. Có thể điều trị quá liều bằng cách điều trị triệu chứng. Ở người bình thường, thuốc Pizulen có thể thải trừ nhanh chóng qua thận. Ở bệnh nhân suy thận, thẩm tách máu có thể thải trừ meropenem và các chất chuyển hóa.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Meropenem là 1 kháng sinh acarbapenem dùng để tiêm, ổn định với dehydropeptidase-I (DHP-1) ở người. Meropenem có hoạt tính kháng khuẩn băng cách can thiệp vào sự tổng hợp thành tế bào vi khuẩn sống. Khả năng xâm nhập dễ dàng vào thành tế bào vi khuẩn, độ bền cao với tất cả serine betalactamase và có ái lực rõ rệt với protein gắn kết penicillin (PBPs) giải thích hoạt tính diệt khuẩn phổ rộng của meropenem đối với vi khuẩn hiếu khí và kị khí. Tỷ số giữa nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC) và nồng độ ức chế vi khuẩn tối thiểu (MIC) là nhỏ hơn hoặc bằng 2. Meropenem ổn định trong các thử nghiệm về độ nhạy cảm và có thể tiến hành các thử nghiệm này bằng các phương pháp thường quy. Các thử nghiệm in vitro cho thấy meropenem có tác đông hiệp lực với nhiều thuốc kháng sing khác. Meropenem đã được chứng minh có tác động hậu kháng sinh cả in vitro và in vivo.

Các tiêu chí về độ nhạy cảm với Meropenem được khuyến cáo dựa trên dược động học và tương quan giữa kết quả lâm sàng và vi sinh với đường kính kháng khuẩn và nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) trên vi khuẩn gây bệnh.

Phân loại Phương pháp đánh giá
đường kính vòng kháng khuẩn (mm) MIC (mg/l)
Nhạy cảm ≥14 ≤4
Trung gian 12-13 8
Đề kháng ≤11 ≥16

Phổ kháng khuẩn in vitro của meropenem bao gồm phần lớn các chủng vi khuẩn Gram âm và Gram dương, hiếu khí và kị khí quan trọng trên lâm sàng dưới đây:

Vi khuẩn hiếu khí gram dương: Bacillus spp., Corynebacterium diphtheriae, Enterococcus faecalis, Enterococcus liquifaciens, Enterococcus avium, Listeria monocytogenes, Lactobacillus spp., Nocardia asteroides, Staphylococcus aureus (penicilinase âm tính và dương tính), Staphylococci-coagulase-negative; bao gồm, Staphylococcus epidermidis, Staphylococcus saprophyticus, Staphylococcus capitis, Staphylococcus cohnii, Staphylococcus xylosus, Staphylococcus warneri, Staphylococcus hominis, Staphylococcus simulans, Staphylococcus intermedius, Staphylococcus sciuri, Staphylococcus lugdunensis, Streptococcus pneumoniae (nhạy cảm hoặc đề kháng với penicilin), Streptococcus agalactiae, Streptococcus pyogenes, Streptococcus equi, Streptococcus bovis, Streptococcus mitis, Streptococcus mitior, Streptococcus milleri, Streptococcus sanguis, Streptococcus viridans, Streptococcus salivarius, Streptococcus morbillorum, Streptococcus nhóm G, Streptococcus nhóm F, Rhodococcus equi.

Vi khuẩn hiếu khí gram âm: Achromobacter xylosoxidans, Acinetobacter anitratus, Acinetobacter lwoffii, Acinetobacter baumannii, Aeromonas hydrophila, Aeromonas sorbria, Aeromonas caviae, Alcaligenes faecalis, Bordetella bronchiseptica, Brucella melitensis, Campylobacter coli, Campylobacter jejuni, Citrobacter freundii, Citrobacter diversus, Citrobacter koseri, Citrobacter amalonaticus, Enterobacter aerogenes, Enterobacter (Pantoea) agglomerans, Enterobacter cloacae, Enterobacter sakazakii, Escherichia coli, Escherichia hermannii, Gardnerella vaginalis, Haemophilus influenzae (kể cả các dòng tiết men β-lactamase đề kháng với ampicilin), Haemophilus parainfluenzae, Haemophilus ducreyi, Helicobacter pylori, Neisseria meningitidis, Neisseria gonorrhoeae (kể cả các dòng tiết β-lactamase, đề kháng với penicilin và spectinomycin), Hafnia alvei, Klebsiella pneumoniae, Klebsiella aerogenes, Klebsiella ozaenae, Klebsiella oxytoca, Moraxella (Branhamella) catarrhalis, Morganella morganii, Proteus mirabilis, Proteus vulgaris, Proteus penneri, Providencia rettgeri, Providencia stuartii, Providencia alcalifaciens, Pasteurella multocida, Plesiomonas shigelloides, Pseudomonas aeruginosa, Pseudomonas putida, Pseudomonas alcaligenes, Burkholderia (Pseudomonas) cepacia, Pseudomonas fluorescens, Pseudomonas stutzeri, Pseudomonas pseudomallei, Pseudomonas acidovorans, Salmonella spp. including Salmonella enteritidis/typhi, Serratia marcescens, Serratia liquefaciens, Serratia rubidaea, Shigella sonnei, Shigella flexneri, Shigella boydii, Shigella dysenteriae, Vibrio cholerae, Vibrio parahaemolyticus, Vibrio vulnificus, Yersinia enterocolitica.

Vi khuẩn kỵ khí: Actinomyces odontolyticus, Actinomyces meyeri, Bacteroides-Prevotella-Porphyromonas spp., Bacteroides fragilis, Bacteroides vulgatus, Bacteroides variabilis, Bacteroides pneumosintes, Bacteroides coagulans, Bacteroides uniformis, Bacteroides distasonis, Bacteroides ovatus, Bacteroides thetaiotaomicron, Bacteroides eggerthii, Bacteroides capsillosis, Prevotella buccalis, Prevotella corporis, Bacteroides gracilis, Prevotella melaninogenica, Prevotella intermedia, Prevotella bivia, Prevotella splanchnicus, Prevotella oralis, Prevotella disiens, Prevotella rumenicola, Bacteroides ureolyticus, Prevotella oris, Prevotella buccae, Prevotella denticola, Bacteroides levii, Porphyromonas asaccharolytica, Bifidobacterium spp., Bilophila wadsworthia, Clostridium perfringens, Clostridium bifermentans, Clostridium ramosum, Clostridium sporogenes, Clostridium cadaveris, Clostridium sordellii, Clostridium butyricum, Clostridium clostridiiformis, Clostridium innocuum, Clostridium subterminale, Clostridium tertium, Eubacterium lentum, Eubacterium aerofaciens, Fusobacterium mortiferum, Fusobacterium necrophorum, Fusobacterium nucleatum, Fusobacterium varium, Mobiluncus curtisii, Mobiluncus mulieris, Peptostreptococcus anaerobius, Peptostreptococcus micros, Peptostreptococcus saccharolyticus, Peptococcus saccharolyticus, Peptostreptococcus asaccharolyticus, Peptostreptococcus magnus, Peptostreptococcus prevotii, Propionibacterium acnes, Propionibacterium avidum, Propionibacterium granulosum. Stenotrophomonas maltophilia, Enterococcus faecium và các Staphylococcus đề kháng với methicilin đã được ghi nhận đề kháng với meropenem.

Cơ chế tác dụng:

Meropenem là một kháng sinh tổng hợp nhóm carbapenem, có cấu trúc và tác dụng dược lý tương tự các thuốc trong nhóm là imipenem và ertapenem. Khác với imipenem, meropenem bền vững với tác dụng thủy phân của dehydropeptidase 1 (DHP-1) có ở vi nhung mao của tế bào ống lượn gần của thận, vì vậy không cần dùng cùng với chất ức chế DHP-1 như cilastatin.

Thuốc có tác dụng diệt khuấn thông qua ức chế sự tổng hợp vách tế bào bằng cách thấm qua thành tế bào của hầu hết vi khuấn Gram âm và Gram dương, gắn vào các protein liên kết penicillin (PBP) và làm bất hoạt các protein này.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Khi truyền tĩnh mạch một liều đơn meropenem trong vòng 30 phút ở người tình nguyện khỏe mạnh nồng độ đỉnh của thuốc trong huyết tương và khoảng 11µg/ml đối với liều 250mg, 23µg/ml đối với liều 500mg và 49 µg/ml đối với liều 1g.

Tuy nhiên không có mối tương quan tuyệt đối về dược động học giữa Cmax và AUC với liều dùng. Hơn nữa, sự giảm độ thanh thải trong huyết tương từ 287 xuống 205ml/phút khi sử dụng liều từ 250 mg đến 2 g đã được ghi nhận.

Khi tiêm tĩnh mạch một lượng lớn meropenem trong 5 phút ở người tình nguyện khỏe mạnh, nộng độ đỉnh của thuốc trong huyết tương vào khoảng 52µg/ml khi sử dụng liều 500mg và 112µg/ml khi sử dụng liều 1 g.

Truyền tĩnh mạch 1 g trong vòng 2 phút , 3 phút, 5 phút được so sánh trong một thử nghiệm bắt chéo ba chiều (three way crossover study). Nồng độ đỉnh của thuốc trong huyết tương ứng lần lượt với thời gian truyền này là 110,91 và 94 µg/ml.

6 giờ sau khi tiêm tĩnh mạch liều 500mg , nồng độ meropenem trong huyết tương giảm còn ≤ 1µg/ml.

Khi sử dụng nhiều liều cách khoảng mỗi 8 giờ cho người có chức năng thận bình thường , không có sự tích lũy meropenem.

ở người có chức năng thận bình thường, thời gian bán thải của meropenem khoảng 1 giờ.

Tỷ lệ gắn kết với protein huyết tương của meropenem khoảng 2%. Khoảng 70 % liều meropenem sử dụng được tìm thấy trong nước tiểu dưới dạng không đổi trong 12 giờ, sau đó chỉ có 1 lượng rất nhỏ được bài tiết thêm vào nước tiểu. Nồng độ meropenem trong nước tiểu > 10µg/ml duy trì đến 5 giờ sau khi sử dụng liều 500mg. Không có sự tích tụ meropenem trong nước tiểu hay huyết tương được ghi nhận với phác đồ liều 500mg mỗi 8 giờ hay 1g mỗi mỗi 6 giờ ở người tình nguyện khỏe mạnh có chức năng thận bình thường.

Chất chuyển hóa duy nhất của meropenem không có hoạt tính kháng khuẩn.

Meropenem xâm nhập tốt vào hầu hết các mô và dịch của cơ thể kêt cả dịch não tủy ở bệnh nhân viêm màng não nhiễm khuẩn, đạt đến nồng độ cao hơn nồng độ cần thiết để ức chế hầu hết vi khuẩn.

Các nghiên cứu trên trẻ em chứng tỏ dược động học của meropenem ở trẻ em tương tự ở người lớn. Thời gian bán thải của meropenem vào khoảng 1,5-2,3 giờ ở trẻ em dưới 2 tuổi và dược động học tuyến tính với liều dùng trong khoảng 10-40 mg/kg.

Các nghiên cứu về dược động học ở bệnh nhân suy thận cho thấy độ thanh thải của meropenem trong huyết tương tương quan với độ thanh thải creatinin. Cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy thận.

Các nghiên cứu về dược động học ở người cao cho thấy độ thanh thải của meropenem trong huyết tương giảm tương ứng với sự giảm độ thanh thải creatinin theo tuổi.

Các nghiên cứu về dược động học ở bệnh nhân suy gan cho thấy bệnh gan không ảnh hưởng đến dược động học của meropenem.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

….

6.2. Tương kỵ :

PIZULEN tương thích với dịch truyền tham khảo ở mục Thận trọng đặc biệt trong bảo quản. Không nên trộn hoặc thêm vào các thuốc khác.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng trực tiếp, nhiệt độ không quá 30 độ C.

Thận trọng đặc biệt trong bảo quản

Không bảo quản trên 30°C. Dùng dịch vừa pha xong nên được dùng ngay, tuy nhiên dung dịch PIZULEN có thể bảo quản ở nhiệt độ phòng (<25°C) hoặc trong tủ lạnh (4°C). Thời gian ổn định của dung dịch PIZULEN cho trong bảng sau:

Chất pha loãng Thời gian (giờ) ổn định ở
15 – 25°c 4°c
Nước cất pha tiêm 8 48
Dung dịch thuốc (1-20 mg/mL) sau khi pha với:
Natri clorid 0,9% 8 48
Glucose 5% 3 14
Glucose 5% và natri clorid

0,225%

3 14
Glucose 5% và natri clorid 0,9% 3 14
Glucose 5% và kali clorid 0,15% 3 14
Dung dịch mannitol truyền tĩnh mạch 2,5 % hoặc 10% 3 14
Glucose 10% 2 8
Glucose 5% và natri bicarbonat 0,02% truyền tĩnh mạch 2 8

6.4. Thông tin khác :

An toàn tiền lâm sàng

Các nghiên cứu trên động vật cho thấy meropenem dung nạp tốt qua thận. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy meropenem chỉ gây độc thận ở liều cao (500 mg/kg).

Các tác động trên hệ thần kinh trung ương; co giật ở chuột và nôn ở chó chỉ được ghi nhận ở liều cao (>2000 mg/kg).

Liều gây chết 50% (LD50) đối với một liều đơn dùng đường tĩnh mạch ở loài gậm nhấm là >2000 mg/kg. Trong các nghiên cứu sử dụng liều lặp lại (thời gian lên đến 6 tháng) chỉ ghi nhận các tác động nhẹ như giảm nhẹ số lượng tế bào hồng cầu và tăng trọng lượng gan ở chó đang dùng liều 500 mg/kg.

Không có bằng chứng về khả năng gây đột biến qua 5 thử nghiệm và không có bằng chứng về độc tính lên sự sinh sản và gây quái thai qua các nghiên cứu ở chuột và khỉ sử dụng liều cao nhất có thể; liều không gây tác động làm giảm trọng lượng (nhẹ) ở chuột thế hệ F1 là 120 mg/kg. Có sự gia tăng tần suất sẩy thai qua một nghiên cứu sơ bộ trên khỉ sử dụng liều 500 mg/kg.

Không có bằng chứng về sự gia tăng tính nhạy cảm với meropenem ở động vật còn non so với động vật trưởng thành. Thuốc sử dụng đường tĩnh mạch dung nạp tốt qua các nghiên cứu ở động vật.

Chất chuyển hóa duy nhất của meropenem có độc tính tương tự trong các nghiên cứu trên động vật.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM