Meropenem – Klopenem/Narofil

Thuốc Klopenem, Narofil là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Klopenem, Narofil (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Meropenem

Phân loại: Thuốc kháng sinh nhóm beta-lactam , phân nhóm carbapenem.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J01DH02.

Biệt dược gốc: Meronem.

Biệt dược: Klopenem, Narofil

Hãng sản xuất : Klonal S.R.L

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Lọ bột pha tiêm chứa meropenem trihydrat tương đương với 500 mg, 1g meropenem khan.

Thuốc tham khảo:

KLOPENEM 1G
Mỗi Lọ bột pha tiêm có chứa:
Meropenem …………………………. 1000 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Meropenem được dùng cho người trưởng thành và cho trẻ em để điều trị những trường hợp nhiễm khuẩn liệt kê dưới đây do một hay nhiều vi khuẩn nhạy cảm với meropenem:

Viêm phổi nặng, bao gồm viêm phổi mắc tại bệnh viện.

Nhiễm trùng tiết niệu biến trứng.

Nhiễm khuẩn ổ bụng.

Nhiễm khuẩn trong phụ khoa, như lạc nội mạc tử cung và viêm vùng chậu.

Nhiễm trùng da và cấu trúc da biến chứng.

Viêm màng não.

Nhiễm khuẩn máu.

Liệu pháp dựa theo kinh nghiệm, dùng đơn độc hoặc kết hợp với các thuốc chống nấm hay chống virus khác để điều trị những bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính kèm theo sốt và nghi ngờ có nhiễm khuẩn. Meropenem dùng theo đơn trị liệu, hoặc kết hợp với thuốc kháng khuẩn khác, tỏ ra có hiệu quả trong điều trị bệnh nhi giảm bạch cầu trung tính hoặc bệnh nhi bị suy giảm miễn dịch tiên phát hay thứ phát

Khuyến cáo hiệu chỉnh liều cho bệnh nhân suy thận vừa đến nặng (xem mục “Liều lượng và cách dùng”).

Một nghiên cứu dược động học của meropenem trên bệnh nhân suy gan không cho thấy ảnh hưởng của bệnh gan đến dược động học của thuốc

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Đường dùng: Tiêm, truyền tĩnh mạch.

Đường dùng thuốc: Meropenem dùng theo đường tĩnh mạch, hoặc tiêm tĩnh mạch liều nạp (bolus) trong khoảng 5 phút, hoặc truyên tĩnh mạch trong 15-30 phút, sử dụng các dạng pha chế khác nhau để dùng riêng cho mỗi cách dùng.

Để tiêm tĩnh mạch, meropenem được pha với nước vô khuẩn, tạo thành dung dịch không ổn định (250 mg meropenem trong 5 ml nước). Dung dịch này có nồng độ meropenem vào khoảng 50 mg/ml.

Để truyền tĩnh mạch, meropenem có thể được pha với dung dịch đẳng trương natri clorid 0,9%, hoặc với dung môi thích hợp khác (50 – 200 ml). Không được trộn lẫn meropenem với bất kỳ thuốc nào khác. Meropenem tương thích với những dung dịch để truyền tĩnh mạch sau đây:

Dung dịch natri clorid 0,9%.

Dung dịch glucose 5% hay 10%.

Dung dịch glucose 5% và natri bicarbonat 0,02%.

Dung dịch natri clorid 0,9% và glucose 5%.

Dung dịch glucose 5% và natri clorid 0,225%

Dung dịch glucose 5% và kali clorid 0,15%.

Dung dịch manitol 2,5% hay 10%.

Khuyến cáo nên dùng dung dịch meropenem để tiêm hay truyền tĩnh mạch ngay khi mới pha xong. Khi pha thuốc với dung môi, phải áp dụng các kỹ thuật vô khuẩn. Dung dịch sau khi pha cần lắc kỹ trước khi dùng. Cả lọ và ống thuốc chỉ được dùng một lần duy nhất.

Liều dùng:

Người trưởng thành: Liều dùng và thời gian điều trị nên được xác định tùy thuộc vào dạng và mức độ nhiễm khuẩn và tình trạng của bệnh nhân.

Liều hàng ngày như sau: 500 mg tiêm tĩnh mạch mỗi 8 giờ để điều trị viêm phổi, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, nhiễm khuẩn trong phụ khoa, như lạc nội mạc tử cung và viêm vùng chậu, nhiễm khuẩn da và mô mềm.

Đối với viêm màng não, liều khuyến cáo là 2 g mỗi 8 giờ.

Cũng như những thuốc kháng sinh khác, khuyến cáo phải thận trọng đặc biệt khi dùng meropenem đơn trị liệu cho những tình trạng nhiễm khuẩn đặc biệt nghiêm trọng với nền nhiễm khuẩn là ở hệ hô hấp, và tác nhân gây bệnh đã biết là hay nghi là Pseudomonas aeruginosa. Trong quá trình điều trị nhiễm khuẩn do Pseudomonas aeruginosa, khuyến cáo là nên làm các test thử về độ nhạy của vi khuẩn để theo dõi kết quả điều trị.

Dims cho bệnh nhân trưởng thành suy thân: Nên giảm liều ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin thấp hơn 51 ml/phút như trình bày ở bảng sau:

Độ thanh thải creatinine (mL/phút) Liều dùng (tính theo đơn vị liều 500 mg, 1 g, 2 g) Tần suất sử dụng thuốc
26 – 50 Một đơn vị liều Mỗi 12 giờ
10-25 Một đơn vị liều Mỗi 12 giờ
< 10 Nửa đơn vị liều Mỗi 24 giờ

Meropenem bị đào thải trong quá trình lọc máu. Nếu cần tiếp tục điều trị với meropenem, khuyến cáo dùng ngay một liều meropenem (tính dựa trên loại nhiễm khuẩn và mức độ nhiễm khuẩn) khi buổi lọc máu vừa kết thúc, nhằm giữ nồng độ thuốc trong huyết tương ở mức có tác dụng điều trị. Chưa có những dữ liệu liên quan đến dùng meropenem trong lọc màng bụng.

Dùng cho bệnh nhân trưởng thành bị suy gan:

Đối với những bệnh nhân suy gan, không cần giảm liều dùng (xem mục “Các thận trọng khi dùng”).

Bệnh nhân cao tuổi: Đối với những bệnh nhân cao tuổi có chức năng thận bình thường hoặc trị số thanh thải Creatinin lớn hơn 50 ml/phút, thì không cần phải giảm liều dùng.

Dùng cho trẻ em: Với trẻ em từ 03 tháng đến 12 tuổi, liều khuyến cáo là 10-20 mg/kg cho mỗi 8 giờ, dựa theo mức độ nhiễm khuẩn, tính nhạy cảm của chủng vi khuẩn gây bệnh và tình trạng của bệnh nhân. Đối với những trẻ em mà thể trọng trên 50 kg, có thể dùng liều quy định cho người trưởng thành. Trong viêm màng não, liều được khuyến cáo là 40 mg/kg mỗi 8 giờ. Chưa có những dữ liệu trong việc dùng thuốc này cho những bệnh nhi bị suy thận.

4.3. Chống chỉ định:

Chống chỉ định dùng thuốc cho những bệnh nhân được biết quá mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào thuốc và bất kỳ betalactam nào; Khi việc sử dụng natri carbonat là có hại trên lâm sàng

4.4 Thận trọng:

Các bệnh nhân có tiền sử quá mẫn cảm với carbapenem, penicilin hoặc với các kháng sinh betalactam khác, có thể sẽ quá mẫn cảm với meropenem. Việc dùng meropenem cho những bệnh nhân có bệnh gan thì phải theo dõi chặt chẽ nồng độ bilirubin và các transaminase. Cũng như các kháng sinh khác, sử dụng meropenem có thể làm tăng phát triển các vi khuẩn không nhạy cảm với thuốc, do đó cần phải theo dõi bệnh nhân liên tục.

Có thể gặp viêm đại tràng giả mạc khi dùng phần lớn các thuốc kháng sinh, và mức độ có thể từ nhẹ đến nghiêm trọng để dọa tính mạng. Khi kê đơn dùng kháng sinh cho những bệnh nhân có bệnh về đường tiêu hóa, nhất là viêm đại tràng, phải rất thận trọng. Điều quan trọng là phải đặt vấn đề chẩn đoán xem có viêm đại tràng có màng giả hay không ở những bệnh nhân bị tiêu chảy khi dùng kháng sinh. Mặc dù kết quả xét nghiệm cho thấy chủng Clostridium difficile có khả năng sinh các độc tố là một trong những nguyên nhân chính gây viêm đại tràng liên quan đến việc dùng các kháng sinh, nhưng cũng nên xem xét các nguyên nhân khác. Việc dùng meropenem đồng thời với các thuốc có tiềm năng gây độc thận cũng cần xem xét một cách thận trọng (xem mục “Liều dùng, đường dùng và thời gian dùng thuốc”).

Kết quả dương tính với nghiệm pháp Coombs trực tiếp hoặc gián tiếp có thể xuất hiện trong quá trình điều trị bằng meropenem.

Mỗi lọ Klopenem 500 g (meropenem 500 mg) chứa khoảng 45 mg natri, cần lưu ý khi điều trị cho bệnh nhân đang áp dụng chế độ ăn giảm natri.

Không khuyến cáo dùng đồng thời meropenem cùng với acid valproic, natri divalproex (xem mục “Tương tác thuốc”).

Do nguy cơ gây ngộ độc gan (rối loạn chức năng gan kèm theo ứ mật và hủy tế bào gan), cần giám sát chặt chẽ chức năng gan trong quá trình điều trị bằng meropenem.

Dùng cho trẻ em: Hiệu quả và tính an toàn của việc dùng meropenem cho trẻ em dưới 3 tháng tuổi chưa được khẳng định rõ. Do đó, không khuyến cáo dùng thuốc này cho trẻ em chưa đến tuổi nói trên.

Chưa có đủ dữ liệu về kinh nghiệm trong việc dùng meropenem cho những bệnh nhi có suy giảm chức năng gan hay thận

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Chưa có những dữ liệu về ảnh hưởng của meropenem trên khả năng lái xe và điều khiển máy móc. Các ảnh hưởng của thuốc trên các hoạt động nói trên còn chưa được biết. Tuy nhiên, các tác dụng không mong muốn như nhức đầu, nôn, buồn nôn…đã được ghi nhận, cần thận trọng khi lái xe hay vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B2

US FDA pregnancy category: B

Thời kỳ mang thai:

Chưa có những nghiên cứu về tính an toàn của dùng meropenem cho phụ nữ mang thai. Trong những nghiên cứu tiền lâm sàng, không có những báo cáo về các tác dụng phụ trên sự phát triển của thai nhi. Không được dùng meropenem cho phụ nữ mang thai, trừ khi những lợi ích tiềm năng vượt quá những nguy cơ tiềm năng cho thai nhi. Khi quyết định dùng cho thai phụ, việc điều trị phải được bác sỹ trực tiếp theo dõi.

Thời kỳ cho con bú:

Đã phát hiện thấy có meropenem với nồng độ thấp trong sữa ở các súc vật thí nghiệm. Không được dùng meropenem cho các bà mẹ cho con bú trừ khi những lợi ích tiềm năng vượt quá những nguy cơ tiềm năng có thể xảy ra ở trẻ bú mẹ.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Trong một đánh giá tổng quan về bệnh nhân đã được điều trị bằng meropenem, các phản ứng bất lợi liên quan đến meropenem hay được ghi nhận nhất là tiêu chảy (2,3%), phát ban (1,4%), buồn nôn/nôn (1,4%) và viêm tại vị trí tiêm truyền (1,1%). Các biến cố bất lợi cận lâm sàng liên quan đến meropenem hay được ghi nhận nhất là tăng tiểu cầu (1,6%) và tăng men gan (1,5-4,3%).

Các phản ứng bất lợi liệt kê trong bảng sau với tần suất “chưa rõ” không được ghi nhận ở bệnh nhân tham gia các nghiên cứu lâm sàng sử dụng meropenem theo đường tĩnh mạch và tiêm bắp trước khi thuốc được cấp phép lưu hành nhưng đã được báo cáo trong quá trình lưu hành thuốc.

Bảng liệt kê các phản ứng bất lợi

Trong bảng dưới, tất cả các phản ứng bất lợi được liệt kê theo hệ cơ quan và tần suất: rất hay gặp (>1/10); haỵ gặp (>1/100 đến <1/10); ít gặp (>1/1000 đến <1/100); hiếm gặp (>1/10000 đến <1/1000); rất hiếm gặp (<1/10000) và chưa rõ tần suất (chưa thể ước lượng được tần suất từ dữ liệu hiện có). Trong mỗi nhóm tần suất, các tác dụng không mong muốn được liệt kê theo thứ tự mức độ nghiêm trọng giảm dần

Hệ cơ quan Tần xuất Biểu hiện
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng ít gặp Candida miệng và âm đạo
Máu và hệ bạch huyết Thường gặp Tăng tiểu cầu
ít gặp Tăng bạch cầu ưa eosin, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu tán huyết
Hệ thống miễn dịch ít gặp Phù mạch, sốc phản vệ
Hệ thần kinh Thường gặp Đau đầu
ít gặp Dị cảm
Hiếm gặp Chứng co giật
Hệ tiêu hóa Thường gặp Tiêu chảy, nôn, buồn nôn, đau bụng
ít gặp Viêm đại tràng liên quan kháng sinh
Rối loạn chứng năng gan Thường gặp Transaminase tăng, kiềm máu phosphatase tăng, lactat dehydrogenase máu tăng
ít gặp Bilirubin máu tăng
Rối loạn da và các tổ chức dưới da Thường gặp Phát ban, ngứa
ít gặp Mề đay, hoại tử biểu bì, hội chứng Stevens Johnson, hồng ban đa dạng.
Rối loạn thận và tiết niệu ít gặp Creatinin huyết tăng, urê huyết tăng
Rối loạn khác Thường gặp Viêm, đau
ít gặp Viêm tắc tĩnh mạch, đau tại chỗ tiêm

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Nếu xảy ra các ADR nghiêm trọng, cần ngừng dùng meropenem và áp dụng các biện pháp điều trị thích hợp.

Khi bệnh nhân bị co giật hoặc gặp các phản ứng bất lợi trên thần kinh trung ương, cần giảm liều hoặc ngừng dùng meropenem.

Nếu bệnh nhân bị tiêu chảy trong hoặc sau khi điều trị bằng meropenem, cần theo dõi và có chẩn đoán, điều trị phù hợp.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Probenecid cạnh tranh với meropenem trên sự đào thải tích cực qua ống thận, do đó có tác dụng ức chế sự bài tiết qua thận, như vậy hậu quả là làm tăng thời gian bán thải, và tăng nồng độ thuốc trong huyết tương. Tuy nhiên, không nên dùng kết hợp probenecid với meropenem, vì hoạt tính và thời gian tác dụng của meropenem khi không dùng cùng với probenecid là đã đủ hiệu quả điều trị. Chưa có những nghiên cứu về tác dụng tiềm năng của meropenem trên sự gắn kết protein hay trên sự chuyển hóa của thuốc khác. Tỷ lệ meropenem gắn kết với các protein huyết tương là rất thấp (khoảng 2%), do đó chưa có báo cáo về tương tác với các thuốc khác, nhưng điều này cũng không dẫn đến những tương tác dược lý không mong muốn. Chưa có dữ liệu cụ thể về tiềm năng tương tác với các thuốc khác.

Các báo cáo ca bệnh trong y văn cho thấy sử dụng đồng thời các kháng sinh carbapenem như meropenem cho bệnh nhân đang dùng acid valproic hoặc natri divalproex gây giảm nồng độ valproic. Nồng độ acid valproic có thể giảm xuống thấp hơn khoảng nồng độ điều trị do tương tác này, làm tăng nguy cơ động kinh bộc phát. Tăng liều acid valproic hoặc natri divalproex có thể không đủ để khắc phục tương tác này. Nên cân nhắc sử dụng các thuốc kháng khuẩn khác ngoài carbapenem để điều trị nhiễm khuẩn ở những bệnh nhân mà tình trạng động kinh đang được kiểm soát hiệu quả bang acid valproic hoặc natri divalproex. Không nên phối hợp meropenem với acid valproic.

Sử dụng đồng thời các kháng sinh cùng với warfarin có thể làm tăng tác dụng chống đông của warfarin. Đã có nhiều báo cáo về tình trạng tăng tác dụng chống đông của các thuốc chống đông dùng theo đường uống như warfarin ở bệnh nhân đang được điều trị đồng thời bằng các thuốc kháng sinh. Nguy cơ này có thể thay đổi theo tình trạng nhiễm khuẩn nền, độ tuổi và tình trạng sức khỏe toàn thân của bệnh nhân. Do đó, khó đánh giá mức độ ảnh hưởng của kháng sinh đến chỉ số INR (International Normalized Ratio). Khuyến cáo theo dõi thường xuyên INR trong hoặc ngay sau khi sử dụng đồng thời kháng sinh cùng với thuốc chống đông dùng theo đường uống.

4.9 Quá liều và xử trí:

Triệu chứng quá liều có thể là biểu hiện nặng của tác dụng không mong muốn nêu trên.

Cần phải chú ý phát hiện các sự cố quá liều trong quá trình điều trị, đặc biệt ở những bệnh nhân suy thận. Điều trị quá liều là điều trị triệu chứng. Ở những bệnh nhân có chức năng thận bình thường, thuốc sẽ nhanh chóng được đào thải qua nước tiểu. Ở những bệnh nhân suy thận, có thể dùng lọc máu để loại bỏ thuốc và các chất chuyển hóa của nó.

Khi có sự cố dùng quá liều, cần chuyển bệnh nhân đến bệnh viện gần nhất

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Meropenem là thuốc diệt khuẩn, có tác dụng giống như các penicilin là ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn. Phổ tác dụng kháng khuẩn của thuốc này rất rộng ở điều kiện in vitro, kể cả tác dụng trên các vi khuẩn gram âm và gram dương, các vi khuẩn ưa khí và kỵ khí. Meropenem bền vững trước phản ứng thủy phân do các beta lactamase do phần lớn các chủng vi khuẩn sinh ra.

Các chủng thường nhạy cảm

Vi khuẩn Gram dương hiếu khí

Enterococcus faecalis

Staphylococcus aureus (nhạy cảm với methicillin)

Các chủng Staphylococcus (nhạy cảm với methicillin), kể cả Staphylococcus epidermidis Streptococcus agalactiae (Nhóm B)

Nhóm Streptococcus mỉlleri (S. anginosus, s. constellatus và s. intermedius)

Streptococcus pneumoniae Streptococcus pyogenes (Nhóm A)

Vi khuẩn Gram âm hiếu khí

Citrobacter freudii

Citrobacter koseri

Enterobacter aerogenes

Enterobacter cloacae

Escherichia coli

Haemophilus influenzae

Klebsiella oxytoca

Klebsiella pneumoniae

Morganella morganii

Neisseria meningitides

Proteus mirabilis

Proteus vulgaris

Serratia marcescens

Vi khuẩn Gram dương kị khí

Clostridium perfringens

Peptoniphilus asaccharolyticus

Các chủng Peptostreptococcus (bao gồm P. micros, P anaerobius, P. magnus)

Vi khuẩn Gram âm kị khí

Bacteroides caccae

Nhóm Bacteroides fragilis

Prevotella bivia

Prevotella disiens

Các chủng vi khuẩn có thể xuất hiện tình trạng kháng thuốc mắc phải

Vi khuẩn Gram dương hiếu khí

Enterococcus faecium

Vi khuẩn Gram âm hiếu khí

Acinetobacter species

Burkholderìa cepacia

Pseudomonas aerugỉnosa

Các chủng vốn đã kháng thuốc

Vi khuẩn Gram âm hiếu khí

Stenotrophomonas maltophilia

Các chủng Legionella

Các vi sinh vât khác

Chlamydophila pneumoniae

Chlamydophila psittaci

Coxiella burnetil

Mycoplasma pneumoniae

Meropenem không có tác dụng với các chủng kháng methicillin (methicillin-resistant)

Kháng thuốc

Cơ chế kháng thuốc

Có một số cơ chế đề kháng carbapenem: 1) giảm tính thấm của màng ngoài vi khuẩn Gram âm (do giảm sản xuất porin), gây giảm lượng thuốc được vi khuẩn hấp thu, 2) giảm ái lực của các protein gắn penicillin đích, 3) tăng hoạt động của các thành phần bơm đẩy thuốc ra ngoài, và 4) sản xuất các enzym làm mất hiệu lực kháng sinh (carbapenemase, metallo-P-lactamases).

Đề kháng chéo

Tình trạng đề kháng chéo đôi khi được ghi nhận với các chủng phân lập đề kháng các kháng sinh carbapenem khác.

Tương quan dược động học/dược lực học

Tương tự như các kháng sinh beta-lactam khác, khoảng thời gian mà nồng độ meropenem cao hơn nồng độ ức chế tối thiểu (T>MIC) có tương quan mạnh nhất với hiệu quả điều trị. Trong các mô hình tiền lâm sàng, meropenem thể hiện hoạt tính khi nồng độ thuốc trong huyết tương cao hơn MIC của vi khuẩn gây bệnh trong quãng thời gian bằng khoảng 40% khoảng cách giữa các liều. Điều này chưa được chứng minh trên lâm sàng.

Cơ chế tác dụng:

Meropenem là một kháng sinh tổng hợp nhóm carbapenem, có cấu trúc và tác dụng dược lý tương tự các thuốc trong nhóm là imipenem và ertapenem. Khác với imipenem, meropenem bền vững với tác dụng thủy phân của dehydropeptidase 1 (DHP-1) có ở vi nhung mao của tế bào ống lượn gần của thận, vì vậy không cần dùng cùng với chất ức chế DHP-1 như cilastatin.

Thuốc có tác dụng diệt khuẩn thông qua ức chế sự tổng hợp vách tế bào bằng cách thấm qua thành tế bào của hầu hết vi khuẩn Gram âm và Gram dương, gắn vào các protein liên kết penicillin (PBP) và làm bất hoạt các protein này.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Sau khi tiêm tĩnh mạch 0,5 và 1 g meropenem được 5 phút, sẽ đạt được nồng độ đỉnh trong huyết tương, với giá trị tương ứng khoảng 50 và 112 microgam/ml. Nếu dùng cách truyền tĩnh mạch cũng với cùng liều như trên trong vòng 30 phút, thì nồng độ đỉnh trong huyết tương tương ứng sẽ là 23 và 49 microgam/ml.

Thời gian bán thải của meropenem trong huyết tương vào khoảng 1 giờ. Thời gian này có thể kéo dài hơn ở những bệnh nhân suy thận, và cũng kéo dài hơn một chút ở trẻ em. Meropenem được phân bố rộng trong cơ thể, ở các mô và trong các dịch, kể cả trong mật và trong dịch não- tủy. Khoảng 2% meropenem được liên kết với protein của huyết tương. Nó vững bền với dehydropeptidase I ở thận hơn so với imipenem và chủ yếu được đào thải qua nước tiếu, qua quá trình bài tiết ở ống thận và lọc qua tiểu cầu thận. Khoảng 70% liều thuốc dùng có thể thu được trong nước tiểu dưới dạng không đổi sau 12 giờ, và nồng độ thuốc trong nước tiếu ở giá trị trên 10 microgam/ml được duy trì lên đến 5 giờ sau khi dùng một liều 500 mg. Meropenem được báo cáo là có một chất chuyển hóa (ICI-213689), chất này không có hoạt tính và cũng được đào thải qua nước tiểu.

Có thể loại bỏ được meropenem bằng thẩm phân.

Dược động học ở quần thể đặc biệt:

Tình trạng suy thận gây tăng AUC trong huyết tương và kéo dài thời gian bán thải của meropenem. Trị số AUC của meropenem tăng 2,4 lần ở bệnh nhân suy thận vừa, tăng 5 lần khi suy thận nặng và tăng 10 lần ở bệnh nhân phải thẩm phân máu so với người khỏe mạnh.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Tá dược: Natri carbonat.

6.2. Tương kỵ :

Chưa có những dữ liệu cho thấy sự tưong kỵ giữa meropenem với các thuốc khác. Không nên pha chung meropenem với dung dịch có chứa các thuốc khác

6.3. Bảo quản:

Bảo quản dưới 30°c, ở nơi khô ráo và thoáng mát, tránh ánh sáng. Không được đóng băng dung dịch meropenem.

Thận trọng đặc biệt trong bảo quản

Dung dịch meropenem ổn định ở nhiệt độ phòng (dưới 25°C) hay trong tủ lạnh (2°-8°C) như được mô tả trong bảng dưới đây: Độ ổn định của dung dịch meropenem:

Chất pha loãng Thời gian (giờ) ổn định ở
15 – 25°c 4°c
Nước cất pha tiêm 8 48
Dung dịch thuốc (1-20 mg/mL) sau khi pha với:
Natri clorid 0,9% 8 48
Glucose 5% 3 14
Glucose 5% và natri clorid

0,225%

3 14
Glucose 5% và natri clorid 0,9% 3 14
Glucose 5% và kali clorid 0,15% 3 14
Dung dịch mannitol truyền tĩnh mạch 2,5 % hoặc 10% 3 14
Glucose 10% 2 8
Glucose 5% và natri bicarbonat 0,02% truyền tĩnh mạch 2 8

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM