Linezolid – Sovasdi

Thuốc Sovasdi là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Sovasdi (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Linezolid

Phân loại: Thuốc kháng sinh nhóm Oxazolidinone .

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J01XX08.

Biệt dược gốc: Zyvox

Biệt dược: Sovasdi

Hãng sản xuất : Công ty cổ phần dược phẩm Me Di Sun

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén bao phim 600 mg.

Thuốc tham khảo:

SOVASDI
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Linezolid …………………………. 600 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Viêm phổi bệnh viện

Viêm phổi mắc phải cộng đồng

SOVASDI được chỉ định cho người lớn trong việc điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng và viêm phôi bệnh viện, khi đã được chẩn đoán hoặc nghi ngờ tác nhân là vi khuẩn gram dương nhạy cảm với thuốc. Trong việc quyết định SOVASDI có phải là lựa chọn điều trị hợp lý hay không, kết quả xét nghiệm vi sinh học hoặc thông tin về các trường hợp hiện mắc đề kháng với các tác nhân kháng khuẩn của dòng vi khuẩn Gram dương nên được cân nhắc kỹ lưỡng.

SOVASDI không có hiệu lực đối với tình trạng nhiễm khuẩn Gram âm. Khi có ghi nhận hoặc nghi ngờ tình trạng nhiễm vi khuẩn Gram âm, phải kết hợp phương pháp điều trị đặc hiệu cho các vi khuẩn Gram âm này.

Biến chứng da và nhiễm khuẩn mô mềm

SOVASDI được chỉ định cho người lớn trong việc điều trị các biến chứng da và nhiễm khuẩn mô mềm chỉ khi xét nghiệm vi sinh được cho ra kết luận nhiễm khuẩn được gây ra bởi vi khuẩn Gram dương nhạy cảm.

SOVASDI không có hiệu lực đối với tình trạng nhiễm khuẩn gây ra bởi vi khuẩn Gram âm.

SOVASDI chỉ nên được sử dụng ở bệnh nhân có biến chứng da và nhiễm khuẩn mô mềm với chẩn đoán hoặc khả năng đồng nhiễm với vi khuẩn Gram âm nếu như không có lựa chọn điều trị thay thế. Trong những tình huống này, việc điều trị chống lại vi khuẩn Gram âm phải được khởi trị ngay.

SOVASDI chỉ được dùng khởi trị trong môi trường bệnh viện và sau khi hội chẩn với chuyển gia có liên quan. Phải có sự cân nhắc trong việc hướng dẫn về các tác dụng thích hợp của tác nhân diệt khuẩn.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Khuyến cáo sử dụng Linezolid nên được dùng uống là 2 lần/ ngày.

Chế phẩm đường uống có thể dùng chung hoặc không dùng chung với thức ăn.

Liều dùng:

SOVASDI dạng viên nén bao phim có thể được dùng như là phương pháp khởi trị. Bệnh nhân được khởi trị có thể chuyển sang các chế phẩm đường uống khi có chỉ định trên lâm sàng trong tình huống đó, không nhất thiết phải điều chỉnh liều vì Linezolid có sinh khả dụng đường uống xấp xỉ 100%.

Liều dùng khuyến cáo và thời gian điều trị cho người lớn:

Thời gian điều trị tùy thuộc vào tác nhân gây bệnh, bệnh cảnh nhiễm khuẩn và mức độ nặng của bệnh, và còn tùy thuộc vào đáp ứng trên lâm sàng của bệnh nhân.

Thời gian điều trị tối đa là 28 ngày.

Không có sự gia tăng trong liều sử dụng điều trị hoặc liều điều trị khuyến cáo bắt buộc trong nhiễm khuẩn liên quan tới tình trạng nhiễm khuẩn huyết đồng thời.

Liều dùng khuyến cáo được xác nhận sau đây:

Nhiễm trùng Liều lượng Thời gian điều trị
Viêm phổi bệnh viện 600mg – 2 lần/ ngày 10-14 ngày liên tiếp
Viêm phổi mắc phải cộng đồng 600mg – 2 lần/ ngày 10-14 ngày liên tiếp
Biến chứng da và nhiễm khuẩn mô mềm 600mg – 2 lần/ ngày 10-14 ngày liên tiếp

Đối với trẻ em:

Hiện chưa có bằng chứng cho thấy sự an toàn và hiệu quả của Linezolid ở trẻ em và thiếu niên (<18 tuổi). Như vậy cho tời thời điểm này Linezolid không được khuyến cáo dùng cho trẻ dưới 18 tuổi

Người lớn tuổi

Không cần điều chỉnh liều

Bệnh nhân bị suy thận nặng: (Clcr< 30 ml/phút):

Không cần điều chỉnh liều đặc biệt khi sử dụng Linezolid ở nhóm bệnh nhân này và chỉ dùng khi có những lợi ích dự kiến nhiều hơn các nguy cơ trên lý thuyết.

Khoảng 30% liều Linezolid bị loại thải khỏi cơ thể trong vòng 3 giờ lọc máu với máy chạy thận nhân tạo. Linezolid nên được chỉ định sau khi chạy thận nhân tạo ở nhóm bệnh nhân này.

Dạng chuyển hóa chính của Linezolid được thải qua chạy thận lọc máu nhân tạo, nhưng nồng độ của các dạng chuyển hóa vẫn còn khá cao sau khi chạy thận hơn là ở nhóm bệnh nhân với chức năng thận bình thường hoặc suy thận mức độ nhẹ đến vừa.

Do đó, Linezolid nên được sử dụng với chú ý đặc biệt ở nhóm bệnh nhân với chức năng thận suy giảm nặng đang được chạy thận lọc máu nhân tạo và chỉ khi nào có bằng chứng lợi ích lâm sàng nhiều hơn các nguy cơ trên lý thuyết. Cho đến nay, chưa có kinh nghiệm về sử dụng Linezolid cho những bệnh nhân đang thực hiện thẩm phân phúc mạc hoặc điều trị thay thế thận (ngoài chạy thận nhân tạo)

Bệnh nhân suy gan:

Không cần điều chỉnh liều. Tuy nhiên, có dữ liệu lâm sàng khá hạn chế và khuyến cáo là Linezolid nên được dùng cho nhóm bệnh nhân này chỉ khi có những lợi ích trên lâm sàng nhiều hơn các nguy cơ trên lý thuyết

4.3. Chống chỉ định:

Nhạy cảm quá mức với Linezolid hoặc bất kì thành phần nào của thuốc Linezolid không nên dùng cho các bệnh nhân có dùng các dược phẩm có ức chế men monoamin oxidase A hoặc B (như phenelzin, isocarboxazid, selegilin, moclobemid) hoặc trong vòng 2 tuần có sử dụng các loại được phẩm trên.

Trừ khi có cơ sở thiết bị thích hợp cho việc theo dõi huyết áp, thì Linezolid không nên được chỉ định cho nhóm bệnh nhân sau đây:

Bệnh nhân có huyết áp chưa được kiểm soát, có tình trạng ngộ độc giáp, trầm cảm lưỡng cực, tình trạng lơ mơ cấp tính, có ung bướu, u tủy thượng thận, rối loạn tâm thần phân liệt.

Bệnh nhân có dùng các loại thuốc sau: thuốc ức chế tái hấp thu serotonin, chống trầm cả vòng, đồng vận thụ thể serotonin 5-HT, thuốc kích hoạt giao cảm trực tiếp hoặc gián tiếp (gồm giãn phế quản adrenergic, pseudoephedrin và phenylpropanolamin), chất gây co mạch như epinephrin, nor-epinephrin), chất dopaminergic (như dopamin hay dobutamin), pethidin hoặc buspiron.

Các dữ kiện thí nghiệm trên động vật cho thấy Linezolid và các dạng chuyển hóa có thể hiện diện trong sữa mẹ và việc cho con bú sữa mẹ không nên được tiếp tục để tránh việc truyền dược chất cho trẻ nhỏ.

4.4 Thận trọng:

Khuyến cáo: Để tránh việc lạm dụng dùng thuốc cần cân nhắc kỹ trước khi sử dụng

Ức chế tủy:

Tình trạng ức chế tủy (bao gồm thiếu máu, thiếu bạch cầu, thiếu tiểu cầu, thiếu cả 3 dòng tế bào máu) được báo cáo trên nhóm bệnh nhân được chỉ định điều trị với Linezolid. Trong các trường hợp này, kết quả được tiên lượng khi ngưng sử dụng Linezolid, các đơn vị tế bào máu trở về với mức lúc mới bắt đầu điều trị. Nguy cơ của việc ức chế tủy xảy ra có liên quan tới thời gian trị liệu. Các bệnh nhân lớn tuổi được điều trị với Linezolid có thể có nguy cơ xảy ra tình trạng rối loạn huyết học cao hơn so với nhóm bệnh nhân trẻ tuổi. Giảm tiểu cầu xảy ra thường xuyên hơn ở bệnh nhân suy thận nặng, dù có được chạy thận nhân tạo hay không. Do đó, cần phải có chiến lược theo dõi công thức máu thật kỹ đối với nhóm bệnh nhân có: tình trạng thiếu máu trước đó, giảm bạch cầu hạt hoặc giảm cầu, đang được điều trị bằng các dược phẩm làm giảm lượng huyết cầu tố, giảm tế bào máu hoặc giảm chất lượng hay số lượng tiểu cầu, bệnh nhân suy thận nặng, bệnh nhân được điều trị Linezolid thời gian dài hơn 10-14 ngày. Linezolid chỉ được chỉ định cho nhóm bệnh nhân kể trên khi có khả năng theo dõi sát công thức máu và số lượng tiểu cầu. Nếu tình trạng ức chế tủy diễn ra nặng nề trong suốt quá trình điều trị, Linezolid nên được ngưng sử dụng trừ khi trường hợp cấp thiết phải tiếp tục Linezolid, trong tình huống này, cần vạch ra chiến lược theo dõi và đánh giá tình trạng tế bào máu một cách kỹ lưỡng.

Bên cạnh đó, khuyến cáo cho việc xét nghiệm công thức máu toàn phần (bao gồm lượng hemoglobin) , tiểu cầu và các dạng biệt hóa khác của bạch cầu) nên được tiến hành hàng tuần ở bệnh nhân đang điều trị bằng Linezolid, bất kể tình trạng tế bào máu ở mức bình thường hay không.

Trong các nghiên cứu, nguy cơ thiếu máu nặng được báo cáo ở các bệnh nhân có sử dụng Linezolid nhiều hơn khoảng thời gian trị liệu tối đa khuyến cáo-28 ngày. Trường hợp này có chỉ định truyền máu. Các trường hợp thiếu máu cần truyền máu cũng được báo cáo cho thấy bao gồm nhiều trường hợp bệnh nhân điều trị với Linezolid trong quãng thời gian dài hơn 28 ngày.

Các ca bệnh thiếu máu hồng cầu mất chức năng tổng hợp hem, được báo cáo với thời điểm khởi phát đã được biết, hầu hết các bệnh nhân này đã được chỉ định Linezolid nhiều hơn 28 ngày. Hầu như các bệnh nhân trên đều hồi phục hoàn toàn hay một phần sau khi ngưng thuốc dù cho có hay không có điều trị thiếu máu.

Tiêu chảy liên quan kháng sinh và viêm ruột:

Viêm ruột màng giả đã được báo cáo với hầu hết kháng sinh trong đó có Linezolid. Do đó, cần phải cân nhắc việc chẩn đoán ở nhóm bệnh nhân bị tiêu chảy do việc sử dùng bất kỳ loại kháng sinh nào. Trong trường hợp nghi ngờ hoặc xác định là có viêm ruột liên quan kháng sinh, cần đảm bảo ngưng dùng Linezolid. Tiêu chảy liên quan dùng kháng sinh và viêm ruột liên quan dùng kháng sinh bao gồm viêm ruột màng giả và tiêu chảy do Clostridium difficile, đã được báo cáo có sự liên quan giữa việc có dùng gần như hầu hết các loại kháng sinh bao gồm Linezolid và mức độ từ tiêu chảy nặng đến tử vong do viêm ruột. Như vậy, điều quan trọng là cân nhắc chẩn đoán ở các bệnh nhân đang tiến triển tình trạng tiêu chảy nặng sau khi dùng Linezolid. Nếu chẩn đoán tiêu chảy do kháng sinh và viêm ruột do kháng sinh được khẳng định hoặc nghi ngờ, phải ngưng ngay các liệu pháp kháng sinh đang dùng và phải ngay lập tức sử dụng các phương thức trị liệu thay thế. Các thuốc ức chế nhu động ruột có chống chỉ định trong trường hợp này.

Nhiễm toan lactic:

Nhiễm toan lactic được báo cáo khi sử dụng Linezolid, các bệnh nhân có triệu chứng bao gồm nôn ói liên tục, đau bụng, mức bicarbonat thấp hoặc tình trạng tăng thông khí liên quan sử dụng Linezolid nên được lập tức hỗ trợ từ bác sĩ điều trị. Nếu tình trạng nhiễm toan lactic vẫn còn, việc tiếp tục sử dụng Linezolid nên được cân nhắc kỹ các yếu tố nguy cơ tiềm tàng.

Mất chức năng của ty thể:

Linezolid ức chế việc tổng hợp protein của ty thể. Dẫn đến các vấn đề như nhiễm toan lactic, thiếu máu và bệnh lý bệnh lý thần kinh (thị giác và ngoại biên). Các tình trạng này xảy ra càng nhiều hơn nếu như bệnh nhân dùng thuốc trên 28 ngày.

Hội chứng serotonine:

Có các báo cáo ngẫu nhiên về hội chứng serotonin liên quan tới việc đồng thời sử dụng Linezolid và các tác nhân Serotonergic, bao gồm các thuốc chống trầm cảm như ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin. Sử dụng cùng lúc 2 loại thuốc kể trên, vì thế là chống chỉ định ngoại trừ việc làm này là cấp thiết. Trong các trường hợp này, bệnh nhân nên được giám sát chặt chẽ các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng serotonin ví dụ như mắt chức năng học và hiểu, tăng phản xạ, tăng thân nhiệt và mất phối hợp vận động. Nếu ghi nhận các triệu chứng vừa nếu, bác sĩ điều trị cần cân nhắc việc ngưng sử dụng một trong hai hoặc cả hai loại dược phẩm này. Nếu ngưng sử dụng tác nhân serotonergic thì các triệu chứng của hội chứng có thể dừng lại.

Bệnh lý thần kinh ngoại biên và thị giác:

Các bệnh lý thần kinh ngoại biên cũng như thần kinh thị giác và viêm thần kinh thị giác đôi khi tiến triển đến mù lòa, được báo cáo trên những bệnh nhân đang sử dụng Linezolid, các báo cáo này chủ yếu thấy ở các bệnh nhân được chỉ định điều trị thời gian dài hơn 28 ngày.

Tất cả các bệnh nhân nên được khuyến cáo là cho biết tình trạng khiếm khuyết thị giác, ví dụ như thay đổi thị lực, thay đổi màu thị trường, nhìn mờ hoặc giảm thị trường. Trong các tình huống này, đánh giá nhanh chóng ban đầu bởi các chuyển gia nhãn khoa cần được tiến hành. Nếu bệnh nhân sử dụng Linezolid trong thời gian dài hơn 28 ngày, thị lực của họ cần được theo dõi thường xuyên.

Nếu bệnh lý thần kinh ngoại biên và thần kinh thị giác xảy ra, việc ngưng thuốc nên được cân nhắc để tránh các nguy cơ tiềm tàng.

Có thể xuất hiện việc gia tăng nguy cơ của bệnh thần kinh ngoại biên khi bệnh nhân hiện đang sử dụng Linezolid hoặc nhóm bệnh nhân gần đây có dùng thuốc kháng lao.

Đông kinh:

Chứng động kinh được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị với Linezolid. Hầu hết các trường hợp, tiền căn co giật hoặc có yếu tố nguy cơ co giật được khai báo. Các bệnh nhân cần phải thông báo với bác sĩ điều trị nếu như họ có tiền căn co giật, động kinh.

Ức chế men monoamin oxidase:

Linezolid là chất ức chế đảo ngược không chọn lọc của men monoamin oxidase, tuy nhiên trong liều dùng để diệt khuẩn, nó không cho ảnh hưởng kháng trầm cảm. Một số dữ liệu cho thấy từ việc tương tác thuốc và mức độ an toàn của Linezolid khi dùng cho nhóm bệnh nhân với tình trạng bệnh nền hoặc đang dùng các phương pháp điều trị mà có thể đưa họ đến các nguy cơ của việc ức chế MAO. Do đó, Linezolid không được khuyến cáo sử dụng trong các tình huống vừa nếu, trừ khi có sự giám sát chặt chẽ những người dễ thụ cảm.

Sử dụng với thực phẩm giàu Tyramin:

Các bệnh nhân nên được khuyên tránh tiêu thụ một lượng lớn thực phẩm giàu tyramin.

Bởi nhiễm khuẩn:

Sử dụng kháng sinh có thể thỉnh thoảng đưa đến việc tăng quá mức chủng vi khuẩn kháng thuốc. Ví dụ như, khoảng 3% bệnh nhân được điều trị Linezolid có tình trạng nhiễm candidas trong quá trình điều trị. Có khả năng tình trạng bội nhiễm xảy ra trong quá trình điều trị, các biện pháp điều trị dự phòng nên được đưa ra.

Dân số đặc biệt:

Linezolid nên được sử dụng với lưu ý đặc biệt cho nhóm bệnh nhân suy thận mức độ nặng và chỉ khi các lợi ích trên lâm sàng được chứng mình là có nhiễu hơn là các nguy cơ trên lý thuyết. Khuyến cáo rằng Linezolid nên được chỉ định cho bệnh nhân suy gan nặng chỉ khi nào lợi ích lâm sàng vượt qua nguy cơ trên lý thuyết.

Suy giảm chức năng sinh dục:

Linezolid gây ra tình trạng giảm khả năng thụ tinh và gây ra sự bất thường trong hình dạng của tinh trùng của chuột đực phơi nhiễm nồng độ xấp xỉ với liều dùng ở người, các ảnh hưởng lên hệ thống sinh dục nam thì chưa được nghiên cứu.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Tác dụng phụ của thuốc gây buồn ngủ hoặc triệu chứng giảm sút thị lực, vì thế nếu bị tác dụng phụ này thì bệnh nhân không nên lái xe và vận hành máy móc sau khi đã dùng thuốc Linezolid.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B3

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Linezolid không nên được dùng cho phụ nữ mang thai trừ khi thật sự cần thiết và đánh giá lợi ích lâm sàng vượt trội so với nguy cơ trên lý thuyết.

Thời kỳ cho con bú:

Linezolid và các dạng chuyển hóa của nó có thể truyền từ mẹ sang con qua sữa của người mẹ, do đó, việc bú mẹ cân được ngưng để tránh tình trạng truyền từ mẹ sang con.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Tác dụng phụ với tần suất xuất hiện những bệnh nhân này được chỉ định điều trị với liều khuyến cáo Linezolid trong thời gian 28 ngày.

Tác đụng phụ hay gặp nhất chính là tiêu chảy (8.4%), đau đầu (6.5%), buồn nôn (6.3%) và nôn mửa (4%).

Các tác dụngphụ liên quan đến dùng thuốc màdẫn đến việc ngưng trị liệu bao gồm: đau đầu, tiêu chảy, buồn nôn và nôn mửa. Khoảng 3% số bệnh nhân quyết định ngưng việc dùng thuốc do ảnh hưởng bởi các tác dụng phụ.

Hệ thống các cơ quan Thường Không thường Hiếm
Viêm nhiễm Nhiém candidas, nhiễm candidas ở miệng, âm đạo, nhiễm các loại nắm khác Viêm âm đạo Viêm ruột liên quan kháng sinh, bao gồm cả viêm ruột màng giả*
Rối loạn hệ máu và lympho Thiếu máu* Giảm bạch cầu*, giảm neutrophil, giảm tiểu cầu*, tăng bạch cầu ái toan Giảm 3 dòng tế bào máu
Rối loạn hệ miễn dịch
Rối loạn chuyển hoá và dinh dưỡng Hạ Natri máu
Rối loạn tâm thần Mất ngủ
Rối loạn hệ thần kinh Đau đầu, miệng vị kim loại, chóng mặt Co giật*, mất cảm giác, dị cảm
Rối loạn thị giác Nhìn mờ Thay đổi do giảm thị trường
Rối loạn tiền đình Ù tai
Rối loạn tim mạch Loạn nhịp (nhịp nhanh)
Rối loạn mạch máu Tăng huyết áp  Thiếu máu cục bộ thoáng qua, viêm tĩnh mạch, viêm tặc tĩnh mạch do huyết khối
Rối loạn tiêu hoá tiêu chảy, buồn nôn, nôn mửa, đau cục bộ hoặc đau bụng cục bộ, táo bón, chứng khó tiêu viêm tụy, viêm dạ dày, đau bụng, khô miệng, viêm da liễu, phân lỏng, viêm miệng, mất màu lưỡi Răng mất màu
Rối loạn gan mật chức năng gan bất thường; tăng AST, ALT hoặc ALP tăng bilirubin toàn phần
Rối loạn da và mô dưới da ngứa mẩn đỏ Mề đay, viêm da, toát mồ hôi
Rối loạn chức năng và tổn thương thận tăng BUN suy thận, tăng creatinine, đa niệu
Rối loạn hệ sinh sản và vú Rối loạn tiền đình âm hộ
Rối loạn tổng quát sốt, đau khu trú Lạnh run, mệt mỏi, đau vùng tiêm chích, khát nhiều
Xét nghiệm cận lâm sàng Hoá học
Tăng LDH. kinase creatine, lipase, amylase hoặc không ăn kiêng glucose. Giảm tổng protein, albumin, natri hoặc canxi. Tăng hoặc giảm kali hoặc bicarbonate. Huyết học Tăng bạch cẩu trung tính hoặc bạch cầu ái toan. Giảm hemoglobin, hematocrit hoặc hồng cầu. Tăng hay giảm lượng tiểu cầu hoặc bạch cầu.
Hoá học

Tăng natri hoặc canxi. Giảm glucose không ăn kiêng. Tăng hoặc giảm clorua. Huyết học Tăng số tế bào võng mạc. Giảm bạch cầu trung tính.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Ức chế monoamin oxidase:

Linezolid là chất ức chế đảo ngược không chọn lọc của men monoamin oxidase , tuy nhiên trong liều dùng để diệt khuẩn, nó không cho ảnh hưởng kháng trầm cảm . Một số dữ liệu cho thấy từ việc tương tác thuốc và mức độ an toàn của Linezolid khi dùng cho nhóm bệnh nhân với tình trạng bệnh nền hoặc đang dùng các phương pháp điều trị mà có thể đưa họ đến các nguy cơ của việc ức chế MAO. Do đó, Linezolid không được khuyến cáo sử dụng trong các tình huống vừa nếu, trừ khi có sự giám sát chặt chẽ những người dễ thụ cảm.

Nguy cơ tương tác thuốc tiềm tàng gây tăng huyết áp:

Ở những người có huyết áp bình thường, Linezolid làm gia tăng tình trạng tăng huyết áp do các thuốc khác như pseudoephedrin và phenylpropanolamin hydrochlorid. Sử dụng đồng thời Linezolid với 2 loại thuốc vừa nếu ra dẫn tới tình trạng gia tăng huyết áp tâm thu khoảng 30-40 mmHg, so với sử dụng đơn độc Linezolid làm tăng chỉ 11-15 mmHg, sử dụng đơn độc pseudoephedrin hoặc phenylpropanolamin chỉ gây tăng huyết áp 14-18 mmHg và tăng 8-11 mmHg đối với sử dụng giả dược. Khuyến cáo rằng liều dùng của những thuốc có tác dụng co mạch bao gồm các tác nhân dopaminergic nên được cẩn thận chuẩn độ để đạt được đáp ứng mong muốn khi dùng chung Linezolid.

Nguy cơ tương tác thuốc serotonergic:

Tương tác thuốc với dextromethorphan có hội chứng giống serotonin trong khi dùng Linezolid và dextromethorphan, tình trạng này phục hồi sau khi ngưng cả 2 loại thuốc.

Trong suốt quá trình sử dụng Linezolid và các tác nhân serotonergic, bao gồm cả kháng trầm cảm như SSRIs, các trường hợp có xuất hiện hội chứng serotonin đều được báo cáo. Như vậy, trong khi việc sử dụng cùng lúc 2 loại thuốc là chống chỉ định, thì việc quản lý bệnh nhân được điều trị với cả 2 loại thuốc ấy là điều cần thiết.

Dùng với thực phẩm giàu tyramin:

Không có đáp ứng đáng kể nào được quan sát thấy ở các đối tượng dùng cả Linezolid và ít hơn 100mg tyramin. Điều này cho thấy rằng chỉ cần tránh tiêu thụ lượng quá lớn thức ăn có hàm lượng tyramin cao (như phô mai gia, chiết xuất men, thức uống có cồn không chưng cất, đậu nành lên men, sốt đậu nành)

Các thuốc được chuyển hóa bởi cytochrome P450:

Linezolid không được cho rằng chúng được chuyển hóa bởi hệ thống men cytochrom P450 (CYP) và không ức chế bất kỳ các đồng phân của CYP một cách đáng kể. Tương tự, Linezolid không có làm giảm tác dụng của đồng enzym P450 ở chuột. Do đó, không có thuốc được chuyển hóa bởi CYP450 tương tác với Linezolid.

Warfarin:

Khi mà warfarin được thêm vào phương pháp trị liệu có Linezolid ở tình trạng ổn định, khoảng 10% giảm trong khoảng INR tối đa khi đồng thời sử dụng thì giảm 5% AUC của INR.

4.9 Quá liều và xử trí:

Không có thuốc giải độc khi quá liều.

Chưa có trường hợp sử dụng quá liều nào được báo cáo. Tuy nhiên, trong trường hợp quá liều xảy ra, cần thực hiện các biện pháp chăm sóc hỗ trợ cùng với duy trì lọc cầu thận. Không có thuốc giải độc đặc hiệu cho linezolid. Khoảng 30% liều linezolid được loại bỏ trong 3 giờ thẩm tách máu, nhưng không có số liệu cho việc loại bỏ linezolid bằng thẩm phân phúc mạc và lọc máu hấp phụ. Hai chất chuyển hóa chính của linezolid cũng bị loại bỏ bằng phương pháp thẩm tách máu

Dấu hiệu nhiễm độc ở chuột sau khi dùng 3000mg Linezolid/kg/ngày là giảm hoạt động và mất điều hòa. Trong khi ở chó sau khi dùng 2000mg/kg/ngày có dấu hiệu nôn mửa và rung giật cơ..

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Linezolid là một tác nhân kháng khuẩn tổng hợp thuộc về thế hệ mới của công nghệ kháng vi sinh, thế hệ oxazolidinon. Nó có hoạt tính chống vi khuẩn gram dương hiếu khí và các vi khuẩn kị khí. Linezolid ức chế chọn lọc các công đoạn tổng hợp protein thông qua một cơ chế đặc hiệu. Đặc biệt là chúng bám vào một vị trí trên ribosome của vi khuẩn (trên vị trí 23S của tiểu đơn vị 50S) và ngăn cản sự hình thành chức năng của phức hợp 70S, đây là nguyên liệu cần thiết trong quá trình dịch mã.

Hoạt tính hậu kháng sinh của Linezolid đối với Staphylococcus aureus xấp xỉ khoảng 2 giờ và 3,9 giờ đối với Streptococcus pneumonia.

Độ nhạy cảm:

Tỷ suất kháng thuốc mắc phải có thể khác nhau tùy vùng địa lý và thời gian cần cho quá trình chọn lọc các chủng loại vi khuẩn, cũng như các thông tin địa phương về việc kháng thuốc thì cần phải được cung cấp, cụ thể trong tình huống chữa trị các bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng.

Trong tình huống cần thiết, nên có lời khuyên của Bác sĩ khi tỷ suất kháng thuốc địa phương nghiêm trọng đến nỗi các bác sĩ cảm thấy nghi ngờ mỗi lần sử dụng thuốc kháng sinh để điều trị một loại nhiễm khuẩn nào đó.

Loại nhiễm khuẩn

Vi khuẩn nhạy cảm

Gram dương hiếu khí:

Enterococcus faecalis

Enterococcus faecium

Staphylococcus aureus*

Tụ cầu coagulase (-)

Streptococcus agalactiae *

Streptococcus pneumoniae

Streptococcus pyogenes*

Streptococci nhóm C

Streptococci nhóm G

Gram âm kỵ khí:

Clostridium perfrtngens

Peptostreptococcus anaerobius

Các loài Peptostreptococcus

Vi khuẩn kháng thuốc

Haemophilus influenzae

Moraxella catarrhalis

Các loài Neisseria

Enterobacteriaceae

Pseudomonas species

Kháng thuốc chéo:

Cơ chế tác dụng của Linezolid khác với các họ kháng sinh khác. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm về các chủng vi khuẩn trên lâm sàng (gồm cả staphylococci kháng methicillin, enterococci kháng vancomycin và streptococci kháng vừa penicillin và erythromycin) cho thấy rằng Linezolid thường có tác dụng đối với các vi khuẩn đã kháng một hoặc vài loại kháng sinh khác.

Kháng thuốc Linezolid có liên quan đến việc đột biến điểm trên 23S rRNA.

Theo tài liệu ghi chép, các kháng sinh khác khi sử dụng ở bệnh nhân khó chữa trị các bệnh nhiễm khuẩn và hay hoặc thời kì điều trị kéo dài, việc bất ngờ suy giảm sự nhạy cảm với kháng sinh được thấy ở Linezolid. Kháng thuốc Linezolid được báo cáo ở nhóm vi khuẩn enterococci, Staphylococcus aureus và staphylococci coagulase âm tính. Việc kháng thuốc này thường liên quan đến quá trình điều trị kéo dài và sự hiện diện của của các vật liệu nhân tạo hoặc các ổ apxe chưa được dẫn lưu. Khi có sự hiện diện của các vi khuẩn kháng thuốc trong bệnh viện, chiến lược kiểm soát nhiễm khuẩn là điều bức thiết cần được đề ra.

Cơ chế tác dụng:

Linezolid là một thuốc kháng sinh tổng hợp thuộc nhóm kháng sinh mới oxazolidinon. In vitro, thuốc có tác dụng trên các vi khuẩn hiếu khí Gram (+), một số vi khuẩn Gram (-) và vi khuẩn kỵ khí. Linezolid ức chế chọn lọc quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn theo một cơ chế duy nhất. Cụ thể, thuốc gắn vào một vị trí trên ribosom của vi khuẩn (23s của tiểu đơn vị 50S) và ngăn cản sự hình thành phức hợp khơi đầu 70S chức năng, là thành phần quan trọng trong quá trình dịch mã.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Linezolid chủ yếu cấu tạo chứa (s)-Linezolid, đây là hoạt chất hoạt hóa sinh học và được chuyển hóa để tạo thành dạng bất hoạt.

Hấp thu: Linezolid được hấp thu nhanh chóng và toàn diện sau khi dùng đường uống. Nồng độ trong máu đạt tối đa sau 2 giờ uống thuốc. Độ sinh khả dụng tuyệt đối của Linezolid khi dùng đường uống (nghiên cứu chéo dùng đường uống và đường tiêm) là hoàn toàn (xấp xỉ 100%). Việc hấp thu không bị ảnh hưởng nhiều bởi thức ăn, bên cạnh đó, khi dùng viên bao phim thì mức độ hấp thu vẫn tương đương nhau.

Cmax và Cmin của Linezolid trong huyết tương, ở tình trạng ổn định sau khi uống 2 lần/ ngày,

Phân bố: Ở người lớn khỏe mạnh, thể tích phân bố ở trạng thái ổn định khoảng 40 – 50 lít – tương đương với toàn bộ lượng nước trong cơ thể. Lượng thuốc gắn vào protein huyết tương khoảng 31% và không phụ thuộc nồng độ. Tỷ lệ Linezolid trong nước bọt và mồ hôi so với trong huyết tương được xác định thứ tự là 1,2:1,0 và 0,55:1,0. Tỷ lệ thuốc trong dịch biểu mô và trong tế bào phế nang là 4,5:1,0 và 0,15:1,0, được đo khi Cmax trong tình trạng ổn định.

Trong một nghiên cứu nhỏ về nhóm đối tượng có shunt não thất-phúc mạc (shunt V-P) và màng não không viêm, tỷ lệ Linezolid trong dịch não tủy so với trong huyết tương tại Cmax là 0,7:1,0 sau khi dùng đa liều Linezolid.

Chuyển hóa sinh học:

Linezolid chủ yếu được chuyển hóa bằng cách oxy hóa vòng morpholin đưa đến kết quả là hình thành 2 dạng chất bất hoạt có vòng acid carboxylic mở; dạng acid amino ethoxyacetic (PNU-142300) và dạng hydroxyethyl glycin (PNU-142586). Trong đó hydroxyethyl glycin (PNU-142586) là dạng chuyển hóa chiếm đa số trên cơ thể người và người người ta cho rằng dạng chuyển hóa này được hình thành từ quá trình không cần enzym, dạng chuyển hóa còn lại thì ít hơn.

Đào thải: Ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường hoặc suy thận mức độ trung bình, Linezolid được đào thải chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng PNU-142586 (40%), thuốc ban đầu (30%) và PNU-142300 (10%). Thực tế, trong phân không tìm thấy thuốc gốc trong khi đó xấp xỉ 6% và 3% mỗi liều tìm thấy tuần tự dưới dạng PNU-142586 và PNU-142300. Quá trình đào thải bán phần của Linezolid đạt trung bình khoảng 5-7 giờ.

Độ thanh thải không qua thận ước tính khoảng 65% của toàn bộ quá trình thanh thải thuốc Linezolid. Có một tỷ lệ nhỏ không tuyến tính trong quá trình thanh thải được quan sát thấy khi tăng liều Linezolid. Điều này là do quá trình thanh thải qua thận và không qua thận giảm đi khi nồng độ Linezolid tăng lên cao. Tuy nhiên, sự khác biệt không quá lớn.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Methylparaben…0,75 mg, Propylparaben…0,075 mg

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM