Thông tin cơ bản về dược liệu, vị thuốc Kim tiền thảo
Dưới đây là nội dung cơ bản về dược liệu, vị thuốc Kim tiền thảo (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên dược liệu/vị thuốc:
Tên thường gọi: Kim tiền thảo.
Tên dân gian, tên khác: Rau má lông, Liên tiền thảo, Rau má thìa, đồng tiền lông, vẩy rồng, mắt trâu, Gold coin grass, Lysmachiae Herba, Gilbweiderich (Đức), Jin Qian Cao (Trung)…
Tên khoa học vị thuốc: Herba Desmodii styracifolii
Tên khoa học của nguồn gốc chế biến ra vị thuốc: Desmodium styracifolium Merr. (Desmodium capitatum (Burm.f.) DC.; Desmodium retroflexum (L.) DC.; Hedysarum styracifolium Osb., Uraria retroflexa (L.) Drake)
Họ: họ đậu hay còn gọi họ cánh bướm (Fabaceae)
Phân nhóm: Nhóm thuốc thẩm thấp lợi thủy.
Nhóm pháp lý, nguồn gốc: Dược liệu trong nước (Nam).
Bộ phận dùng: Toàn bộ cây phần trên mặt đất.
2. Mô tả – Thành phần hóa học – Dạng bào chế:
2.1. Mô tả dược liệu/vị thuốc:
Dược liệu Kim tiền thảo là lá và thân cây kim tiền thảo, có thân hình trụ, cắt ngắn thành đoạn dài 3 cm đến 5 cm, đường kính khoảng 0,2 cm đến 0,3 cm, phủ đầy lông mềm, ngắn, màu vàng. Chất hơi giòn, mặt bẻ lởm chởm. Lá đơn hay kép mọc so le, lá kép gồm 3 lá chét, tròn hoặc thuôn, đường kính 2 cm đến 4 cm, đỉnh tròn, tù, gốc hình tim hoặc tù, mép nguyên, mặt trên màu lục hơi vàng hoặc màu lục xám, nhẵn; mặt dưới hơi trắng, có lông. Gân hình lông chim, cuống dài 1 cm đến 2 cm, hai lá kèm hình mũi mác dài khoảng 0,8 cm. Mùi thơm.
Hình ảnh tham khảo:

Dược liệu Kim tiền thảo (Herba Desmodii styracifolii).
2.2. Thành phần hóa học và hàm lượng:
Toàn cây có saponin 3,1 %, ngoài ra còn có flavonoid 0,46 % (chủ yếu là các C-glycosid: Kaempferol, quercetin, astragalin, vicenin 1, vicenin 2, vicenin 3, schaftoside, isoschaftoside, vitexin, isovitexin …), Terpenoids (Lupeol, soyasaponin I, soyasapogenol B, soyasapogenol E, …); Alkaloids (Desmodimine, desmodilactone,…). Ngoài ra còn có: các hợp chất Steroides, Phenolic acid, Polysaccharid, Tinh dầu dễ bay hơi, có mùi của coumarin. Kim tiền thảo thu thập được ở Việt Nam có fIavonoid 0,46 % và saponin 3,1 %.
Một số hoạt chất đã được phân lập và có tiềm năng ứng dụng trong y học như: Schaftoside, Neoschaftoside, Isoschaftoside …

Cấu trúc hóa học một số hoạt chất có trong Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium Merr).
2.3. Các dạng bào chế hoặc thuốc dạng thành phẩm:
Từ lâu trong y học cổ truyền, Kim tiền thảo đã được dùng làm một vị thuốc chủ lực có tác dụng chữa bệnh sỏi thận, sỏi mật rất tốt. Thường được phối hợp trong các bài thuốc sắc như bài thuốc chữa sỏi thận, sỏi bàng quang (Kim tiền thảo 40 g, Mã đề 20 g, Tỳ giải 20 g, Trạch tả 12 g, Uất kim 12 g, Ngưu tất 12g, Kê nội kim 8 g sắc uống); bài thuốc chữa viêm thận, phù, viêm gan, viêm túi mật (Kim tiền thảo 40 g; Mộc thông, Ngưu tất mỗi vị 20 g; Dành dành, Chút chít, mỗi vị 10 g, sắc uống); bài thuốc chữa sỏi đường mật (Kim tiền thảo 30g, chỉ xác (sao) 10 -15g, xuyên luyên tử 10g, hoàng tinh 10g, sinh đại hoàng 10g, Sắc uống)….
Trong y học hiện đại, Kim tiền thảo với tác dụng trị sỏi thận đã được các nhà khoa học phân tích chứng minh hiệu quả lâm sàng. Do đó hiện nay, trên thị trường có rất nhiều sản phẩm (Cả thuốc và thực phẩm chức năng) trị sỏi thận từ dược liệu Kim tiền thảo, với các dạng bào chế dễ sử dụng như viên nén bao phim và bao đường. Thuốc dạng thành phẩm có chứa Kim tiền thảo có thể kể đến một số loại sau: Ất can ninh, Bài thạch Danapha, Ceteco Kim tiền thảo, Desmodin Kim tiền thảo, Kim tiền thảo bài thạch, Kim tiền thảo- F, Kim tiền thảo MKP, Kim tiền thảo râu mèo, Kim tiền thảo râu ngô, Kim tiền thảo TW3, Kim Tiền Thảo Vinacare, PQA Tán sỏi, Sirnakarang, Sỏi thận đông dược việt, Soigama, Sotinin, Thạch lâm thông Thái Dương, Thuốc Litinki, Thuốc trị sỏi mật Solvella, Tiêu độc nhuận gan mật TW3, Tiêu sỏi Khải hà, Urilith, Urimaxi…..
Hình ảnh sản phẩm tham khảo:
| KIM TIỀN THẢO OPC (THẠCH LÂM THÔNG) | ||
| Mỗi viên bao đường có chứa: | ||
| Cao đặc Kim tiền thảo | …………………………. | 120mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

Thuốc trị sỏi thận Kim tiền thảo (Shilintong) của công ty dược phẩm OPC có chứa thành phần Kim tiền thảo.
3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Công dụng, chủ trị:
Kim tiền thảo thường được dùng đơn độc hoặc dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác trong các trường hợp sau:
Hỗ trợ điều trị sỏi niệu đạo, sỏi bàng quang, sỏi túi mật.
Có tác dụng lợi tiểu, hỗ trợ chữa phù thũng, cao huyết áp và các bệnh viêm đường tiết niệu.
Hỗ trợ điều trị viêm thận, phù, viêm gan, viêm túi mật.
Thông tin bổ sung:
Kim tiền thảo sống được dùng chữa cảm, ho mất tiếng, viêm họng, mụn nhọt, đau dạ dày, ỉa chảy, ngộ độc.
Kim tiền thảo chích có tác dụng bổ, chữa tỳ vị hư nhược, ỉa lỏng, thân thể mệt mỏi, kém ăn.
Rễ Kim tiền thảo còn có tác dụng nhuận tràng nhẹ, được dùng chữa các chứng bệnh xuất tiết và các chứng kích thích niêm mạc các cơ quan đường tiết niệu. Trong y học dân gian Ấn Độ, ngoài những dạng thông thường, Kim tiền thảo còn được dùng nhai với là trầu không, nhào với bơ sữa trâu hoặc mật ong để đắp ngoài chữa vết chém, vết thương.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng dạng sắc: Cần sắc theo hướng dẫn trước khi uống. Trước khi sử dụng cần rửa sạch lá và đun sôi khoảng 15 – 20 phút. Nên uống kim tiền thảo trong ngày, không nên để qua đêm.
Dạng bột, tán nhỏ làm hoàn: tán bột, thường phối hợp với các dược liệu khác, dùng trực tiếp hoặc trộn với nước hoặc mật ong rồi nặn thành viên bằng hạt đậu xanh.
Liều dùng:
Liều khuyến cáo dùng hàng ngày: 15-30 gram dưới dạng thuốc sắc, liều tối đa 60 gam.
Kim tiền thảo chích: Ngày dùng 4 – 20g dưới dạng bột, thuốc hãm, nước sắc và cao mềm.
Dạng bào chế thành phẩm: Dùng theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất.
4.3. Chống chỉ định:
Mẫn cảm với thành phần hoạt chất của vị thuốc/dược liệu.
Phụ nữ có thai không nên dùng.
4.4 Thận trọng, cảnh báo:
Để lợi tiểu, nên kết hợp kim tiền thảo với một số loại thảo dược như râu mèo, râu ngô… để tăng tiến độ đào thải axít uric ra bằng đường nước tiểu.
Đối với những người bị bệnh mãn tính nặng (đái tháo đường, đái tháo nhạt, cao huyết áp, thiếu máu, suy tim, suy thận) khi dùng thuốc phải theo hướng dẫn của bác sĩ.
Người tỳ vị hư hàn cần thận trọng khi dùng. Không nên dùng thuốc khi đang bị tiêu chảy, hoặc đang trong đợt đau dạ dày. Người có tiền sử đau dạ dày nên uống lúc no.
Lưu ý với những người bị sỏi oxalate, cần tránh ăn các chất có chứa acide oxaliqui, calicum, rau muống, ca cao, sữa, trứng, tôm, cua, ốc, hến.
Lưu ý với những người bị sỏi phosphate và sỏi urate kiêng ăn các chất chocode, coca, cà phê, rượu, bia, tôm, cua,…
Lưu ý với những người bị sỏi cystin kiêng ăn các chất nhiều dầu mỡ, béo ngọt, cà phê, ca cao.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:
Không ảnh hưởng.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Thời kỳ mang thai:
Chưa có nghiên cứu nào trên phụ nữ mang thai. Tránh dùng cho phụ nữ mang thai.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa có nghiên cứu nào trên phụ nữ cho con bú. Tránh dùng cho phụ nữ cho con bú.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Chưa ghi nhận được báo cáo về phản ứng có hại của thuốc.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Trong thời gian được điều trị, nếu nhận thấy có bất cứ tác dụng phụ nào xấu xảy ra hoặc các triệu chứng bệnh vẫn tiếp tục tăng nặng thì nên ngưng dùng ngay và tìm kiếm phương pháp chữa trị khác phù hợp hơn.
4.8 Tương tác, tương kỵ:
Do kim tiền thảo có tác dụng lợi tiểu nên thận trọng khi dùng chung thuốc lợi tiểu cho người bệnh.
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
4.9 Quá liều và độc tính:
Chưa có nghiên cứu quá liều trên người.
5. Tính vị, quy kinh, tác dụng dược lý, cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Tính vị – Quy kinh – Công năng:
Tính vị: Kim tiền thảo có vị ngọt, tính mát.
Quy kinh: quy về các kinh: Can, thận, bàng quang
Công năng: có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, trừ đờm, thông lâm.
5.2. Tác dụng dược lý:
Tác dụng lợi tiểu: Theo các nghiên cứu của y học hiện đại, Kim tiền thảo có tác dụng lợi tiểu, lợi mật, kháng viêm, giãn mạch, hạ huyết áp. Kim tiền thảo làm tăng khả năng bài tiết dịch mật của các tế bào gan, làm cho nước tiểu có tính acid (do đó làm tan sỏi). Nhờ vào tác dụng lợi tiểu, những tiểu phân calci oxalat, calci phosphat bị lôi kéo theo dòng nước, nên làm giảm sự ngưng tụ và ngăn chặn sự gia tăng kích thước các loại sỏi hình thành trong cầu thận cũng như trong ống thận. Đồng thời nhờ vào đặc tính kháng viêm nên giảm viêm nhiễm đường tiết niệu, giảm phù nề của niệu quản, tạo điều kiện thuận lợi tống các loại sỏi ra ngoài, và làm giảm các triệu chứng đau buốt khi đi tiểu, hay đi tiểu nhiều lần, phù thũng.
Theo kết quả nghiên cứu lâm sàng, Kim tiền thảo có hiệu quả điều trị tốt đối với sỏi calci oxalat. Thời gian điều trị phụ thuộc vào kích thước và vị trí của sỏi trong đường tiết niệu. Nghiên cứu đã chỉ ra tác dụng ức chế của triterpenoid cây kim tiền thảo đối với sự hình thành sỏi thận canxi oxalate ở chuột. Nồng độ canxi (Ca) huyết thanh ở nhóm dùng kim tiền thảo tăng đáng kể đồng thời sự bài tiết Ca qua nước tiểu giảm rõ rệt. Sự bài tiết citrate qua nước tiểu (một yếu tố ngăn ngừa sự hình thành sỏi), cũng tăng đáng kể ở nhóm dùng kim tiền thào. Ngoài ra sự gia tăng lượng nước tiểu ở nhóm dùng kim tiền thảo lớn hơn đáng kể so với nhóm đối chứng, tốc độ thanh thải creatinine 24 giờ (Clcr) thấp hơn nhóm đối chứng. Điều này cho thấy kim tiền thảo ức chế sự hình thành sỏi Canxi oxalate ở thận chuột bằng cách tăng lượng nước tiểu, giảm bài tiết canxi và tăng bài tiết citrate qua nước tiểu.
Cơ chế một số tác dụng chính:
Kim tiền thảo giúp lợi tiểu, làm ức chế sự gia tăng kích thước của viên sỏi, đồng thời bào mòn sỏi theo cơ chế “nước chảy đá mòn”. Nhờ tác dụng lợi tiểu mà giúp làm giảm nồng độ canxi trong nước tiểu và tăng bài tiết citrat niệu, điều này giúp canxi được đào thải ra bên ngoài dễ dàng mà không thể lắng đọng tạo thành tinh thể vì chưa đạt đến nồng độ bão hòa, tăng đào thải oxalat từ đó giảm hình hình thành canxi oxalat, nghĩa là giảm hình thành sỏi thận.
Schaftoside trong Kim tiền thảo có hoạt tính chống oxy hóa, nó cũng có thể ức chế phospholipase, lipoxygenase và cyclooxygenase COX , là các loại enzyme gây viêm. Trong khi đó Isoschaftoside, Neoschaftoside có hoạt tính chống ung thư và chống oxy hóa.
5.3. Dược động học:
Chưa có nghiên cứu.
5.4. Các nghiên cứu lâm sàng và tiền lâm sàng:
(1) Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Viện dược liệu):
Trong số các saponin triterpenoid tồn tại trong kim tiền thảo, chất soyasaponin I đã được chứng minh có tác dụng ức chế sự hình thành sỏi Ca oxalat ở thận. Cao kim tiền thảo thí nghiệm trên chuôt cống trắng có tác dụng ức chế sự hình thành sỏi calci oxalat ở thận do polysaccharide ức chế sự tăng trưởng của Ca oxalat monohydrat đồng thời làm tăng lượng bào tiết nước tiểu. Đối với gan mật, kim tiền thảo có tác dụng tăng cường sự phân tiết dịch mát.
Đối với hệ tim mạch, dung dịch chế từ kim tiền thảo trên chó gây mê, tiêm tĩnh mạch với liều 1,6ml/kg (tương đương 8g/8kg) làm tăng lưu lượng mạch vành 197%, hạ huyết áp khoảng 30%, lmaf tim đạp chậm, đồng thời giảm mức tiêu thụ oxygen của cơ tim. Kim tiền thảo có tác dụng đối kháng với các triệu chứng do pituitrin gây nên lưu lượng mạch vành giảm , thiếu máu cơ tim thể hiện trên điện tâm đồ và rối loạn nhịp tim. Trên bản tim cô lập chuột lang, kim tiền thảo có tác dụng tăng sức co bóp.
Dạng chiết nước của kim tiền thảo thí nghiệm trên chuột cống trắng có tác dụng hạ huyết áp thông qua sự kích thích các bộ phận cảm nhận cholinergic và sự phong bế các bộ phận cảm nhận adrenergic. Dạng chiết còn đối kháng với tác dụng gây co bóp giải động mạch chủ cô lập do methoxamin gây nên. Thành phần flavonoid của kim tiền thảo cũng có tác dụng hạ huyết áp
(2) Nghiên cứu khác:
Trong y học phương đông, Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium (Osb.) Merr.) được sử dụng rộng rãi để trị sỏi thận với rất ít tác dụng phụ. Thí nghiệm của Jun Mi, Jianmin Duan, Jun Zhang, Jianzhong Lu, Hanzhang Wang và Zhiping Wang đã cho thấy khả năng chống sự hình thành sỏi Calci oxalat của dịch chiết nước Kim tiền thảo. Chuột đực Wistar bị gây sỏi thận bằng cách cho uống dung dịch amoni oxalat 5 %. Sau 1 tuần, chuột được cho uống các liều từ thấp, trung bình đến cao (275, 550 và 1100 mg/kg) dịch chiết nước Kim tiền thảo trong 3 tuần. Kết quả cho thấy, ở liều trung bình và cao, dịch chiết nước Kim tiền thảo có hiệu quả ngăn ngừa sự tạo thành sỏi Calci oxalat thông qua cơ chế làm giảm Calci niệu và tăng bài tiết Citrat niệu, lợi tiểu và tác dụng chống oxy hóa.
Trong số các saponin triterpenic tồn tại trong Kim tiền thảo, chất soyasaponin I đã được chứng minh có tác dụng ức chế sự hình thành sỏi Ca oxalat ở thận (Hirayma H. và cộng sự 1993; CA 119: 695f; PROSEA 12(1), 1999). Cao Kim tiền thảo thí nghiệm trên chuột cống trắng có tác dụng ức chế sự hình thành sỏi calci oxalat ở thận do polysaccharid ức chế sự tăng trưởng của Ca oxalalat monohydrat (Li Huizhi và cộng sự, 1992; CA 119: 699h) đồng thời làm tăng lượng bài tiết nước tiểu. Đối với gan mật, Kim tiền thảo có tác dụng tăng cường sự phân tiết dịch mật.
Tác dụng hạ huyết áp: Nghiên cứu in vivo chỉ ra rằng, dịch chiết nước Kim tiền thảo có tác dụng hạ huyết áp trên chuột thử nghiệm. Tác dụng này được diễn ra theo 2 cơ chế: Kích thích thụ thể cholinergic, ức chế hạch thần kinh thực vật và thụ thể α – adrenergic. Tác dụng theo cơ chế 1 hoặc 2 tùy thuộc vào liều sử dụng. Với liều sử dụng 300 mg/kg, tác dụng ưu thế theo cơ chế 1, với liều 100 mg/kg tác dụng ưu thế theo cơ chế 2. Nghiên cứu invitro còn cho thấy, dịch chiết nước Kim tiền thảo còn có tác dụng đối kháng tác dụng gây co bóp động mạch chủ gây bởi methoxamin.
Đối với hệ tim mạch, dung dịch chế từ Kim tiền thảo trên chó gây mê, tiêm tĩnh mạch với liều 1,6ml/kg (tương đương 8g/kg) làm tăng lưu lượng mạch vành 197%, hạ huyết áp khoảng 30%, làm tim đập chậm, đồng thời giảm mức tiêu thụ oxygen của cơ tim. Kim tiền thảo có tác dụng đối kháng với các triệu chứng do pituitrin gây nên lưu lượng mạch vành giảm, thiếu máu cơ tim thể hiện trên điện tâm đồ và rối loạn nhịp tim. Trên tiêu bản tim cô lập chuột lang, Kim tiền thảo có tác dụng tăng sức co bóp.
Tác dụng ức chế alcohol dehydrogenase (ADH): Liangliang Liu, Miao Chen và Xiaoqing CHEN đã tiến hành nghiên cứu về tác dụng ức chế của dịch chiết Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium (Osb.) Merr.) đối với enzym alcohol dehydrogenase, enzym đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa ethanol, methanol và ethylen glycol. Sử dụng phương pháp ly tâm siêu lọc, kết hợp với HPLC – MS. Ở phân đoạn ethyl acetat, thí nghiệm đã xác định được 2 chất có tác dụng lên enzym ADH là formononetin và aromadendrin. Nồng độ ức chế 50 % (IC50) của formonetin và aromandendrin lên enzym ADH lần lượt là 70,8 và 84,7 µg/ml tương ứng với khả năng liên kết với enzym là 90 % và 86,5 %.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Đặc điểm, nguồn gốc, phân bố dược liệu, vị thuốc:
Đặc điểm nguồn gốc:
Kim tiền thảo thuộc loại thân thảo, mọc bò, sau đứng thẳng, cao 0,3-0,5m. Ngọn non dẹt, có khía và lông tơ trắng. Lá mọc so le, gồm 1 (đa số) hoặc 3 lá chét hình tròn, dài 1,5 – 3,4 cm, rộng 2 – 3,5 cm, gốc bằng hoặc hơi hình tim, đầu tù hoặc hơi lõm, mặt trên màu lục xám nhạt, có gân rất rõ, mặt dưới phủ lông màu trắng bạc, mềm như nhung; lá kèm có lông, có khía; cuống lá dài 1 – 2,5 cm, có lông.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu ngọn thành chùm ngắn hơn lá; lá bắc sớm rụng; hoa màu hồng; đài 4 răng đều, có lông ngắn; tràng có cánh cờ hình bầu dục, các cánh bên thuôn, cánh thìa cong có tai; nhị 2 bó; bầu hơi có lông. Quả đậu hơi cong; có 3 đốt.
Phân bố:
Trên thế giới, Kim tiền thảo phân bố ở các tỉnh phía nam Trung Quốc, Lào. Ở Việt Nam, cây thường gặp ở các tỉnh thuộc vùng núi thấp và trung du phía bắc, từ Nghệ An trở ra. Các tỉnh có nhiều Kim tiền thảo là Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Hà Tây, Hoà Bình…
Kim tiền thảo là cây ưa sáng, ưa ẩm nhưng cũng có thể hơi chịu được khô hạn. Cây thường mọc thành đám ở ven rừng, nhất là những nương rẫy mới bỏ hoang. Độ cao phân bố của cây thường dưới 600m. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, quả chín tự mở, để hạt thoát ra ngoài. Về mùa đông, cây có hiện tượng rụng lá hoặc tàn lụi. Cây con mọc từ hạt thường xuất hiện vào tháng 4 hoặc đầu tháng 5.

Cây Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium Merr).
6.2. Thu hái – Sơ chế:
Phần trên mặt đất thu hái vào mùa hạ, thu do là lúc cây có nhiều lá và hoa.
Sơ chế: Rửa sạch dược liệu, loại tạp chất, cắt đoạn để ráo nước , phơi hoặc sấy khô.
6.3. Bảo quản:
Không bảo quản ở nhiệt độ trên 30°C.
6.4. Thông tin khác:
CHÚ Ý KIM TIỀN THẢO DỄ NHẦM LẪN VỚI CÁC CÂY SAU ĐÂY:
Một số cây có thể nhầm lẫn với Kim tiền thảo do hình dáng cây và cùng tên gọi:
(1) Rau má lông: Ở Việt Nam cũng có một loài cùng tên và cùng tác dụng được gọi là Rau má lông (Tên khác: Liên tiền thảo, Rau má thìa, Kim tiền thảo) có tên khoa học là Glechoma hederacea L hay Glechoma brevituba Kupr. thuộc họ Lamiaceae (Bạc hà). Rau má lông thuộc loại cây thảo đặc biệt ưa ẩm, hơi chịu bóng, thường mọc thành đám ở gần bờ suối, ven rừng ẩm, nhất là loại hình rừng núi đá vôi, hoặc những nơi đất trũng trong thung lũng. Rau má lông có khả năng đẻ nhánh và bò lan nhanh trên mặt đất. Cây ra hoa quả nhiều; khi quả già tự mở để hạt thoát ra ngoài. Cây trồng được bằng các đoạn thân, cành.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS.TS. Đỗ Tất Lợi (2004).
Theo Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam của Viện dược liệu (Tái bản lần 1).
Theo Dược thư Quốc Gia Việt Nam.
Nguồn tổng hợp khác.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM