1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Human Papillomavirus Vaccine (HPV Vaccine)
Phân loại: Vaccines, Huyết thanh và Globulin miễn dịch.
Nhóm pháp lý: Vắc-xin/Sinh phẩm y tế
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J07BM02.
Brand name:
Generic : Human Papillomavirus Vaccine (HPV Vaccine), Gardasil, Cervarix.
2. Dạng bào chế Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Huyền dịch tiêm HPV Vaccine : Mỗi liều 0.5 mL: Protein L1 HPV týp 16 20mcg, protein L1 HPV týp 18 20mcg, chất bổ trợ AS04.
Huyền dịch tiêm : Mỗi liều 0.5 mL: Protein L1 HPV tuýp 6: 20mcg, Protein L1 HPV tuýp 11: 40mcg, Protein L1 HPV tuýp 16: 40mcg, Protein L1 HPV tuýp 18: 20mcg
Thuốc tham khảo:
| CERVARIX | ||
| Mỗi liều 0.5 mL có chứa: | ||
| Protein L1 HPV tuýp 16 | …………………………. | 20 mcg |
| Protein L1 HPV tuýp 18 | 20 mcg | |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
HPV Vaccine được chỉ định dùng cho nữ giới từ 10 tuổi đến 25 tuổi để phòng ngừa ung thư cổ tử cung (ung thư tế bào vảy và ung thư biểu mô tuyến) bằng cách bảo vệ chống lại nhiễm mới và nhiễm dai dẳng, các bất thường về tế bào bao gồm các tế bào vảy không điển hình (ASC-US) được xác định là có ý nghĩa, khối u nội biểu mô cổ tử cung (CIN), CIN1 và tổn thương tiền ung thư (CIN 2 và CIN 3) gây ra bởi virus Papilloma type 16 và 18 gây ung thư ở người (HPV)
Thêm vào đó, HPV Vaccine được đánh giá là có hiệu quả bảo vệ chống lại các bệnh nhiễm trùng dai dẳng gây ra bởi HPV các tuýp gây ung thư khác ngoài tuýp HPV-16 và HPV-18.
4.2. Liều dùng Cách dùng:
Cách dùng : Dùng HPV Vaccine tiêm bắp vào vùng cơ delta..
Liều dùng:
Liệu trình tiêm chủng cơ bản bao gồm 3 mũi.
Liệu trình tiêm chủng được khuyến cáo là 0, 1 và 6 tháng. Nếu cần thiết phải thay đổi lịch tiêm chủng, mũi thứ 2 có thể được tiêm vào thời điểm từ 1 đến 2,5 tháng sau mũi thứ nhất và mũi thứ 3 tiêm vào thời điểm từ 5 đến 9 tháng sau mũi thứ nhất. Hiện chưa cần thiết phải tiêm mũi nhắc lại.
4.3. Chống chỉ định:
Không tiêm HPV Vaccine cho các đối tượng quá mẫn với bất kỳ thành phần nào trong vaccine.
4.4 Thận trọng:
Thực hiện tiêm chủng theo thực hành lâm sàng tốt bằng cách hỏi tiền sử về sức khỏe (đặc biệt là các thông tin liên quan đến lần tiêm chủng trước đó và khả năng xuất hiện các tác dụng không mong muốn) và thăm khám lâm sàng.
Cũng như các vaccine dạng tiêm khác, nên có sẵn các các phương tiện theo dõi và điều trị thích hợp để phòng ngừa trường hợp phản vệ xuất hiện sau tiêm chủng, mặc dù hiếm gặp.
Có thể xuất hiện hiện tượng ngất xỉu sau hoặc thậm chí trước khi tiêm do phản ứng tâm lý đối với mũi tiêm. Điều quan trọng trong khi tiêm là nên chọn địa điểm thích hợp để tránh bị thương do ngất xỉu.
Cũng như các vaccine khác, nên trì hoãn tiêm vaccine HPV Vaccine ở những người đang sốt cao cấp tính. Tuy nhiên, khi có biểu hiện nhiễm khuẩn nhẹ như cảm cúm thì không cần phải trì hoãn tiêm chủng.
Không được tiêm HPV Vaccine theo đường tĩnh mạch hoặc trong da. Chưa có dữ liệu nghiên cứu đối với đường tiêm dưới da của vaccine HPV Vaccine.
Giống với hầu hết các loại vaccine, đáp ứng miễn dịch bảo vệ có thể không được tạo ra ở toàn bộ các đối tượng được tiêm chủng.
HPV Vaccine là một vaccine dự phòng. Vaccine này không ngăn chặn được sự tiến triển của các tổn thương liên quan đến HPV đã hiện diện tại thời điểm tiêm vaccine.
HPV Vaccine không tạo ra tác dụng bảo vệ đối với tất cả các tuýp HPV gây ung thư
Tiêm chủng là biện pháp dự phòng ban đầu và không thay thế cho biện pháp sàng lọc cổ tử cung định kỳ (biện pháp dự phòng thứ phát) cũng như các cảnh báo về việc phơi nhiễm HPV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Chưa có dữ liệu về việc dùng vaccine HPV Vaccine cho những bệnh nhân suy giảm miễn dịch như bệnh nhân nhiễm HIV hoặc bệnh nhân đang điều trị các thuốc ức chế miễn dịch. Đối với những bệnh nhân này có thể không đạt được đáp ứng miễn dịch như mong muốn sau khi tiêm chủng.
Khoảng thời gian bảo vệ chưa được xác định chính xác. Hiệu quả bảo vệ duy trì tới 6,4 năm sau liều tiêm chủng đầu tiên đã được đánh giá. Các nghiên cứu dài hạn đang tiếp tục được thực hiện để xác định khoảng thời gian bảo vệ.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc: Chưa tiến hành nghiên cứu điều tra ảnh hưởng của HPV Vaccine đến việc lái xe hoặc khả năng vận hành máy móc.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B2
US FDA pregnancy category: B
Thời kỳ mang thai:
Chưa tiến hành các nghiên cứu đặc hiệu trên phụ nữ có thai. Trong chương trình phát triển lâm sàng trước khi đăng ký lưu hành, các trường hợp có thai đã được báo cáo. Các số liệu này chưa đầy đủ để khuyến cáo sử dụng HPV Vaccine trong thai kỳ. Do vậy, việc tiêm phòng vaccine nên hoãn cho đến khi hoàn toàn kết thúc thai kỳ.
Ảnh hưởng của HPV Vaccine đến sự sống và phát triển của phôi thai, trước và sau sinh đã được đánh giá trên chuột nhắt. Những nghiên cứu trên động vật đó không cho thấy ảnh hưởng bất lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đến khả năng sinh sản, thai kỳ, sự phát triển của phôi/bào thai, quá trình sinh đẻ hoặc sự phát triển sau khi sinh.
Thời kỳ cho con bú:
Ảnh hưởng đối với trẻ đang bú mẹ khi mẹ tiêm HPV Vaccine chưa được đánh giá trong các nghiên cứu lâm sàng.
Chỉ nên sử dụng HPV Vaccine trong thời gian cho con bú khi xét thấy lợi ích vượt trội so với nguy cơ có thể xảy ra.
Các dữ liệu huyết thanh học cho thấy kháng thể kháng HPV-16 và HPV-18 được truyền qua sữa trong thời kỳ cho con bú ở chuột nhắt. Tuy nhiên, vẫn chưa biết liệu kháng thể tạo thành sau tiêm chủng có được bài tiết qua sữa người hay không.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Trong các nghiên cứu lâm sàng, đã có xấp xỉ 45000 liều vaccine HPV Vaccine được tiêm cho khoảng 16000 phụ nữ từ 10-68 tuổi. Các đối tượng này cũng được đánh giá về tính an toàn sau tiêm vaccine.
Tác dụng không mong muốn phổ biến nhất được quan sát thấy sau tiêm chủng là đau tại chỗ tiêm với tỷ lệ là 78% trong tổng số các liều tiêm. Phần lớn các tác dụng không mong muốn xảy ra ở mức độ nhẹ đến trung bình và không kéo dài.
Các tác dụng không mong muốn được cho là có khả năng liên quan đến việc tiêm chủng được liệt kê theo tần suất.
Tần suất được báo cáo như sau: Rất phổ biến (≥ 1/10), Phổ biến (≥ 1/100 đến <1/10), Không phổ biến (≥ 1/1.000 đến < 1/100), Hiếm (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000).
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng: Không phổ biến: nhiễm khuẩn đường hô hấp trên.
Rối loạn hệ thần kinh: Rất phổ biến: đau đầu, Không phổ biến: hoa mắt chóng mặt.
Rối loạn đường tiêu hóa: Phổ biến: rối loạn đường tiêu hóa bao gồm buồn nôn, nôn, tiêu chảy và đau bụng.
Rối loạn da và mô dưới da: Phổ biến: ngứa, phát ban, mày đay.
Rối loạn cơ vân, mô liên kết và xương: Rất phổ biến: đau cơ, Phổ biến: đau khớp.
Rối loạn toàn thân và tại chỗ tiêm: Rất phổ biến: phản ứng tại chỗ tiêm bao gồm đau, đỏ, sưng, mệt mỏi; Phổ biến: sốt (≥ 38oC); Không phổ biến: phản ứng tại chỗ khác bao gồm chai cứng, tê.
Dữ liệu hậu marketing
Rối loạn hệ miễn dịch
Hiếm: phản ứng dị ứng (bao gồm các phản ứng phản vệ và á phản vệ), phù mạch.
Các rối loạn hệ thần kinh
Hiếm: ngất xỉu hoặc các cơn cường phế vị sau tiêm, đôi khi đi kèm với các cử động rung giật tăng trương lực.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Sử dụng đồng thời với các vaccine khác:
HPV Vaccine có thể tiêm đồng thời với bất kỳ vaccine nào dưới đây: vaccine kháng nguyên bạch hầu-uốn ván-ho gà vô bào (dTpa), vaccine bại liệt bất hoạt (IPV), vaccine phối hợp dTpa-IPV, vaccine viêm gan A (bất hoạt) (HepA), vaccine viêm gan B (rDNA) (HepB) và vaccine phối hợp HepA-HepB
Nếu tiêm HPV Vaccine cùng lúc với các vaccine dạng tiêm khác, nên tiêm vào các vị trí khác nhau.
Sử dụng đồng thời với các biện pháp tránh thai nội tiết tố:
Trong các nghiên cứu về hiệu quả trên lâm sàng, có gần 60% các phụ nữ được tiêm vaccine HPV Vaccine đã sử dụng các thuốc tránh thai nội tiết tố. Không có bằng chứng nào cho thấy các thuốc tránh thai nội tiết tố có ảnh hưởng đến hiệu quả của HPV Vaccine.
Sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế miễn dịch hệ thống:
Cũng như các vaccine khác, có thể không đạt được đáp ứng miễn dịch đầy đủ ở những bệnh nhân đang sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch.
4.9 Quá liều và xử trí:
Chưa có báo cáo về quá liều. Nếu xảy ra quá liều cần theo dõi và điều trị triệu chứng.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Ung thư cổ tử cung xâm nhiễm bao gồm ung thư tế bào vảy cổ tử cung (84%) và ung thư biểu mô tuyến (16% và chiếm tới 20% ở các nước phát triển có triển khai chương trình khám tầm soát)
HPV-16 và HPV-18 là nguyên nhân của gần 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung ở khắp các khu vực trên thế giới. Các tuýp HPV gây ung thư khác (HPV-31, -33, -35, -39, -45, -51, -52, -56, -58, -59, -66, -68) cũng có gây ung thư cổ tử cung. HPV-16, -18, -45, -31 là 4 tuýp thường gây ung thư tế bào vảy cổ tử cung (gần 76%) và ung thư biểu mô tuyến (gần 91%).
Hiệu quả phòng ngừa
Hiệu quả của vaccine HPV Vaccine được đánh giá trong các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn II và III ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng (HPV-001/007 và HPV-008) trên tổng số 19.778 phụ nữ từ 15 đến 25 tuổi.
Thử nghiệm HPV-001/007 được tiến hành ở Bắc Mỹ và Mỹ La-tinh. Tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu gồm: âm tính với DNA HPV gây ung thư (HPV-16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66 và 68) khi xét nghiệm mẫu cổ tử cung, kháng thể kháng HPV-16 và HPV-18 trong huyết thanh âm tính và tế bào bình thường. Các đặc tính này đại diện cho 1 quần thể chưa phơi nhiễm với các tuýp HPV gây ung thư trước khi tiêm vaccine.
Thử nghiệm lâm sàng HPV-008 đã được tiến hành tại Bắc Mỹ, Mỹ La-tinh, Châu Âu, Châu Á Thái Bình Dương và Úc. Trước khi tiêm vaccine, tiến hành lấy mẫu để xác định ADN của HPV gây ung thư (HPV-16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66 và 68) và kháng thể kháng HPV-16 và HPV-18 trong huyết thanh. Toàn bộ các phụ nữ đều được tiêm vaccine không xét đến kết quả về tế bào học và huyết thanh ban đầu cũng như tình trạng ADN. Các đặc tính này đại diện cho quần thể bao gồm cả những phụ nữ đã hoặc đang phơi nhiễm với HPV.
Giống như bất kỳ thử nghiệm đánh giá hiệu quả phòng bệnh nào, các đối tượng nhiễm ban đầu với một tuýp HPV đặc trưng nào đó sẽ không được chọn để đánh giá hiệu quả với tuýp đó.
Trong cả hai thử nghiệm, các tổn thương dưới đây được đánh giá:
* CIN2+ (Tăng sinh nội biểu mô cổ tử cung độ 2 và các tổn thương ở mức độ cao hơn)
* CIN1+ (Tăng sinh nội biểu mô cổ tử cung độ 1 và các tổn thương ở mức độ cao hơn)
* Các bất thường về tế bào học bao gồm các tế bào vảy không điển hình ở mức độ không xác định (ASC-US), các tổn thương nội biểu mô vẩy ở mức độ thấp (LSIL), các tổn thương nội biểu mô vẩy ở mức độ cao (HSIL) và ASC-US có mức độ nghi ngờ cao (ASC-H).
* Nhiễm kéo dài 6 tháng được xác định khi có ít nhất 2 mẫu dương tính với cùng một tuýp HPV trong khoảng thời gian tối thiểu là 5 tháng.
* Nhiễm kéo dài 12 tháng được xác định khi có ít nhất 2 mẫu dương tính với cùng một tuýp HPV trong khoảng thời gian tối thiểu là 10 tháng.
Trong nghiên cứu HPV-008, các tổn thương dưới đây cũng được đánh giá:
* CIN3+ (Tăng sinh nội biểu mô cổ tử cung độ 3 và các tổn thương ở mức độ cao hơn)
* VIN1+ (Tăng sinh nội biểu mô âm hộ độ 1 và các tổn thương ở mức độ cao hơn)
* VaIN1+ (Tăng sinh nội biểu mô âm đạo độ 1 và các tổn thương ở mức độ cao hơn).
Tăng sinh nội biểu mô cổ tử cung (CIN) độ 2 và 3 (CIN2+) được sử dụng như một dấu hiệu chỉ điểm đối với ung thư cổ tử cung trong các thử nghiệm lâm sàng. Nhiễm virus kéo dài ít nhất 6 tháng cũng được coi là một dấu hiệu chỉ điểm đối với ung thư cổ tử cung. Cho dù CIN độ 1 không được xem là dấu hiệu chỉ điểm đối với ung thư cổ tử cung nhưng các thương tổn này vẫn cần phải được theo dõi về mặt y tế.
Hiệu quả của vaccine ngừa HPV-16/18 ở các phụ nữ chưa phơi nhiễm với các tuýp HPV gây ung thư (nghiên cứu HPV-001/007)
Kết quả về hiệu quả đối với các thương tổn về mô bệnh học có liên quan đến HPV-16 hoặc HPV-18 (HPV-16/18) được chứng minh trong nghiên cứu HPV-001/007 (Nghiên cứu theo dõi dọc các phụ nữ được tiêm ít nhất một liều vaccine) trình bày trong bảng sau:
Bảng 1. Hiệu quả vaccine ngừa CIN2+ và CIN1+ có liên quan đến HPV-16/18
| Tổn thương liên quan HPV-16/18 | HPV Vaccine N = 481 | Đối chứng (Muối nhôm) N = 470 | % Hiệu quả (95% CI) |
| Số các trường hợp | |||
| CIN2+ | 0 | 9 | 100% (51,3; 100) |
| CIN1+ | 0 | 15 | 100% (73,4; 100) |
Hiệu quả phòng ngừa các bất thường về tế bào học do HPV-16/18 là 96,7% (95% CI: 87,3; 99,6).
Hiệu quả phòng ngừa nhiễm HPV-16/18 kéo dài ở thời điểm được xác định sau 6 tháng và 12 tháng lần lượt là 98,2% (95% CI:89,5; 100) và 96,9% (95% CI: 81,4; 99,9).
Trong nghiên cứu HPV-001/007, các phụ nữ được tiếp tục theo dõi về hiệu quả bảo vệ của vaccine cho tới 6,4 năm (gần 77 tháng) sau mũi tiêm đầu tiên. Mặc dù có bằng chứng cho thấy ở nhóm đối chứng vẫn tiếp tục có phơi nhiễm với HPV nhưng không có bằng chứng nào cho thấy giảm mức độ bảo vệ ở nhóm phụ nữ tiêm vaccine.
Hiệu quả của vaccine ở các phụ nữ đã hoặc đang nhiễm HPV (nghiên cứu HPV-008)
Trong nghiên cứu HPV-008, các phân tích ban đầu về hiệu quả được tiến hành trên đoàn hệ tuân thủ đúng theo đề cương (đoàn hệ ATP: bao gồm các phụ nữ tiêm 3 mũi vaccine và không nhiễm các tuýp HPV được đánh giá vào thời điểm 0 và 6 tháng) và trên đoàn hệ được tiêm vaccine 1 (nhóm TVC-1: bao gồm tất cả các phụ nữ đã tiêm ít nhất một mũi vaccine và không nhiễm các tuýp HPV được đánh giá vào thời điểm 0 tháng. Cả hai đoàn hệ này đều bao gồm cả các phụ nữ có xét nghiệm tế bào học bình thường hoặc tổn thương ở mức độ thấp và chỉ loại trừ các phụ nữ có tổn thương tế bào học ở mức độ cao (0,5%).
Thêm vào đó, các phân tích hiệu quả được thực hiện trên đoàn hệ rộng hơn (đoàn hệ TVC), bao gồm toàn bộ các phụ nữ đã được tiêm vaccine
Trong nghiên cứu HPV-008, gần 26% phụ nữ có dấu hiệu đang hoặc đã từng nhiễm HPV-16/18 và dưới 1% các phụ nữ có xét nghiệm HPV ADN ban đầu dương tính với cả hai tuýp HPV-16 và HPV-18.
Thời gian theo dõi trung bình đối với các phụ nữ trong nghiên cứu HPV-008 là gần 39 tháng.
Bảng 2. Hiệu quả của vaccine ngừa CIN1+ và CIN2+ liên quan đến HPV-16/18-Phân tích đặc hiệu theo đề cương
| Tổn thương liên quan HPV-16/18 | Đoàn hệ ATP(1) | Đoàn hệ TVC-1(2) | ||||
| HPV Vaccine (N = 7344) | Đối chứng (N=7312) | % Hiệu quả (96,1% CI) | HPV Vaccine (N = 8040) | Đối chứng (N=8080) | % Hiệu quả (96,1% CI) | |
| n | n | n | n | |||
| CIN2+ | 4 | 56 | 92,9% (79,9; 98,3) | 5 | 91 | 94,5% (86,2; 98,4) |
| CIN1+ | 8 | 96 | 91,7% (82,4; 96,7) | 11 | 135 | 91,8% (84,5; 96,2) |
| n = số lượng các đối tượng trong mỗi nhóm | ||||||
| n = số lượng các trường hợp có tổn thương | ||||||
| (1) tiêm 3 mũi vaccine, ADN âm tính, huyết thanh âm tính với các tuýp HPV được đánh giá tại thời điểm 0 và 6 tháng | ||||||
| (2) tiêm ít nhất một mũi vaccine, ADN âm tính, huyết thanh âm tính với các tuýp HPV được đánh giá tại thời điểm tháng 0. | ||||||
Thêm vào đó, hiệu quả của vaccine có ý nghĩa thống kê ngừa CIN2+ liên quan đến từng tuýp HPV-16 và HPV-18 đã được thấy trong cả hai đoàn hệ khi phân tích đặc hiệu theo đề cương.
Các theo dõi sâu hơn xác định một số trường hợp CIN1+ và CIN2+ có nhiễm đa tuýp HPV gây ung thư trong tổn thương. Để phân biệt rõ giữa các tuýp HPV được xem là nguyên nhân có thể nhất đối với tổn thương và các tuýp HPV chỉ được xem là có liên quan tạm thời, việc phân định tuýp HPV đã được tiến hành (phân tích sâu). Phân định tuýp HPV là phát hiện thấy các tuýp HPV bằng phản ứng chuỗi polymerase (PCR) có mặt ít nhất ở một trong hai mẫu tế bào học kế tiếp nhau ngoài việc chỉ phát hiện được trong tổn thương. Dựa trên việc phân định tuýp HPV này, quá trình phân tích thử nghiệm lâm sàng sẽ loại trừ đi các trường hợp CIN1+ và CIN2+ (trong nhóm tiêm vaccine và trong nhóm chứng) được xác định nguyên nhân không phải liên quan đến nhiễm HPV-16 và HPV-18 (xem bảng dưới)
Bảng 3. Hiệu quả vaccine ngừa CIN2+ và CIN1+ liên quan tới HPV-16/18 phân định tuýp HPV
| Tổn thương liên quan HPV-16/18 | Đoàn hệ ATP(1) | Đoàn hệ TVC-1(2) | ||||
| HPV Vaccine (N = 7344) | Đối chứng (N=7312) | % Hiệu quả (96,1% CI) | HPV Vaccine (N = 8040) | Đối chứng (N=8080) | % Hiệu quả (96,1% CI) | |
| n | n | n | n | |||
| CIN2+ | 1 | 53 | 98,1% (88,4; 100) | 2 | 87 | 97,7% (91,0; 99,8) |
| CIN1+ | 2 | 90 | 97,8% (91,4; 99,8) | 5 | 128 | 96,1% (90,3; 98,8) |
| n = số lượng các đối tượng trong mỗi nhóm | ||||||
| n = số lượng các trường hợp có tổn thương | ||||||
| (1) tiêm 3 mũi vaccine, ADN âm tính, huyết thanh âm tính với các tuýp HPV được đánh giá tại thời điểm 0 và 6 tháng | ||||||
| (2) tiêm ít nhất một mũi vaccine, ADN âm tính, huyết thanh âm tính với các tuýp HPV được đánh giá tại thời điểm tháng 0. | ||||||
Ngoài ra, hiệu quả của vaccine có ý nghĩa thống kê ngừa CIN2+ liên quan đến từng tuýp HPV-16 và HPV-18 đã được thấy trong cả hai đoàn hệ khi phân định tuýp HPV
Bảng 4. Hiệu quả vaccine ngừa các tổn thương virus học và tế bào học liên quan đến HPV-16/18
| Tổn thương liên quan với HPV-16/18 | Đoàn hệ ATP(1) | Đoàn hệ TVC-1(2) | ||||
| HPV Vaccine | Đối chứng | % Hiệu quả (96,1% CI) | HPV Vaccine | Đối chứng | % Hiệu quả (96,1% CI) | |
| n/N | n/N | n/N | n/N | |||
| Tổn thương về virus học | ||||||
| Nhiễm kéo dài 6 tháng | 29/7177 | 488/7122 | 94.3% (91.5; 96.3) | 67/7941 | 661/7964 | 90.2% (87.3; 92.6) |
| Nhiễm kéo dài 12 tháng | 20/7035 | 227/6984 | 91.4% (86.1; 95.0) | 51/7812 | 340/7823 | 85.3% (79.9; 89.4) |
| Tổn thương về tế bào học | ||||||
| Bất thường về tế bào học (≥ ASCUS) | 48/7340 | 427/7312 | 89.0% (84.9; 92.1) | 75/8040 | 553/8080 | 86.7% (82.8; 89.8) |
| N = số lượng các đối tượng trong mỗi nhóm | ||||||
| n = số lượng các trường hợp có tổn thương | ||||||
| (1) tiêm 3 mũi vaccine, ADN âm tính, huyết thanh âm tính với các tuýp HPV được đánh giá tại thời điểm 0 và 6 tháng | ||||||
| (2) tiêm ít nhất một mũi vaccine, ADN âm tính và huyết thanh âm tính với các tuýp HPV được đánh giá tại thời điểm tháng 0. | ||||||
Hiệu quả của vaccine có ý nghĩa thống kê ngừa VIN1+ hoặc VaIN1+ liên quan đến HPV-16/18 cũng được thấy ở cả hai đoàn hệ: 80,0% (96,1% CI: 0,3;98,1) ở đoàn hệ ATP và 83,2% (96,1% CI: 20,2;98,4) ở đoàn hệ TVC-1.
Chưa có các bằng chứng về khả năng ngừa các bệnh gây ra bởi các tuýp HPV cho các đối tượng có ADN HPV dương tính khi vào nghiên cứu. Tuy nhiên, các đối tượng đã nhiễm một trong các tuýp HPV có trong vaccine trước khi tiêm phòng được bảo vệ khỏi các bệnh có căn nguyên bởi tuýp HPV khác.
Tác động tổng thể của vaccine đối với gánh nặng bệnh tật do HPV gây ra
Hiệu quả tổng thể của vaccine không xét đến tuýp ADN của HPV trong tổn thương và phân tầng dựa trên ADN HPV ban đầu và tình trạng huyết thanh được đánh giá trong nghiên cứu HPV-008. Ở những phụ nữ có ADN HPV ban đầu âm tính với 14 tuýp HPV gây ung thư và tất cả các phụ nữ không xét đến tuýp ADN của HPV trong tổn thương, hiệu quả của vaccine ngừa CIN2+ và CIN1+ có ý nghĩa thống kê được chứng minh trên đoàn hệ TVC-1 và đoàn hệ mở rộng hơn TVC bao gồm tất cả các phụ nữ được tiêm vaccine. Tác động của HPV Vaccine làm giảm thiểu việc sử dụng các liệu pháp điều trị tại chỗ ở cổ tử cung (quy trình cắt cúp điện tử, cắt cổ tử cung Cone, dùng dao hoặc laser) cũng được đánh giá là có ý nghĩa thống kê trên cả hai đoàn hệ
Bảng 5. Hiệu quả của vaccine không xét đến tuýp ADN của HPV trong tổn thương, không xét đến tình trạng huyết thanh ban đầu (Đoàn hệ TVC-1)
| HPV Vaccine | Nhóm chứng | % Hiệu quả (96,1% CI) | ||||
| N | n | N | n | |||
| CIN2+ | Hiệu quả bảo vệ ở phụ nữ nguy cơ cao có ADN HPV âm tính* | 6893 | 51 | 6962 | 142 | 63,8% (49,0; 74,7) |
| Hiệu quả tổng thể (tất cả phụ nữ không xét đến tình trạng ADN HPV ban đầu) | 8610 | 204 | 8630 | 296 | 30,9% (16,4; 43,0) | |
| CIN1+ | Hiệu quả bảo vệ ở phụ nữ nguy cơ cao có ADN HPV âm tính* | 6893 | 157 | 6962 | 278 | 43,1% (29,9; 54,0) |
| Liệu pháp điều trị tại cổ tử cung | Hiệu quả tổng thể (tất cả phụ nữ không xét đến tình trạng ADN HPV ban đầu) | 8610 | 422 | 8630 | 549 | 23,0% (11,8; 32,8) |
| Hiệu quả tổng thể (tất cả phụ nữ không xét đến tình trạng ADN HPV ban đầu) | 8610 | 162 | 8630 | 219 | 25,7% (7,6; 40,4) | |
| n= Số đối tượng trong mỗi nhóm | ||||||
| n = Số lượng các trường hợp có tổn thương | ||||||
| * HPV ADN âm tính đối với 14 tuýp HPV gây ung thư (HPV-16, -18, -31, -33, -35, -39, -45, -51, -52, -56, -58, -59, -66, -68) | ||||||
Hiệu quả tổng thể của vaccine ngừa CIN3+ không xét đến tuýp ADN của HPV trong tổn thương và không xét đến ADN HPV ban đầu và tình trạng huyết thanh ban đầu của đối tượng nghiên cứu cho thấy có ý nghĩa thống kê trên đoàn hệ TVC-1 với 64 ca bệnh ở nhóm tiêm vaccine và 103 ca bệnh ở nhóm đối chứng (hiệu quả vaccine: 37,7% (96,1% CI: 12,6; 55,9)).
Bảng 6. Hiệu quả của vaccine không xét đến tuýp ADN của HPV trong tổn thương, và tình trạng huyết thanh ban đầu (đoàn hệ TVC)
| HPV Vaccine | Nhóm chứng | % Hiệu quả (96,1% CI) | ||||
| N | n | N | n | |||
| CIN2+ | Hiệu quả bảo vệ ở phụ nữ nguy cơ cao có ADN HPV âm tính* | 5449 | 33 | 5436 | 110 | 70,2% (54,7; 80,9) |
| Hiệu quả tổng thể (tất cả phụ nữ không xét đến tình trạng ADN HPV ban đầu) | 8667 | 224 | 8682 | 322 | 30,4% (16,4; 42,1) | |
| CIN1+ | Hiệu quả bảo vệ ở phụ nữ nguy cơ cao có ADN HPV âm tính* | 5449 | 106 | 5436 | 211 | 50,1% (35,9; 61,4) |
| Hiệu quả tổng thể (tất cả phụ nữ không xét đến tình trạng ADN HPV ban đầu) | 8667 | 451 | 8682 | 577 | 21,7% (10,7; 31,4) | |
| Liệu pháp điều trị tại cổ tử cung | Hiệu quả bảo vệ ở phụ nữ nguy cơ cao có ADN HPV âm tính* | 5449 | 26 | 5436 | 83 | 68,8% (50,0; 81,2) |
| Hiệu quả tổng thể (tất cả phụ nữ không xét đến tình trạng ADN HPV ban đầu) | 8667 | 180 | 8682 | 240 | 24,7% (7,4; 38,9) | |
| N = Số đối tượng trong mỗi nhóm | ||||||
| n = Số lượng các trường hợp có tổn thương | ||||||
| * HPV ADN âm tính đối với 14 tuýp HPV gây ung thư (HPV-16, -18, -31, -33, -35, -39, -45, -51, -52, -56, -58, -59, -66, -68) | ||||||
Hiệu quả tổng thể của vaccine ngừa CIN3+ không xét đến tuýp ADN của HPV trong tổn thương và không xét đến ADN HPV và tình trạng huyết thanh ban đầu của đối tượng nghiên cứu cho thấy có ý nghĩa thống kê trên đoàn hệ TVC với 77 ca bệnh ở nhóm tiêm vaccine và 116 ca bệnh ở nhóm đối chứng (hiệu quả vaccine: 33,4% (96,1% CI: 9,1;51,5)).
Hiệu quả phòng ngừa đối với lây nhiễm các tuýp HPV gây ung thư khác ngoài HPV-16 và HPV/18
Trong nghiên cứu HPV-008, hiệu quả bảo vệ của vaccine chống lại 12 tuýp HPV gây ung thư khác không có trong thành phần của vaccine (HPV-31, -33, -35, -39, -45, -51, -52, -56, -58, -59, -66, -68) được đánh giá trên đoàn hệ ATP và TVC-1.
Bảng 7. Hiệu quả của vaccine ngừa các tuýp HPV gây ung thư khác đối với nhiễm dai dẳng 6 tháng và CIN2+ (Đoàn hệ ATP)
| Đoàn hệ ATP(1) | ||||||
| Tuýp HPV | Nhiễm dai dẳng 6 tháng | % Hiệu quả (96,1% CI) | CIN2+ | % Hiệu quả (96,1% CI) | ||
| HPV Vaccine | Đối chứng | HPV Vaccine | Đối chứng | |||
| n | n | n | n | |||
| Các tuýp liên quan HPV-16(2) | ||||||
| HPV-31 | 45 | 199 | 77.5% (68.3; 84.4) | 2 | 25 | 92,0% (66,0; 99,2) |
| HPV-33 | 55 | 100 | 45.1% (21.7; 61.9) | 12 | 25 | 51,9% (-2,9; 78,9) |
| HPV-35 | 55 | 43 | -28.4% (-100.3; 17.2) | 1 | 6 | 83,3% (-49,1; 99,7) |
| HPV-52 | 293 | 315 | 7.4% (-9.9; 22.0) | 12 | 14 | 14,3% (-108,1; 65,4) |
| HPV-58 | 111 | 101 | -10.3% (-48.0; 17.7) | 6 | 17 | 64,5% (1,5; 89,2) |
| Các tuýp liên quan HPV-18(2) | ||||||
| HPV-39 | 147 | 149 | 1,0% (-26,7; 22,7) | 3 | 10 | 69,8% (-24,2; 95,2) |
| HPV-45(3) | 19 | 79 | 76.1% (59.1; 86.7) | 0 | 4 | 100% (-67,8; 100) |
| HPV-59 | 56 | 59 | 4.8% (-42.4; 36.4) | 1 | 4 | 74,9% (-178,6; 99,6) |
| HPV-68 | 138 | 134 | -3,1% (-33,4; 20,3) | 5 | 11 | 54,4% (-49,8; 88,4) |
| Các tuýp khác(2) | ||||||
| HPV-51 | 304 | 354 | 14,5% (-0,8; 27,4) | 10 | 27 | 62,9% (18,0; 84,7) |
| HPV-56 | 182 | 174 | -5,0% (-31,5; 16,1) | 4 | 10 | 59,9% (-47,1; 91,5) |
| HPV-66 | 168 | 178 | 5,7% (-18,4; 24,9) | 4 | 10 | 60,0% (-46,7; 91,6) |
| n= số lượng các trường hợp có tổn thương | ||||||
| (1) tiêm 3 mũi vaccine, ADN âm tính với các tuýp HPV được đánh giá tại thời điểm 0 và 6 tháng | ||||||
| (2) các tuýp được liệt kê theo thứ tự, không theo dữ liệu dịch tễ học | ||||||
| (3) số các trường hợp CIN2+ có liên quan tới HPV-45 mà ước lượng hiệu quả vaccine dựa vào còn giới hạn | ||||||
Hiệu quả bảo vệ của vaccine có ý nghĩa thống kê chống lại nhiễm dai dẳng 6 tháng đã được quan sát thấy đối với HPV tuýp 31, 33 và 45 trên đoàn hệ ATP và đối với tuýp 31, 33, 45 và 51 trên đoàn hệ TVC-1
Hiệu quả bảo vệ của vaccine chống lại CIN2+ đã được quan sát thấy đối với tuýp 31, 51 và 58 trên đoàn hệ ATP và đối với các tuýp HPV 31, 33, 35 và 51 trên đoàn hệ TVC-1. Hiệu quả bảo vệ của vaccine có ý nghĩa thống kê chống lại CIN2+ cho tất cả các tuýp HPV kết hợp (HPV-31, -33, -35, -39, -45, -51, -52, -56, -58, -59, -66, -68) ngoại trừ HPV tuýp 16 và 18 là 54,0% (96,1% CI: 34,0;68,4) trên đoàn hệ ATP và 46,0% (96,1% CI: 27,0;60,3) trên đoàn hệ TVC-1.
Hiệu quả bảo vệ của vaccine có ý nghĩa thống kê chống lại nhiễm dai dẳng 6 tháng, 12 tháng và CIN1+ liên quan tới HPV-45 đã được quan sát thấy trên cả 2 đoàn hệ. Trên đoàn hệ rộng hơn (TVC), hiệu quả bảo vệ của vaccine chống lại CIN2+ liên quan tới HPV-45 cũng có ý nghĩa thống kê với 0 trường hợp trong nhóm tiêm vaccine so với 6 trường hợp trong nhóm chứng (hiệu quả vaccine: 100% (96,1%CI: 7,0; 100))
Hình thành miễn dịch sau khi tiêm vaccine:
Đáp ứng kháng thể đối với HPV-16 và HPV-18 được xác định bằng thử nghiệm ELISA đặc hiệu cho thấy có sự tương quan chặt chẽ với thử nghiệm trung hòa (Như thử nghiệm dựa trên giả virion do Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ phát triển). Quá trình tạo kháng thể từ trong huyết thanh cho tới màng nhầy cổ tử cung đã được xác định trong các thử nghiệm lâm sàng.
Đáp ứng miễn dịch sau khi tiêm 3 mũi HPV Vaccine đã được tiến hành trên 5.303 phụ nữ từ 10 đến 55 tuổi.
Trong các thử nghiệm lâm sàng, 99% đối tượng huyết thanh âm tính đã có chuyển đổi huyết thanh đối với cả 2 tuýp HPV-16 và 18 sau khi tiêm vaccine mũi thứ 3 một tháng. Hiệu giá trung bình nhân (GMT) kháng thể IgG tạo ra bởi vaccine cao hơn hiệu giá đo được ở các phụ nữ bị nhiễm HPV trước đó nhưng đã khỏi (nhiễm tự nhiên). Đối tượng có huyết thanh ban đầu dương tính và âm tính đều đạt được hiệu giá như nhau sau tiêm phòng vaccine.
Đáp ứng miễn dịch ở phụ nữ từ 15 đến 25 tuổi
Đáp ứng miễn dịch chống lại HPV-16 và HPV-18 được đánh giá cho tới thời điểm 76 tháng sau khi tiêm mũi vaccine đầu tiên trong nghiên cứu HPV-001/007 ở các phụ nữ từ 15 đến 25 tuổi tại thời điểm tiêm vaccine. Trong nghiên cứu HPV-23, trí nhớ miễn dịch tiếp tục được đánh giá tới thời điểm 7.4 năm (88.6 tháng) sau đợt tiêm phòng đầu tiên đối với một tập hợp con của đối tượng trong nghiên cứu HPV-001/007.
Trong nghiên cứu HPV-0.23, ≥ 96.7% phụ nữ dương tính với cả chủng HPV-16 và HPV-18 xác định bằng phương pháp ELISA hoặc phản ứng trung hòa base virus tổng hợp (PBNA) tới thời điểm 7.4 năm sau đợt tiêm phòng đầu tiên.
Hiệu giá trung bình nhân (GMT) của IgG có được sau tiêm vaccine đối với cả 2 loại HPV-16 và HPV-18 đạt đỉnh vào tháng thứ 7 và sau đó giảm dần về đường nằm ngang từ tháng thứ 18 cho đến cuối của quá trình theo dõi (tháng thứ 76). Ở thời điểm cuối của quá trình theo dõi, GMT đối với cả 2 tuýp HPV-16 và HPV-18 vẫn cao hơn ít nhất 11 lần so với hiệu giá có được ở các phụ nữ từng nhiễm HPV trước đó nhưng hiện đã khỏi (nhiễm tự nhiên).
Diễn tiến về động học cũng thấy được tương tự đối với kháng thể trung hòa
Trong nghiên cứu HPV-008, đáp ứng miễn dịch tới tháng thứ 36 cũng tương tự với đáp ứng miễn dịch quan sát được trong nghiên cứu HPV-001/007
Bắc cầu hiệu quả của HPV Vaccine ở phụ nữ từ 15 đến 25 tuổi cho các lứa tuổi khác
Trong 2 thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trên bé gái và thiếu niên từ 10-14 tuổi, tất cả các đối tượng nghiên cứu đều có chuyển đổi huyết thanh đối với cả 2 tuýp HPV-16 và HPV-18 sau mũi tiêm thứ 3 (tháng thứ 7) với GMT cao hơn ít nhất 2 lần so với các phụ nữ từ 15 đến 25 tuổi.
Cơ chế tác dụng:
Nhiễmdai dẳng các tuýp HPV gây ung thư là nguyên nhân của gần như toàn bộ các trường hợp ung thư cổ tử cung tên toàn cầu.
HPV Vaccine là vaccine tái tổ hợp không gây nhiễm được sản xuất từ các tiểu thể tương tự virus (VLPs) có độ tinh khiết cao với thành phần là protein vỏ chính L1 của HPV gây ung thư tuýp 16 và 18. Do VLPs không chứa ADN của virus nên không có khả năng gây nhiễm tế bào, tái sinh hay gây bệnh. Các nghiên cứu trên động vật đã chứng minh rằng hiệu quả của vaccine L1 VLP chủ yếu là kích thích tạo ra đáp ứng miễn dịch dịch thể và trí nhớ miễn dịch qua trung gian tế bào.
Kết quả nghiên cứu lâm sàng cho thấy HPV Vaccine được bổ trợ với AS04 có tác dụng tạo đáp ứng miễn dịch kéo dài và cao hơn so với các kháng nguyên cùng loại nhưng bổ trợ với muối nhôm [Al(OH)3].
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Không yêu cầu đánh giá đặc tính dược động học đối với vaccine.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược: 3-O-desacyl-4’-monophosphoryl lipid A (MPL): 50 microgram; Hydroxide nhôm, hydrate hóa: 0,5 milligram Al3+.
6.2. Tương kỵ :
Chưa có các nghiên cứu về tính tương thích, không trộn lẫn vaccine này với các sinh phẩm y tế khác.
6.3. Bảo quản:
Bảo quản trong tủ lạnh (2oC-8oC). Không đông đá. Giữ nguyên trong hộp để tránh ánh sáng.
Nên dùng HPV Vaccine ngay sau khi lấy ra khỏi tủ lạnh. Tuy nhiên, các dữ liệu nghiên cứu độ ổn định cho thấy HPV Vaccine dạng đóng gói đơn liều vẫn ổn định và có thể dùng được trong trường hợp vaccine được bảo quản bên ngoài tủ lạnh tới 3 ngày ở nhiệt độ từ 8oC đến 25oC hoặc tới 1 ngày ở nhiệt độ từ 25oC đến 37oC.
6.4. Thông tin khác :
An toàn tiền lâm sàng
Dữ liệu phi lâm sàng với những nghiên cứu về an toàn dược, độc tính với liều cấp tính và nhắc lại, dung nạp tại chỗ, độc tính trên phôi thai và sau khi sinh (đến cuối giai đoạn bú mẹ) cho thấy không có sự nguy hại đặc biệt nào đối với người.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.