Follitropin Alfa – Gonal-F

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Follitropin Alfa

Phân loại: Hormones tuyến yên – Hormon kích thích tạo nang trứng – Gonadotropins

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): G03GA05.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Gonal-F

Hãng sản xuất : Merck Serono S.p.A – Italy

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Bút tiêm pha sẵn có chứa các hàm lượng khác nhau:

Mỗi bơm tiêm có chứa: 75IU /0,15mL; 450IU /0,75mL; 900IU /1,5mL; 300IU /0,5mL

Thuốc tham khảo:

GONAL-F®
Mỗi 0,5ml trong bút tiêm pha sẵn có chứa:
Gonal-F …………………………. 300 I.U
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Không rụng trứng (kể cả hội chứng buồng trứng đa nang-PCOS) ở những phụ nữ không đáp ứng với điều trị bằng clomiphene citrate.

Kích thích phát triển nhiều nang noãn ở những bệnh nhân đang được điều trị kích thích rụng trứng cho các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART) như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), chuyển giao tử vào vòi trứng (GIFT) và chuyển hợp tử vào vòi trứng (ZIFT).

Gonal-F được khuyên dùng kết hợp với một chế phẩm hormone hướng hoàng thể (LH) để kích thích phát triển nang noãn ở phụ nữ bị thiếu hụt hormone LH và FSH trầm trọng. Trong các thử nghiệm lâm sàng, những bệnh nhân này được xác định bằng nồng độ LH nội sinh trong huyết thanh < 1.2 IU/L.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Tất cả các thuốc gonadotropin chỉ dùng để tiêm bắp. Pha bột tiêm với dung môi được cung cấp theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Urofollitropin, follitropin alpha và beta có thể tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. Liều lượng được tính theo đơn vị USP

Gonal-F được dùng tiêm dưới da. Tiêm Gonal-F lần đầu nên được thực hiện dưới sự giám sát y khoa trực tiếp. Tự tiêm Gonal-F chỉ nên được thực hiện ở những bệnh nhân thật sự muốn tự tiêm, được huấn luyện đầy đủ và có thể tiếp cận đến lời khuyên của chuyên gia điều trị. Vì bút tiêm nạp sẵn đa liều Gonal-F được dùng cho nhiều lần tiêm, nên cung cấp cho bệnh nhân hướng dẫn rõ ràng để tránh sử dụng sai dụng cụ đa liều này.

Liều dùng:

Liều dùng khuyến cáo cho Gonal-F cũng là liều sử dụng của FSH chiết xuất từ nước tiểu. Đánh giá về lâm sàng đối với Gonal-F cho thấy ở liều dùng hàng ngày, cách dùng và cách theo dõi điều trị không nên khác với những điều hiện nay được sử dụng đối với các chế phẩm chứa FSH chiết xuất từ nước tiểu. Cần tuân thủ theo liều khởi đầu được khuyến cáo dưới đây. Các nghiên cứu lâm sàng có so sánh cho thấy tính trung bình những bệnh nhân cần tổng liều thấp hơn và thời gian điều trị với Gonal-F ngắn hơn khi so sánh với FSH chiết xuất từ nước tiểu. Vì thế, cần cân nhắc sử dụng tổng liều Gonal-F thấp hơn liều thông thường sử dụng FSH chiết xuất từ nước tiểu, không chỉ để tối ưu hóa sự phát triển nang noãn mà còn làm giảm thiểu nguy cơ quá kích buồng trứng không mong muốn (xem phần Dược động học).

Tương đương sinh học giữa các liều tương đương của chế phẩm Gonal-F đơn liều và đa liều đã được chứng minh.

Phụ nữ không rụng trứng (kể cả hội chứng buồng trứng đa nang-PCOS):

Gonal-F có thể được tiêm hàng ngày. Ở bệnh nhân đang có kinh nguyệt, nên bắt đầu trị liệu trong vòng 7 ngày đầu của chu kỳ kinh.

Liều dùng khởi đầu thông thường là 75-150 IU FSH mỗi ngày và có thể tăng thêm 37.5 IU hoặc 75 IU mỗi 7 ngày hoặc mỗi 14 ngày nếu cần, để đạt được đáp ứng đầy đủ nhưng không quá mức.Việc điều trị nên được điều chỉnh tùy theo đáp ứng của từng bệnh nhân, được đánh giá bằng cách đo kích thước nang noãn bằng siêu âm và/hoặc sự tiết oestrogen. Liều tối đa mỗi ngày thường không quá 225 IU FSH. Nếu bệnh nhân không đáp ứng thích đáng sau 4 tuần điều trị thì nên hủy bỏ chu kỳ này và bệnh nhân nên bắt đầu điều trị với liều cao hơn so với liều dùng trong chu kỳ đã bị hủy.

Khi đã đạt được đáp ứng tối ưu, nên tiêm một liều đơn 250 microgram r-hCG hoặc 5.000 IU lên đến 10.000 IU hCG từ 24 đến 48 giờ sau mũi tiêm Gonal-F cuối cùng. Bệnh nhân được khuyên giao hợp vào ngày tiêm hCG và ngày hôm sau. Một cách khác, có thể bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI).

Nếu có đáp ứng quá mức nên ngừng điều trị và không tiêm hCG (xem phần Chú ý đề phòng).

Nên bắt đầu điều trị ở chu kỳ tiếp theo với liều thấp hơn liều của chu kỳ trước đó.

Phụ nữ đang được điều trị kích thích buồng trứng để phát triển nhiều nang noãn trước khi thực hiện sự thụ tinh trong ống nghiệm hoặc các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản khác:

Liều thường dùng để kích thích rụng nhiều trứng là 150-225 IU Gonal-F mỗi ngày, bắt đầu vào ngày thứ 2 hoặc 3 của chu kỳ. Tiếp tục điều trị cho đến khi đạt được sự phát triển nang noãn đầy đủ (được đánh giá bằng cách theo dõi nồng độ oestrogen huyết thanh và/hoặc siêu âm), với liều được điều chỉnh theo đáp ứng của bệnh nhân, thường không cao hơn 450 IU mỗi ngày. Nói chung sự phát triển nang noãn đầy đủ đạt được trung bình vào ngày thứ 10 của đợt điều trị (từ 5 đến 20 ngày).

Tiêm một liều đơn 250 microgram r-hCG hoặc 5.000 IU đến 10.000 IU hCG 24 đến 48 giờ sau mũi Gonal-F cuối cùng để hoàn tất sự trưởng thành của nang noãn.

Quá trình điều hòa giảm với chất đồng vận hoặc đối vận hormone giải phóng gonadotropin (GnRH) hiện nay thường được sử dụng để ngăn chặn sự xuất hiện đỉnh LH nội sinh và kiểm soát nồng độ LH hữu hiệu. Theo một phác đồ điều trị phổ biến, Gonal-F được bắt đầu khoảng 2 tuần sau khi điều trị bằng chất đồng vận, cả hai thuốc được dùng tiếp tục cho đến khi đạt được sự phát triển nang noãn đầy đủ. Ví dụ, sau 2 tuần điều trị với một chất đồng vận, dùng 150-225 IU Gonal-F trong 7 ngày đầu. Sau đó liều dùng được điều chỉnh theo đáp ứng của buồng trứng.

Kinh nghiệm về thụ tinh trong ống nghiệm cho thấy tỷ lệ điều trị thành công nói chung vẫn ổn định trong bốn đợt đầu tiên và sau đó giảm dần.

Phụ nữ không rụng trứng do thiếu hụt LH và FSH trầm trọng:

Ở phụ nữ bị thiếu hụt LH và FSH (giảm năng tuyến sinh dục do giảm gonadotropin), mục đích của liệu pháp kết hợp Gonal-F và lutropin alfa là để kích thích sự trưởng thành của một nang Graaf đơn lẻ, từ đó noãn sẽ được phóng ra sau khi dùng gonadotropin nhau thai người (hCG). Gonal-F được tiêm hàng ngày đồng thời với lutropin alfa. Việc điều trị có thể bắt đầu bất cứ lúc nào vì những bệnh nhân này bị vô kinh và tiết oestrogen nội sinh thấp.

Liều khởi đầu điều trị được khuyên dùng là 75 IU lutropin alfa mỗi ngày với 75-150 IU FSH.

Việc điều trị nên được điều chỉnh tùy theo đáp ứng của từng bệnh nhân, được đánh giá bằng cách đo kích thước nang noãn trên siêu âm và đáp ứng oestrogen.

Nếu cần thiết tăng liều FSH, việc điều chỉnh liều nên thực hiện sau mỗi 7-14 ngày và có thể tăng thêm 37.5-75 IU. Có thể kéo dài thời gian kích thích đến 5 tuần ở bất kỳ một chu kỳ điều trị nào.

Khi đã đạt được đáp ứng tối ưu, nên tiêm một liều duy nhất 250 microgram hoặc 5.000 IU đến 10.000 IU hCG 24-48 giờ sau mũi tiêm Gonal-F và lutropin alfa cuối cùng. Bệnh nhân được khuyên giao hợp vào ngày tiêm hCG và ngày hôm sau.

Một cách khác, có thể bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI).

Có thể cần phải hỗ trợ giai đoạn hoàng thể vì nếu thiếu chất có hoạt tính hướng hoàng thể (LH/hCG) sau khi rụng trứng có thể dẫn đến suy hoàng thể sớm.

Nếu có đáp ứng quá mức nên ngừng điều trị và không tiêm hCG. Nên bắt đầu điều trị lại ở chu kỳ tiếp theo với liều FSH thấp hơn liều của chu kỳ trước đó.

Các quần thể đặc biệt:

Người lớn tuổi : Không có kinh nghiệm sử dụng Gonal-F cho người lớn tuổi. Sự an toàn và hiệu quả của Gonal-F ở người lớn tuổi chưa được thiết lập.

Suy thận hoặc suy gan: Sự an toàn, hiệu quả và dược động học của Gonal-F ở bệnh nhân suy thận hoặc suy gan chưa được thiết lập.

Trẻ em: Không có giá trị sử dụng Gonal-F ở trẻ em.

4.3. Chống chỉ định:

Quá mẫn cảm với Follitropin Alfa, FSH hoặc bất kỳ tá dược nào.

Khối u ở vùng dưới đồi hoặc tuyến yên.

Phì đại buồng trứng hoặc nang không phải do hội chứng buồng trứng đa nang.

Xuất huyết phụ khoa không rõ nguyên nhân.

Ung thư buồng trứng, tử cung hoặc ung thư vú.

Không dùng Gonal-F khi không thể đạt được đáp ứng hiệu quả như:

Suy buồng trứng tiên phát.

Dị dạng cơ quan sinh dục không thích hợp cho việc có thai.

U xơ tử cung không thích hợp cho việc có thai.

Lúc có thai và lúc nuôi con bú

4.4 Thận trọng:

Gonal-F là một chất hướng sinh dục mạnh có khả năng gây ra những phản ứng phụ từ nhẹ đến trầm trọng, chỉ nên được sử dụng bởi các bác sĩ có kinh nghiệm trong điều trị những trở ngại về sinh sản.

Liệu pháp gonadotropin đòi hỏi bác sĩ và các chuyên gia y tế hỗ trợ xác định thời gian nhất định cũng như cần có sẵn các phương tiện theo dõi thích hợp. Ở phụ nữ muốn sử dụng Gonal-F an toàn và hiệu quả cần theo dõi thường xuyên đáp ứng buồng trứng bằng siêu âm đơn thuần hay tốt nhất là kết hợp với định lượng nồng độ oestradiol trong huyết thanh. Có thể có mức độ đáp ứng khác nhau giữa các bệnh nhân đối với việc dùng FSH, một số bệnh nhân có đáp ứng kém với FSH và một số bệnh nhân khác thì có đáp ứng quá mức. Nên dùng liều thấp nhất mà có thể đạt được mục tiêu điều trị.

Trước khi bắt đầu điều trị, cần đánh giá tình trạng vô sinh của cặp vợ chồng và lý do không thể có thai. Đặc biệt, bệnh nhân phải được đánh giá xem có nhược giáp, suy vỏ thượng thận, tăng prolactin máu và đánh giá xem có phù hợp với phương pháp điều trị này hay không.

Bệnh nhân đang được điều trị kích thích phát triển nang noãn, trong khi điều trị vô sinh do không rụng trứng hoặc dùng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có thể bị phì đại buồng trứng hoặc phát sinh quá kích buồng trứng. Việc tuân thủ liều Gonal-F được khuyến cáo, cách dùng và theo dõi điều trị cẩn thận sẽ làm giảm thiểu tần suất các tình trạng này.

Việc đánh giá đúng các giai đoạn phát triển và trưởng thành của nang noãn đòi hỏi bác sĩ là người có kinh nghiệm trong việc đánh giá các thử nghiệm liên quan.

Trong các thử nghiệm lâm sàng, buồng trứng nhạy cảm hơn với Gonal-F đã được ghi nhận khi được dùng với lutropin alfa. Nếu cần thiết tăng liều FSH, nên điều chỉnh mỗi 7-14 ngày và có thể tăng thêm 37.5-75 IU.

Chưa có sự so sánh trực tiếp Gonal-F/LH với gonadotropin từ nước tiểu phụ nữ mãn kinh (hMG). So sánh với các dữ kiện đã ghi nhận trước đó cho thấy tỷ lệ rụng trứng do Gonal-F/LH tương tự như tỷ lệ đạt được khi dùng hMG.

Rối loạn chuyển hóa porphyrin

Bệnh nhân bị rối loạn chuyển hóa porphyrin hay gia đình có tiền sử rối loạn chuyển hóa porphyrin nên được theo dõi cẩn thận trong khoảng thời gian điều trị với Gonal-F. Khi tình trạng xấu hơn hay xuất hiện đầu tiên triệu chứng này, có thể cần phải ngưng điều trị.

Hội chứng quá kích buồng trứng (OHSS)

Mức độ phì đại buồng trứng là một hiệu quả mong đợi của kích thích buồng trứng có kiểm soát. Điều này phổ biến hơn ở những phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang và thường thuyên giảm mà không cần điều trị.

Khác với phì đại buồng trứng không có biến chứng, hội chứng quá kích buồng trứng biểu hiện bằng sự tăng dần mức độ trầm trọng. Hội chứng này bao gồm phì đại buồng trứng rõ rệt, steroid sinh dục trong huyết thanh cao và tăng tính thấm mạch máu dẫn đến ứ dịch trong khoang màng bụng, màng phổi và một số trường hợp hiếm ứ dịch khoang màng tim.

Triệu chứng sau đây có thể gặp trong các trường hợp hội chứng quá kích buồng trứng trầm trọng: đau bụng, chướng bụng, phì đại buồng trứng nặng, tăng cân, khó thở, thiểu niệu và các triệu chứng tiêu hóa bao gồm buồn nôn, nôn và tiêu chảy. Khám lâm sàng có thể phát hiện giảm lưu lượng máu, cô đặc máu, mất cân bằng điện giải, cổ trướng, tràn máu màng bụng, tràn dịch màng phổi, tràn dịch trong lồng ngực hay phù phổi cấp. Rất hiếm khi hội chứng quá kích buồng trứng trầm trọng có thể bị biến chứng bởi xoắn buồng trứng hay thuyên tắc huyết khối như nghẽn mạch phổi, đột quỵ do thiếu máu cục bộ hay nhồi máu cơ tim.

Các yếu tố nguy cơ độc lập cho hội chứng quá kích buồng trứng tiến triển bao gồm hội chứng buồng trứng đa nang khi nồng độ oestradiol huyết thanh tăng một cách nhanh chóng hoặc cao tuyệt đối (> 900 pg/mL hay 3.300 pmol/L trong chứng không rụng trứng; > 3.000 pg/mL hay >11.000 pmol/L trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản) và số lượng lớn nang noãn buồng trứng kích thích (> 3 nang noãn có đường kính ≥ 14mm trong chứng không rụng trứng; ≥ 20 nang noãn có đường kính ≥ 12mm trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản).

Việc tuân thủ liều Gonal-F được khuyến cáo và cách dùng có thể làm giảm thiểu nguy cơ quá kích buồng trứng (xem phần Liều dùng và Cách dùng và Tác dụng ngoại ý). Theo dõi chu kỳ kích thích bởi siêu âm cũng như định lượng oestradiol được khuyến cáo để xác định sớm các nguy cơ.

Có bằng chứng cho rằng hCG giữ vai trò chủ đạo gây ra hội chứng quá kích buồng trứng và hội chứng này có thể sẽ nghiêm trọng hơn và kéo dài hơn nếu có thai. Vì thế khi dấu hiệu quá kích buồng trứng xảy ra như nồng độ oestradiol huyết thanh > 5.500 pg/mL hay > 20.200 pmol/L và/hoặc ≥ 40 nang noãn, cần ngưng dùng hCG và khuyên bệnh nhân nên tránh giao hợp hoặc sử dụng phương pháp ngừa thai ít nhất 4 ngày. Hội chứng quá kích buồng trứng có thể tiến triển nhanh (trong vòng 24 giờ) hay hơn vài ngày thành một biến cố y khoa nghiêm trọng. Hội chứng quá kích buồng trứng thường gặp nhất xảy ra sau khi ngưng điều trị bằng hormon và trầm trọng nhất khoảng 7 đến 10 ngày sau khi điều trị. Vì thế bệnh nhân nên được theo dõi ít nhất hai tuần sau khi tiêm hCG.

Trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, việc hút tất cả nang noãn trước khi rụng trứng có thể làm giảm xuất hiện quá kích.

Hội chứng quá kích buồng trứng nhẹ hoặc trung bình thông thường tự giảm dần. Nếu hội chứng quá kích buồng trứng nghiêm trọng xảy ra, khuyến cáo ngưng dùng gonadotropin nếu vẫn đang điều trị, bệnh nhân phải được nhập viện và bắt đầu trị liệu thích hợp.

Đa thai

Ở những bệnh nhân đang dùng phương pháp gây rụng trứng, tỷ lệ đa thai tăng lên so với thụ thai tự nhiên. Đa số trường hợp đa thai là sinh đôi. Đa thai, đặc biệt trường hợp nhiều thai, sẽ đưa đến tăng nguy cơ bất lợi cho kết cục của mẹ và con trong thời kỳ mang thai và chu sinh.

Để làm giảm thiểu nguy cơ đa thai, nên theo dõi cẩn thận đáp ứng của buồng trứng.

Ở những bệnh nhân đang dùng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, nguy cơ đa thai chủ yếu liên quan đến số phôi được chuyển, chất lượng phôi và tuổi của bệnh nhân.

Bệnh nhân cần được thông báo về nguy cơ có thể sinh nhiều con trước khi bắt đầu điều trị.

Sẩy thai

Tỷ lệ sẩy thai ở những bệnh nhân đang được điều trị kích thích nang noãn gây rụng trứng hoặc cho kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cao hơn so với nhóm bình thường.

Thai lạc chỗ

Những phụ nữ có tiền sử bệnh vòi trứng có thai do thụ thai tự nhiên hoặc nhờ trị liệu về sinh sản đều có nguy cơ bị thai lạc chỗ. Tần suất thai lạc chỗ sau khi dùng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã được báo cáo cao hơn nhóm thông thường.

Khối u hệ sinh dục

Đã có báo cáo về khối u buồng trứng và khối u khác của hệ sinh dục cả lành tính và ác tính ở những phụ nữ đã dùng nhiều thuốc để điều trị vô sinh. Chưa rõ có phải việc điều trị bằng gonadotropin có làm tăng nguy cơ bị những khối u này ở phụ nữ bị vô sinh hay không.

Dị dạng bẩm sinh

Tần suất dị dạng bẩm sinh sau khi dùng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có thể hơi cao hơn so với sau khi thụ thai tự nhiên. Điều này được cho là do các đặc tính khác nhau của cha mẹ (như tuổi người mẹ, tính chất của tinh trùng) và do đa thai.

Thuyên tắc huyết khối

Ở những phụ nữ đã từng hay đang bị chứng thuyên tắc huyết khối hoặc có các yếu tố nguy cơ chung cho khả năng bị thuyên tắc huyết khối như tiền sử cá nhân hoặc gia đình, việc điều trị bằng gonadotropin có thể làm tăng thêm nguy cơ xảy ra hay làm xấu đi tình trạng trên. Ở những phụ nữ này, cần cân nhắc giữa lợi ích của việc dùng gonadotropin và các nguy cơ. Tuy nhiên cần lưu ý là bản thân sự có thai cũng như hội chứng quá kích buồng trứng cũng dẫn đến tăng nguy cơ bị thuyên tắc huyết khối.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Chưa có nghiên cứu về tác động trên khả năng lái xe và sử dụng máy móc. Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: X

Thời kỳ mang thai:

Không được sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú.

Không có chỉ định dùng Gonal-F trong khi có thai. Tuy nhiên, dữ liệu trên số lượng giới hạn phụ nữ lỡ dùng thuốc khi đang mang thai (ít hơn 300 phụ nữ sinh con) cho thấy không có dị dạng hay độc tính trên bào thai của Gonal-F.

Chưa thấy tác dụng sinh quái thai trong các nghiên cứu ở động vật (xem phần An toàn tiền lâm sàng).

Trong trường hợp dùng thuốc khi có thai, dữ liệu lâm sàng không đủ để loại trừ tác dụng sinh quái thai của Gonal-F.

Thời kỳ cho con bú:

Không chỉ định dùng Gonal-F trong khi cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Tác dụng phụ được báo cáo thường gặp nhất là nhức đầu, nang buồng trứng và phản ứng tại chỗ tiêm (đau, đỏ, thâm tím, sưng và/hoặc kích thích ở chỗ tiêm).

Hội chứng quá kích buồng trứng (OHSS) được báo cáo thường gặp từ nhẹ đến trung bình và được xem như nguy cơ tiềm ẩn của quá trình kích thích. Hội chứng quá kích buồng trứng trầm trọng (OHSS) thì ít gặp (xem phần Chú ý đề phòng). Thuyên tắc huyết khối, thường liên quan với hội chứng quá kích buồng trứng trầm trọng rất hiếm xảy ra (xem phần Chú ý đề phòng).

Rối loạn hệ miễn dịch

Rất hiếm: phản ứng dị ứng từ nhẹ đến nặng kể cả phản ứng quá mẫn và sốc.

Rối loạn hệ thần kinh

Rất thường gặp: nhức đầu.

Rối loạn mạch máu

Rất hiếm: Thuyên tắc huyết khối, thường liên quan với hội chứng quá kích buồng trứng trầm trọng (xem phần Chú ý đề phòng).

Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất

Rất hiếm: Làm nặng hoặc làm xấu đi cơn hen.

Rối loạn tiêu hóa

Thường gặp: đau bụng, đầy bụng, khó chịu, buồn nôn, nôn, tiêu chảy.

Rối loạn hệ sinh sản và vú

Rất thường gặp: Nang buồng trứng.

Thường gặp: Hội chứng quá kích buồng trứng từ nhẹ hoặc trung bình (kể cả triệu chứng liên quan).

Ít gặp: Hội chứng quá kích buồng trứng trầm trọng (kể cả triệu chứng liên quan) (xem phần Chú ý đề phòng).

Hiếm gặp: Biến chứng của hội chứng quá kích buồng trứng.

Rối loạn chung và vị trí tiêm thuốc

Rất thường gặp: Phản ứng tại chỗ tiêm (đau, đỏ, thâm tím, sưng và/hoặc kích thích ở chỗ tiêm).

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Dùng đồng thời Gonal-F với các thuốc kích thích rụng trứng khác (như hCG, clomiphene citrate) có thể làm tăng đáp ứng của nang noãn, trong khi đó sử dụng đồng thời chất đồng vận hoặc đối vận GnRH để trơ hóa tuyến yên có thể phải tăng liều Gonal-F để đạt được đáp ứng đầy đủ của buồng trứng. Chưa có báo cáo tương tác thuốc đáng kể về lâm sàng trong khi điều trị bằng Gonal-F.

Chưa có số liệu được biết về tương tác thuốc. Thay đối kết quả xét nghiệm: CG có thế gây ảnh hưởng tới xét nghiệm miễn dịch phóng xạ định lượng các gonadotropin, đặc biệt với LH.

4.9 Quá liều và xử trí:

Các tác dụng khi dùng quá liều Gonal-F chưa được biết, tuy nhiên có thể xuất hiện hội chứng quá kích buồng trứng (xem Chú ý đề phòng).

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Phân loại: Hormones tuyến yên – Hormon kích thích tạo nang trứng – Gonadotropins

Mã ATC: G03GA05.

Follitrope là hormon kích thích nang noãn người tái tổ hợp (FSH) được tạo ra từ các tế bào buồng trứng của chuột đồng (Chinese hamster). Chức năng sinh học chính của FSH là phối hợp với hormon hoàng thể hóa (LH) điều hòa quá trình trưởng thành của noãn ở phụ nữ và tạo tinh trùng ở nam giới. Cấu trúc của Follitrope tương tự như FSH do tuyến yên tiết ra. FSH ở người là một glycoprotein được cấu tạo bởi hai tiểu đơn vị α và β có chứa lần lượt 92 amino acid (C437H682N122O134S13) và 111 amino acid (C538H833N122O134S13) nối với nhau bằng liên kết phi cộng hóa trị. Hai tiểu đơn vị này là sản phẩm của nhiều gen khác nhau. Mỗi tiểu đơn vị có 2 vị trí gắn N-glycosyl, đó là Asn 52 và Asn 78 ở tiểu đơn vị α, Asn 7 và Asn 24 ở tiểu đơn vị β. Lien kết N-glycosyl với asparagin được đặt trưng bằng acid sialic mang điện tích âm ở phần cuối của chuỗi carbohydrat, Các liên kết glycosyl làm tăng độ ổn định của protein, do đó tăng lực tác dụng sinh học của FSH. Phân tử càng ít liên kết glycosyl (hay càng ít mang điện tích âm), protein càng kém ổn định, trong khi hoạt tính gắn thụ thể lại cao hơn. Điều này cho thấy các yếu tố quyết định kháng nguyên (epitop) bị cản trở một phần bởi sự có mặt của các chuỗi carbohydrat cồng kềnh. Tuy nhiên, liên kết O-glycosyl với serin không được tìm thấy ở cả hai tiểu đơn vị.

Ở phụ nữ, tác dụng quan trọng nhất khi dùng follitropin đường tiêm là sự phát triển của các nang Graaf. Ở những phụ nữ không rụng trứng, mục tiêu của liệu pháp GONAL-f là kích thích nang Graaf trưởng thành duy nhất, từ đó trứng sẽ được phóng ra sau khi tiêm hCG.

Hiệu quả lâm sàng và an toàn ở phụ nữ: Trong các thử nghiệm lâm sàng, bệnh nhân bị thiếu hụt FSH và LH trầm trọng được xác định bằng nồng độ LH huyết thanh nội sinh <1,2 IU / l khi làm xét nghiệm máu. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng có sự khác nhau giữa các cách đo LH được thực hiện trong các xét nghiệm khác nhau.

Trong các nghiên cứu lâm sàng so sánh r-hFSH (follitropin alfa) và FSH niệu trong nghiên cứu ART (xem bảng sau) và trong kích thích rụng trứng, GONAL-f có tiềm năng hơn so với FSH niệu về tổng liều thấp hơn và thời gian điều trị ngắn hơn cho sự kích hoạt sự trưởng thành của nang trứng.

Trong nghiên cứu ART, GONAL-f với tổng liều thấp hơn và thời gian điều trị ngắn hơn FSH niệu, dẫn đến số lượng tế bào trứng thu được cao hơn so với FSH niệu. (Xem Bảng 1.)

Sự khác biệt giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê (p <0,05) đối với tất cả các tiêu chí được liệt kê.

Hiệu quả lâm sàng và tính an toàn ở nam giới: Ở nam giới thiếu FSH, GONAL-f dùng đồng thời với hCG trong ít nhất 4 tháng sẽ gây ra quá trình sản sinh tinh trùng.

Cơ chế tác dụng:

Cơ chế tác dụng của gonadotropin nhau thai (HCG) giống tác dụng của LH: Ớ nam, CG kích thích tế bào Leydig của tinh hoàn biệt hóa và sản xuất androgen. Thuốc cũng làm các tế bào Sertoli của tinh hoàn biệt hóa và trưởng thành sớm, kích thích sản xuất androgen nên làm phát triển sớm đặc tính giới tính thứ phát ở trẻ nam tiền dạy thì và có thể làm tinh hoàn đi xuống nếu không có cản trở. Ớ nữ, HCG gây phóng noãn (sau khi đã kích thích đầy đủ bằng FSH), làm phát triển hoàng thể và kích thích bài tiết progesteron.

Menotropin (HMG), urofollotropin, follotropin alpha và beta tác dụng như FSH. Ở nữ, FSH kích thích và làm trưởng thành nang noãn và noãn. FSH tác động vào đầu chu kỳ kinh và tăng cho tới khi phóng noãn. FSH làm nang noãn trưởng thành một cách đặc biệt ngay cả khi có LH tăng tiết. Nếu vào cuối giai đoạn sinh nang noãn mà kết hợp cho hCG thì phóng noãn sẽ xảy ra. Ớ nam, FSH có vai trò trong tạo tinh trùng.

Gonadotropin huyết thanh lấy được từ huyết thanh ngựa cái mang thai, hiện nay ít dùng.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Sau khi tiêm tĩnh mạch, Gonal-F được phân bố vào dịch gian bào với thời gian bán hủy ban đầu khoảng 2 giờ và được bài tiết ra khỏi cơ thể với thời gian bán hủy cuối khoảng một ngày. Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định là 10 lít và độ thanh thải toàn phần là 0,6 lít/giờ. 1/8 liều Gonal-F được bài tiết trong nước tiểu.

Sau khi được tiêm dưới da, sinh khả dụng tuyệt đối khoảng 70%. Sau khi tiêm nhắc lại, Gonal-F tích lũy gấp 3 lần đạt trạng thái ổn định trong 3-4 ngày. Ở phụ nữ mà sự bài tiết gonadotrophin nội sinh bị ức chế, Gonal-F kích thích một cách hiệu quả đến sự phát triển nang noãn và tạo steroid mặc dù không định lượng được nồng độ LH.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

30 mg sucrose, 1.11 mg dibasic sodium phosphate dihydrate , 0.45 mg monobasic sodium phosphate monohydrate.

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản trong tủ lạnh (2-8oC). Không làm đông lạnh.

Trước khi mở thuốc và còn hạn dùng, có thể bảo quản thuốc ở nhiệt độ bằng hoặc dưới 25oC cho đến 3 tháng mà không cần để lạnh nữa và phải hủy bỏ nếu thuốc không được sử dụng sau 3 tháng.

Bảo quản thuốc trong bao bì gốc để tránh ánh sáng.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam