Doxorubicin – Emilox

 Thuốc Emilox là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Emilox (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Doxorubicin

Phân loại: Thuốc chống ung thư. Nhóm anthracyclin

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01DB01.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Emilox

Hãng sản xuất : Công ty cổ phần công nghệ sinh học dược Nanogen.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch đậm đặc pha truyền tĩnh mạch 50 mg/25 ml; 10 mg/5 ml

Thuốc tham khảo:

EMILOX
Mỗi ml dung dịch đậm đặc có chứa:
Doxorubicin …………………………. 2 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Doxorubicin được dùng để điều trị:

Ung thư phổi tế bào nhỏ, ung thư khí phế quản

Ung thư vú

U lympho ác tính cả 2 dạng (Hodgkin và không Hodgkin).

Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy; bệnh bạch cầu cấp dòng lympho; đa u tủy tiến triển

Sarcom xương; sarcom mô mềm; u xương Ewing; u bao hoạt dịch ác tính

Ung thư buồng trứng, ung thư tử cung, ung thư âm đạo, ung thư bàng quang, ung thư tinh hoàn, ung thư tuyến tiền liệt, U Wilm

Ung thư tuyến giáp

U nguyên bào thần kinh tiến triển

Ung thư dạ dày

U nguyên bào võng mạc

Ung thư đầu cổ

Ung thư Kaposi

Trong điều trị ung thư, Doxorubicin còn được dùng phối hợp với các thuốc hóa trị khác và với các phương pháp trị liệu khác (ngoại khoa, xạ trị).

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Truyền tĩnh mạch

Doxorubicin gây kích thích mạnh lên mô nên không được tiêm bắp, dưới da, không tiêm thuốc trực tiếp đường tĩnh mạch do nguy cơ thuốc thoát ra ngoài mạch. Chỉ được dùng qua đường truyền tĩnh mạch có sẵn. cẩn thận khi truyền để tránh thoát mạch.

Dung dịch đậm đặc doxorubicin 2mg/ml nên được pha loãng đến nồng độ 1 mg/ml hoặc 0,1 mg/ml bằng dung dịch natri clorid 0,9% hoặc glucose 5%. Dung dịch sau khi pha được truyền chậm vào đường truyền có sẵn dung dịch Natri clorid 0,9% hoặc Glucose 5%. Nên truyền qua tĩnh mạch lớn. Kỹ thuật này nhằm giảm thiểu nguy cơ hình thành huyết khối hoặc hiện tượng thuốc thoát ra ngoài tĩnh mạch gây viêm mô tế bào nghiêm trọng, sưng tấy hoặc hoại tử. Liều dùng và độ lớn của tĩnh mạch sẽ quyết định tốc độ truyền, không nên dưới 3-5 phút. Doxorubicin nên được truyền bởi nhân viên y tế đã được huấn luyện. Việc chuẩn bị thuốc cần được thực hiện ở khu vực riêng biệt (tốt nhất là trong tủ an toàn pha chế thuốc gây độc tế bào). Phải mặc trang phục bảo hộ, đeo khẩu trang, găng tay và kính bảo hộ thích hợp. Nếu dung dịch tiếp xúc với da hoặc màng nhầy, cần lập tức rửa sạch vùng tiếp xúc bằng xà phòng và nước sạch thật kỹ. Phụ nữ mang thai không nên tiếp xúc với các chất gây độc tế bào như Doxorubicin.

Đề nghị dùng kim nòng lớn để giảm thiểu áp lực và khả năng hình thành bọt khí. Cũng có thể giảm bọt khí bằng cách thông kim khi chuẩn bị thuốc.

Dụng cụ pha thuốc và những vật thải trong quá trình pha thuốc phải được thu gom và thải bỏ theo đúng qui định thải bỏ nhóm chất thải nguy hại không lây nhiễm. Thuốc sau khi pha loãng cần được bảo quản ở 2-8°C, không được đông lạnh, tránh ánh sáng, và được khuyến cáo sử dụng trong vòng 12 giờ.

Truyền nhỏ giọt bàng quang

Truyền nhỏ giọt bàng quang được sử dụng trong điều trị ung thư bàng quang và carcinom tại chỗ, hay dự phòng tái phát sau phẫu thuật cắt bỏ khối u qua đường niệu đạo, không được dùng để điều trị các u đã xâm lấn vào thành bàng quang.

Kỹ thuật:

Để tránh thuốc bị pha loãng do nước tiểu, người bệnh không được uống bất cứ dịch nào trong vòng 12 giờ trước khi truyền nhỏ giọt bàng quang.

Đặt ống thông tiểu và rút hết nước tiểu ra khỏi bàng quang.

Sử dụng dung dịch Doxorubicin nồng độ 1 mg/ml (30 mg/30ml – 50 mg/50 ml) nhỏ giọt qua ống thông bàng quang.

Sau đó, rút ống thông ra, để bệnh nhân nằm nghiêng một bên. Cứ cách 15 phút bệnh nhân đổi thế nằm sang bên kia, trong khoảng hơn 1 giờ. Bệnh nhân không được tiểu trong thời gian này.

Quy trình này được nhắc lại mỗi tuần hoặc mỗi tháng tùy thuộc vào việc phòng bệnh hay chữa bệnh

Liều dùng:

Việc sử dụng Doxorubicin phải có sự chỉ định và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa. Để có kết quả điều trị tốt nhất với ít tác dụng không mong muôn, liều dùng phải được dựa trên đáp ứng lâm sàng, tình trạng tim mạch, thận, gan, huyết học của bệnh nhân.

Cần giảm liều ở bệnh nhân đã được xạ trị dài ngày trước đó, đặc biêt xạ trị ở vùng trung thất, màng ngoài tim; bệnh nhân bị các tế bào ác tính xâm nhập vào tủy xương, người bệnh suy tủy (vì có thể dẫn đến ức chế tủy xương nặng).

Liều lượng Doxorubicin được tính theo diện tích da.

Đơn trị liệu: liều bắt đầu 60 – 75 mg/m2 diện tích da, truyền tĩnh mạch, 1 lần/ mỗi 21 ngày. Dùng liều thấp hơn đối với người bệnh suy tủy.

Một cách điều trị khác: dùng đơn trị liệu doxorobicin liều 15-20 mg/m2 diện tích da, truyền tĩnh mạch, 1 lần/ mỗi tuần; hoặc 20 – 25 mg/m2 diện tích da, truyền tĩnh mạch, 1 lần/ ngày trong 3 ngày liên tiếp, cách nhau 4 tuần. Để tránh bệnh cơ tim, tổng liều điều trị không được vượt quá 550 mg/m2 diện tích da.

Điều trị phối hợp: Nếu kết hợp Doxorubicin với một thuốc hóa trị liệu khác, giảm liều đến 30 – 40 mg/m2 diện tích da, truyền tĩnh mạch, mỗi lần cách nhau 21 ngày.

Người bị suy giảm chức năng gan: liều giảm như sau:

Nồng độ bilirubin huyết thanh Liều khuyến cáo
20 – 50 micromol/L

(1,2 -3,0 mg/100 mL)

50% liều thông thường
> 50 micromol/L

(> 3,0 mg/100 mL)

25% liều thông thường

Ở bệnh nhân suy gan nặng, không sử dụng Doxorubicin.

Người bị suy giảm chức năng thận nặng (GFR < 10 mL/phút): dùng 75% liều thông thường.

Ngưòi béo phì: Giảm liều ở người béo phì.

Trẻ em: Nên giảm liều ở trè em.

Người cao tuổi: Nên giảm liều nếu cần ở người cao tuổi. Tổng liều không được vượt quá 450 mg/m2 diện tích da đối với người bệnh trên 70 tuổi.

4.3. Chống chỉ định:

Mẫn cảm với Doxorubicin hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc, hoặc các dẫn xuất anthracyclin hoặc anthracenedion

Người bệnh đã điều trị bằng Doxorubicin hoặc Daunorubicin với đủ liều tích lũy

Có biểu hiện suy giảm chức năng tùy xương rõ (số lượng bạch cầu đa nhân dưới 1500/mm3)

Viêm niêm mạc miệng nghiêm trọng sau khi điều trị với hóa trị hoặc xạ trị trước đó.

Có hiện tượng nhiễm trùng toàn thân.

Suy chức năng gan nặng.

Rối loạn nhịp tim nghiêm trọng, suy tim, tiền căn nhồi máu cơ tim, viêm tim cấp.

Những trường hợp sau không dùng thuốc qua đường truyền nhỏ giọt bàng quang:

Ung thư đã xâm lấn vào thành bàng quang.

Nhiễm trùng đường tiểu.

Viêm bàng quang.

Gặp vấn đề khi đặt ống thông.

Tiểu ra máu

4.4 Thận trọng:

Giám sát bệnh nhân trong khi điều trị

Bắt đầu điều trị bằng Doxorubicin đòi hỏi phải theo dõi nghiêm ngặt bệnh nhân và làm nhiều xét nghiệm, nên bệnh nhân cần được nhập viện trong giai đoạn đầu điều trị. Xét nghiệm công thức máu và theo dõi chức năng gan, tim (đặc biệt là phân suất tống máu thất trái bằng siêu âm tim) cần được thực hiện trước mỗi lần điều trị bằng Doxorubicin.

Doxorubicin không được tiêm bắp, dưới da. Sự thoát mạch của Doxorubicin khi tiêm tĩnh mạch có thể dẫn đến tổn thương mô và hoại tử nghiêm trọng, xơ hóa tĩnh mạch có thể xảy ra do tiêm vào các mạch máu nhỏ hoặc tiêm lặp lại ở cùng 1 tĩnh mạch. Do đó để giảm thiểu nguy cơ thoát mạch và đảm bảo máu có thể lưu thông bình thường trong tĩnh mạch sau khi tiêm thuốc, không tiêm thuốc trực tiếp, khuyến cáo truyền thuốc qua dây truyền dịch có chứa Natri clorid 0,9% hoặc Glucose 5%, sau khi đảm bảo mũi kim đã luồn đúng vị trí trong tĩnh mạch. Tỷ lệ xảy ra thoát mạch phụ thuộc vào kích thước tĩnh mạch. Một điểm lưu ý quan trọng là thuốc cần được tiêm chậm hơn 3-5 phút. Ban đỏ cục bộ xuất hiện dọc theo tĩnh mạch cũng như sự kích ứng bề mặt có thể là dấu hiệu của sự truyền thuốc quá nhanh. Nếu có dấu hiệu thoát mạch hoặc nếu người bệnh kêu buốt hoặc rát bỏng ở chỗ tiêm phải ngừng truyền ngay và tìm một tĩnh mạch khác, cần chườm lạnh vùng tiêm và có thể tiêm tại chỗ Dexamethason hoặc Hydrocortison để giảm thiểu hoại tử, cũng có thể bôi kem hydrocortison 1% vào chỗ tiêm.

Công thức máu

Cần phải đặc biệt chú ý đến tổng số và số lượng từng loại bạch cầu do Doxorubicin gây ức chế tủy xương, cần theo dõi chặt chẽ chi số huyết học vì hiện tượng ức chế tủy xương kéo dài có thể dẫn đến nhiễm trùng nghiêm trọng hoặc xuất huyết. Ở liều điều trị bướu đặc, sự suy giảm bạch cầu nghiêm trọng có thể xảy ra (khi điều trị với liều Doxorubicin đầy đủ, tổng số bạch cầu có thể xuống khoảng 1000/mm3 hoặc thấp hơn). Tuy nhiên tình trạng suy giảm bạch cầu thường chỉ xảy ra tức thời, xuống tới mức thấp nhất vào ngày thứ 10 – 14 và thường hoàn toàn hồi phục vào ngày thứ 21. Tiểu cầu và hồng cầu cũng cần được theo dõi. Tác dụng gây độc trên hệ thống tạo máu có thể dẫn đến giảm liều hoặc ngưng điều trị với Doxorubicin. Khi sử dụng Doxorubicin cùng với các thuốc hóa trị khác có cùng tác dụng dược lý, có thể gây tăng độc tính trên tủy xương. Do đó cần áp dụng các phương pháp thích hợp để phòng ngừa nhiễm trùng thứ phát.

Chức năng gan

Doxorubicin được đào thải phân lớn qua gan và mật nên thuốc chậm thải trừ trong trường hợp chức năng gan bị suy giảm hoặc sự tiêt mật gặp khó khăn, từ đó có thể dẫn đến những tác dụng không mong muốn nghiêm trọng. Nên giảm liều trong truờng hợp suy giảm chức năng gan.

Sự thay đổi chức năng gạn khi sử dụng đồng thời với các thuốc chống ung thư khác hoặc thuốc điều trị bệnh lý đi kèm có thể tác động đến sự chuyển hóa, dược động học, hiệu quả điều trị và độc tính của Doxorubicin.

Chức năng tim

Độc tính trên tim mạch là một nguy cơ khi điều trị với anthracyclin. Độc tính nghiêm trọng và điển hình nhất trên tim mạch là cản trở co bóp tim, thường xảy ra nêu dùng liều tích lũy cao và dẫn đến suy tim xung huyết Cần đánh giá chức năng tim mạch trước khi tiến hành điều trị với Doxorubicin và phải theo dõi trong suốt quá trình điều trị để giảm thiểu nguy cơ suy tim nặng.

Đánh giá chức năng tim khi sử dụng Doxorubicin bao gồm: đo điện tim (ECG) và đánh giá phân suất tống máu thất trái (LVEF). Sự thay đổi điện tim thường biểu thị độc tính nhất thời, nhưng sự giảm điện thế đoạn sóng QRS hoặc kéo dài thời gian pha tàm thu, cũng như giảm phân suất tống máu thất trái, có thể là biểu hiện cơ bản của độc tính trên cơ tim do anthracyclin. Nguy cơ suy tim xung huyết xảy ra khoảng 1 -2% ở nồng độ tích lũy 300 mg Doxorubicin/m2 diện tích da, tăng chậm khi tăng nồng độ lên 450-550 mg/m2 diện tích da. Qua khỏi ngưỡng này, nguy cơ sẽ tăng vọt theo đường dốc, do đó không nên vượt quá ngưỡng nồng độ tích lũy 550 mg/m2 diện tích da.

Nếu có thêm các yếu tố nguy cơ trên tim mạch khác, tác dụng gây độc tính trên tim của Doxorubicin có thể xảy ra ở nồng độ tích lũy thấp hơn và việc theo dõi xù lý các trường hợp này cần đặc biệt nghiêm ngặt. Yếu tố nguy cơ gây tăng độc tính trên tim bao gồm: tiền sử bệnh tim, xạ trị trước hoặc đồng thời ở vùng trung thất, màng ngoài tim, tiền sử điều trị với anthracyclin hoặc anthracenedion, sử dụng đồng thời với các thuốc tác động lên tim hoặc với các thuốc có khả năng gây độc tim khác (ví dụ nhu cyclophosphamid, 5-fluorouracil hoặc trastuzumab). Nhóm anthracyclin bao gồm Doxorubicin không nên dùng kết hợp với các tác nhân gây độc tim khác trừ khi chức năng tim mạch của bệnh nhân được theo dõi nghiêm ngặt.

Hầu hết tác dụng gây độc tim của Doxorubicin xuất hiện ừong thời gian điều trị và kéo dài đến 2 tháng sau điều trị. Tuy nhiên, những biến cố muộn (nhiều tháng thậm chí nhiều năm sau khi dừng điều trị) vẫn xảy ra. Bệnh cơ tim biển hiện bởi giảm phân suất tống máu thất trái và/ hoặc triệu chứng suy tim xung huyết như khó thở, phù phổi, tim và gan to, thiểu niệu, cổ trướng, tràn dịch màng phổi, và tiếng ngựa phi (gallop). Những tác dụng bán cấp như viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim cũng đa được ghi nhận, cần lưu ý suy tim xung huyết gây ảnh hưởng đến tính mạng là biến cố nghiêm trọng nhất của bệnh lý cơ tim do anthracyclin ở liều độc tính tích lũy của thuốc. Cũng tương tự như các tác nhân gây độc tế bào khác, hiện tượng viêm tĩnh mạch và hình thành huyết khối, bao gồm tắc động mạch phổi (có trường hợp tử vong), cũng xảy ra khi sử dụng Doxorubicin.

Đột biến gây ung thư

Doxorubicin thể hiện đặc tính gây đột biến và ung thư khi thử trên các mô hình thí nghiệm. Doxorubicin có thể gây hiện tượng vô sinh trong thời gian dùng thuốc. Ở phụ nữ, Doxorubicin có thể gây mất kinh. Mặc dù sự rụng trứng và kinh nguyệt có thể trở lại bình thường khi kết thúc điều trị, hiện tượng mãn kinh sớm có thể xảy ra.

Hội chứng ly giải khối u

Giống như các thuốc gây độc tế bào khác, Doxorubicin có thể gây tăng acid uric huyết thứ cấp để làm ly giải nhanh các tế bào khối u (hội chứng ly giải khối u). Bác sỹ điều trị cần theo dõi nồng độ acid uric máu, kali, calci phosphat và creatinin của bệnh nhân, và chuẩn bị các phương pháp hỗ trợ cần thiết để kiểm soát vấn đề này. Hydrat hóa, alkalin hóa nước tiểu và phòng ngừa tăng acid uric huyết bằng allopurinol có thể giảm thiểu khả năng xảy ra hội chứng ly giải khối u.

Thận trọng khác

Doxorubicin có thể tăng sự biểu hiện độc tính của các liệu pháp chống ung thư khác.

Doxorubicin cũng gây độc trên các cơ quan sinh sản ở động vật đực thí nghiệm, gây teo tinh hoạn, thoái hóa ống dẫn tinh, và xuất ít tinh dịch. Doxorubicin gây đột biến và có thể gây tổn thương nhiễm sắc thể ở tinh trùng người. Tình trạng ít tinh trùng hoặc bế tinh có thể kéo dài vĩnh viễn, tuy nhiên, một vài trường hợp đã ghi nhận được sự pliục hồi số lượng tinh trùng về mức bình thường sau khi ngưng điều trị với Doxorubicin. Hiện tượng này có thề xảy ra nhiếu năm sau khi kết thúc điều trị. Nam giới đang điều trị với Doxorubicin nên sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả.

Sự thải trừ của Doxorubicin giảm ở những người béo phì, nên những bệnh nhân này cần được theo dõi cẩn thận và giảm liều khi cần thiết.

Nha khoa: Bệnh nhân không nên thực hiện các điều trị nha khoa trong quá trình điều trị với Doxorubicin.

Doxorubicin có thể làm nước tiểu chuyển thành màu đỏ trong thời gian điều trị với thuốc.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Chóng mặt và hoa mắt có thể xảy ra khi dùng thuốc. Bệnh nhân sử dụng Doxorubicin cần thận trọng khi lái xe và vận hành máy móc, nếu có dấu hiệu chóng mặt hay buồn ngủ cần ngừng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: D

Thời kỳ mang thai:

Doxorubicin gây quái thai ở chuột và sảy thai ở thỏ. Phụ nữ có khả năng mang thai trong giai đoạn điều trị với Doxorubicin nên được cảnh báo về nguy cơ gây nguy hiểm cho bào thai và nên được khuyên tránh mang thai trong thời gian điều trị. Nếu cần thiết sử dụng Doxorubicin ở phụ nữ có thai, cần cân nhăc giữa lợi ích điều trị và nguy cơ ảnh hưởng đến thai nhi.

Thời kỳ cho con bú:

Doxorubicin bài tiết vào sữa và có thể gây giảm khả năng miễn dịch, ung thư, giảm bạch cầu và ảnh hưởng lên sự tăng trưởng của trẻ. Người đang cho con bú cần điều trị với Doxorubicin phải ngưng cho con bú

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Tác dụng không mong muốn của Doxorubicin phụ thuộc vào đường dùng, liều dùng, và tần suất sử dụng. Có một số tác dụng không mong muốn nghiêm trọng cần được theo dõi chặt chẽ và có biện pháp hỗ trợ kịp thời. Suy giảm chức năng tủy xương là tác dụng không mong muốn nghiêm trọng nhạy với giới hạn liều dùng nhưng có thể hồi phục, cần chú ý sự tích lũy thuốc gây độc cho tim, tổng liều tích lũy tối đa không nên vượt giới hạn 550 mg/m2 diện tích da. Buồn nôn, nôn và rụng tóc thường thấy ở tất cả các bệnh nhân.

Thường gặp, ADR > 1/100

Toàn thân: Chán ăn, sốt, chóng mặt.

Hệ tạo máu: Suy giảm chức năng tủy xương, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu.

Tuần hoàn: Bệnh cơ tim (2%), thay đối điện tâm đồ (ECG) trong thời gian ngắn.

Tiêu hóa: Buồn nôn, nôn, viêm miệng, ỉa chảy, chán ăn.

Da: Rụng tóc, ban đỏ dọc theo tĩnh mạch tiêm thuốc, sẫm màu móng tay, bong móng.

Các loại khác: Phản ứng tại chỗ gây kích ứng bàng quang, niệu đạo (đái ra máu, viêm bàng quang xuất huyết), đặc biệt ngây sau khi bơm thuốc vào bàng quang.

Ít gặp, 1/1 000 < AdR < 1/100

Trên da: Phát ban, ban đỏ, mày đay lan rộng.

Tiết niệu – sinh dục: Tăng acid uric máu.

Tiêu hóa: Dùng cùng với cytarabin đôi khi gây loét và hoại tử đại tràng, đặc biệt biểu mô manh tràng. Cần chú ý theo dõi.

Hiếm gặp, ADR < 1/1 000

Toàn thân: Phản ứng phản vệ, rét run, hoa mắt.

Mắt: Viêm kết mạc.

Tiêu hóa: Buồn nôn, nôn thường xảy ra 24 giờ đầu sau khi dùng thuốc. Viêm niêm mạc (viêm miệng, thực quản) sau 5 – 10 ngày, thường nặng và hay gặp hơn khi điều trị 3 ngày liên tục.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Điều trị kết hợp Doxorubicin và các thuốc độc tế bào khác như nhóm anthracyclin (Daunorubicin, Epirubicin, Idarubicin), Cisplatin, Cyclophosphamid, Cyclosporin, Cytarabin, Paclitaxel, Dacarbazin, Dactinomycin, Fluorouracil, Mitomycin c và Taxan làm tăng nguy cơ độc tính trên tim, gây suy tim sung huyết, do đó cần theo dõi chặt chẽ chức năng tim mạch trong quá trình điều trị.

Sử dụng đồng thời với các thuốc tác động lên tim (như thuốc ức chế kênh calci, Propranolol), hoặc với các thuốc có khả năng gây độc tim khác (như cyclophosphamid, 5-fluorouracil hoặc trastuzumab) cũng làm tăng nguy cơ gây độc trên tim của Doxorubicin.

Việc sử dụng Anthracyclin sau khi đã ngưng điều trị với các tác nhân gây độc tim có thời gian bán thải dài như trastuzumab, cũng có thể gia tăng nguy cơ gây độc tim của Anthracyclin. Vì thời gian bán thải của Trastuzumab khoảng 28,5 ngày và tồn tại trong hệ thống tuần hoàn lên đến 24 tuần. Do đó, nên hạn chế sử dụng Anthracyclin trong vòng 24 tuần sau khi ngừng điều trị với Trastuzumab.

Tác dụng gây độc tính trên tim của Doxorubicin cũng gia tăng khi sử dụng cùng lúc với Cyclophosphamid. Doxorubicin làm nặng thêm tình trạng viêm đường tiểu dưới do Cyclophosphamid bao gồm khó tiểu và xuất huyết niệu.

Doxorubicin dùng đồng thời với Actinomycin – D và Plicamycin đã có trường hợp tử vong do bệnh cơ tim.

Khi sử dụng Doxorubicin cùng với Progesterol làm tăng nguy cơ giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu.

Clozapin làm gia tăng nguy cơ và độc tính của Doxorubicin trên hệ tạo huyết.

Hoại tử ruột già kèm với xuất huyết ồ ạt và nhiễm trùng nặng có thể xảy ra khi sử dụng kết hợp với Cytarabin.

Doxorubicin chuyển hóa qua hệ Cytochrom P450 (CYP450). Do đó các thuốc ức chế CYP450 làm tăng nồng độ Doxorubicin trong huyết thanh và làm tăng độc tính.

Ciclosporin, Cimetidin, Ritonavữ, Sorafenib làm tăng nồng độ và độc tính của Doxorubicin nên cần giảm liều Doxorubicin khi sử dụng cùng lúc.

Doxorubicin làm tăng độc tính của Mercaptopurin, Azathioprin, Methotrexate đối với gan và ngược lại.

Rifampicin, và các thuốc nhóm Barbiturat có thể làm giảm tác dụng của Doxorubicin do làm tăng thanh thải huyết tương.

Doxorubicin làm giảm hấp thu Phenytoin.

Doxorubicin làm giảm hấp thu Ciprofloxacin và làm tăng nguy cơ độc thần kinh.

Độc tính trên thận của Amphotericin B cũng có thể xảy ra khi điều trị với Doxorubicin.

Doxorubicin ức chế tác dụng kháng virus của Stavudin, và làm giảm sinh khả dụng đường uống của Digoxin.

Verapamil làm tăng tác dụng của Doxorubicin cả trong môi trường nuôi cấy mô và trên người bệnh.

Sự tăng độc tính của Doxorubicin do xạ trị (trên cơ tim, màng nhầy, da và gan) cũng đã được báo cáo.

Tiêm vắc xin sống hoặc vắc xin sống giảm hoạt lực trên những bệnh nhân suy giảm miễn dịch bởi tác nhân hóa trị ung thư, bao gồm Doxorubicin, có thể dẫn đến nhiễm trùng nghiêm trọng thậm chí tử vong. Do đó, nên tránh dùng vắc xin sống trên những bệnh nhân điều trị bằng Doxorubicin. Có thể sử dụng vắc xin chết hoặc bất hoạt, tuy nhiên, đáp ứng với những loại vắc xin này có thể giảm.

Doxorubicin không được pha truyền với Heparin, Dexamethason, Fluorouracil, Hydrocortison, Aminophylin, Diazepam, Furosemid, Cephalothin, Methotrexat, Allopurinol, Cefepime và Ganciclovir. Dung dịch Doxorubicin có thể sẫm màu hơn (từ đỏ đến tím) nếu pha với Fluorouracil hoặc Aminophylin.

4.9 Quá liều và xử trí:

Quá liều cấp tính Doxorubicin sẽ dẫn đến ức chế tủy xương nặng (chủ yếu là giảm bạch cầu và tiểu cầu), độc tính trên hệ tiêu hóa (chủ yếu là viêm niêm mạc) và độc tính trên tim mạch. Liều dùng duy nhất 250 mg – 500 mg/ m2 diện tích da đã từng gây tử vong.

Sự quá liều có thể gây thoái hóa cấp cơ tim trong vòng 24 giờ và gây suy tủy nặng ảnh hưởng mạnh nhất sau 10-14 ngày sử dụng.

Suy tim cũng có thể xảy ra chậm (6 tháng sau khi dùng thuốc quá liều), nên bệnh nhân cần được theo dõi cẩn thận, nếu có triệu chứng xuất hiện phải được điều trị ngay.

Xử trí: Điều trị hỗ trợ triệu chứng, phòng ngừa những biến chứng nặng có thể xảy ra như chảy máu, nhiễm khuẩn nặng, suy giảm tủy xương kéo dài.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm dược lý/Điều trị: nhóm anthracyclin. Thuốc chống ung thư.

Doxorubicin thuộc nhóm anthracyclin gây độc tế bào được tổng hợp từ daunorubicin.

Doxorubicin kích ứng mạnh các mô và có thể gây hoại tử mô. Hoạt tính sinh học của Doxorubicin là do gắn vào DNA làm ức chê các enzym cần thiết để sao chép và phiên mã DNA, làm ức chế sự tổng hợp DNA, RNA và protein. Doxorubicin gây gián đoạn mạnh chu kỳ phát triển tế bào ở giai đoạn phân bào s và giai đoạn gián phân, nhưng thuốc cũng tác dụng trên các giai đoạn khác của chu kỳ phát triển tế bào.

Doxorubicin có thể dùng đơn trị liệu hoặc phối hợp với thuốc chống ung thư khác. Sự kháng thuốc chéo xảy ra khi khối u kháng cả Doxorubicin và Daunorubicin.

Cơ chế tác dụng:

Hoạt tính sinh học của doxorubicin là do doxorubicin gắn vào DNA làm ức chế các enzym cần thiết để sao chép và phiên mã DNA. Doxorubicin gây gián đoạn mạnh chu kỳ phát triển tế bào ở giai đoạn phân bào S và giai đoạn gián phân, nhưng thuốc cũng tác dụng trên các giai đoạn khác của chu kỳ phát triển tế bào.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu: Doxorubicin không hấp thu được qua đường tiêu hóa và gây kích thích mạnh lên mô nên không được dùng để tiêm bắp hoặc tiêm dưới da, thuốc được dùng theo đường truyền tĩnh mạch, không tiêm thuốc trực tiếp do nguy cơ thuốc thoát ra ngoài tĩnh mạch. Truyền nhỏ giọt bàng quang đã được chứng minh thuốc vào hệ thống tuần hoàn rất ít.

Phân bố: Sau khi được truyền vào tĩnh mạch, Doxorubicin nhanh chóng rời khỏi máu, đi vào các mô nhất là mô phổi, gan, tim, lách, thận. Thể tích phân bổ của Doxorubicin hydroclorid khi truyền tĩnh mạch là khoảng 700 – 1100 lít/m2. Trong huyết tương khoảng 70% Doxorubicin liên kết với protein. Doxorubicin qua hàng rào máu não rất ít, nhưng thuốc qua được nhau thai.

Doxorubicin vào được sữa mẹ với nồng độ cao. Nồng độ thuốc cao nhất trong sữa mẹ tại thời điểm 24 giờ sau khi điều trị với liều 70 mg/m2 diện tích da, truyền tĩnh mạch trong 15 phút, cao gấp 4,4 lần so với nồng độ thuốc trong huyết tương tại thời điểm tương ứng. Doxorubicin được phát hiện còn trong sữa mẹ đến 72 giờ sau điều trị.

Chuyển hóa: Doxorubicin được chuyển hóa chù yếu ở gan tạo thành Doxorubicinon và các aglycon. cần lưu ý là một vài chất chuyển hóa này cũng là chất gây độc tế bào nhưng không độc hơn Doxorubicin. Nồng độ cao các chất chuyển hóa xuất hiện nhanh trong huyết tương với thời gian bán thải ngắn. Thuốc chuyển hóa chậm ở người bị suy giảm chức năng gan.

Thải trừ: Trong vòng 5 ngày dùng thuốc, khoảng 5% liều đào thải qua thận. Trong vòng 7 ngày, khoảng 40 – 50% thải trừ qua mật. Đồ thị nồng độ Doxorubicin trong máu gồm 3 pha: thời gian bán thải trung bình là 12 giờ, 3,3 giờ, và khoảng 30 giờ.

Bệnh nhân suy giảm chức năng gan: sự bài tiết thuốc chậm hơn làm tăng khả năng lưu giữ và tích tụ thuốc trong huyết tương và các mô, vì vậy việc giảm liều là cần thiết.

Bệnh nhân suy giảm chức năng thận nặng (GFR < 10 mL/phút): cần phải giảm liều vì có ảnh hưởng đến sự đào thải chung của thuốc.

Bệnh nhân béo phì: Trong một nghiên cứu ở bệnh nhân béo phì (>130% so với chỉ số BMI chuẩn), độ thanh thải giảm và thời gian bán thải tăng so với nhóm chứng (BMI bình thường). Do đó, cần phải điều chỉnh liều ở người béo phì.

Ở trẻ em: Thử nghiệm sừ dụng liều 10-75 mg/m2 diện tích da Doxorubicin trên 60 trẻ em và thanh thiêu niên từ 2 tháng đến 20 tuổi, kết quả cho thấy độ thanh thải trung bình là 1443 ± 114 mL/phút/m2. Độ thanh thải ở trẻ em trên 2 tuổi khoảng 1540 mL/phút/m2 tăng so với người lớn. Trong khi độ thanh thải của trẻ em dưới 2 tuổi khoảng 813 mL/phút/m2 gần bằng người lớn.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Acid hydrocloric 10% kl/tt, Natri hydroxyd dùng điều chỉnh pH

6.2. Tương kỵ :

Doxorubicin không được trộn với bất cứ thuốc nào sau đây (và cũng không được truyền nhỏ giọt trong cùng dây truyền): Heparin, fluorouracil, aminophylin, cephalothin, methotrexat, dexamethason, diazepam, hydrocortison, furosemid.

Doxorubicin bền vững trong dung dịch truyền phối hợp với vincristin. Một dung dịch phối hợp phố biến trong dung dịch natri clorid 0,9% chứa doxorubicin 1,4 mg/lít và vincristin 0,33 mg/lít. Doxorubicin cũng có thể kết hợp với cyclophosphamid, dacarbazin, bleomycin, vinblastin.

6.3. Bảo quản:

2-8°C, không để đông lạnh, tránh ánh sáng.

Khi dung dịch thuốc đã pha loãng với Natri clorid 0,9% hoặc Glucose 5% để sử dụng cần được bảo quản ở 2- 8°c, không được đông lạnh, tránh ánh sáng, có thể bảo quản tới 15 ngày. Tuy vậy, để đảm bảo vô khuân, khuyến cáo dung dịch đã pha loãng nên sử dụng trong vòng 12 giờ sau khi pha

6.4. Thông tin khác :

Emilox (doxorubicin) thuộc nhóm anthracyclines-nhóm các thuốc điều trị ung thư, phân lập từ môi trường nuôi cấy vi khuẩn Streptomyces peucetius var. caesius. Doxorubicin có công thức hóa học C27H29NO11 , trọng lượng phân tử 543.52g/mol. Cấu trúc hóa học của doxorubicin bao gồm một chuỗi tuần hoàn bốn vòng hydrocarbon (tetracyclic ring), liên kết với nhóm đường daunosamine bằng liên kết glycosidic:

Các nghiên cứu cho thấy, doxorubicin có khả năng gây độc và/hoặc ngăn chặn sự tăng sinh của tế bào thông qua một số cơ chế khác nhau. Hoạt chất thuốc khi xâm nhập vào tế bào, sẽ gắn với nhiễm sắc thể, hình thành phức hợp với DNA bằng cách gắn vòng planar vào giữa các cặp base nucleotide, làm rối loạn nghiêm trọng quá trình tổng hợp DNA, quá trình tổng hợp RNA từ DNA khuôn mẫu và quá trình sinh tổng hợp protein. Những bằng chứng thực nghiệm gần đây cho thấy sự đan xen phân tử này vào DNA ức chế hoạt động của enzyme topoisomearase-II dẫn đến phân tách DNA, gây xáo trộn mạnh cấu trúc bậc ba của phân tử này. Hơn nữa, một số enzyme khử (reductases)-phụ thuộc NADPH trong tế bào có khả năng khử doxorubicin thành các gốc tự do semiquinone, các gốc này có thể phản ứng với phân tử oxygen để hình thành các hợp chất độc tính cao như superoxide, gốc hydroxyl và hydroxyl peroxide. Các gốc tự do được cho là có liên quan đến hiện tượng ngộ độc tim do doxorubicin. Một vị trí tác động khác của doxorubicin là ở màng tế bào: thuốc có thể gắn với màng lipids, gây ảnh hưởng đến rất nhiều chức năng khác nhau của tế bào. Hoạt tính gây độc và/hoặc ngăn chặn sự tăng sinh tế bào của doxorubicin có thể do một trong các cơ chế kể trên hoặc những cơ chế khác chưa được làm rõ.

Kết quả nghiên cứu về động lực học tế bào cho thấy doxorubicin hoạt động trong suốt chu kì tế bào, bao gồm cả kì trung gian. Những mô tăng sinh nhanh như mô ung thư (cũng như mô tủy xương, niêm mạc dạ dày-ruột, niêm mạc miệng, nang tóc) là nơi nhạy cảm nhất với tác động ngăn chặn sự tăng sinh của doxorubicin.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM