Digoxin – Digoxin Anfarm

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Digoxin

Phân loại: Thuốc chống loạn nhịp tim, glycosid trợ tim.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): C01AA05.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Digoxin/ Anfarm

Hãng sản xuất : Anfarm Hellas S.A. – Hy lạp.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Thuốc tiêm: 250 microgam/ml (2 ml).

Thuốc tham khảo:

DIGOXIN/ ANFARM
Mỗi 2ml dung dịch có chứa:
Digoxin …………………………. 0,25 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Kiểm soát suy tim mãn tính mà rối loạn chức năng tâm thu là chủ yếu, đặc biệt khi suy tim kèm theo rung tâm nhĩ.

Kiểm soát chứng loạn nhịp trên tâm thất, đặc biệt là rung tâm nhĩ và cuồng động tâm nhĩ mãn tính.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Pha loãng dung dịch:

Thuốc có thể không pha loăng hoặc pha loãng bằng một dịch truyền với một thể tích gấp 4 lần hoặc hơn. Pha loãng với một thể tích nhỏ hơn thể tích khuyến cáo có thể dần đến kết tủa digoxin. Các dịch truyền sau có thể dùng để pha loãng:

Dung dịch NaCl 0,9%

Dung dịch NaCl 0,18% và dung dịch Glucose 4%

Dung dịch Glucose 5%

Chuẩn bị dịch tiêm truyền ngay trước khi dùng. Nếu cần, dung dịch chuẩn bị phải được bảo quản ở 2°c đến 8°c, tối đa trong 24 giờ với điều kiện việc pha loãng phải được tiến hành trong điều kiện có kiểm soát và vô khuẩn. Bất kỳ dung dịch không sử dụng sau khi pha loãng 24 giờ đều phải bỏ di.

Theo dõi

Nồng độ digoxin trong huyết tương có thể được xác định bằng đơn vị nanogram/ml (ng/ml) hoặc nanomol/1 (nmol/1). Để chuyển từ đơn vị ng/ml sang đơn vị nmol/1, nhân ng/ml với 1,28. Nồng độ digoxin trong huyết tương có thể được xác định bởi phương pháp định lượng miễn dịch phóng xạ.

Mẫu máu đế xét nghiệm phải được lấy sau khi sử dụng liều cuối digoxin từ 6 giờ trở lên. Ở đa số các bệnh nhân, lợi ích điều trị với nguy cơ các tác dụng không mong muốn thấp thường thu được khi nồng độ digoxin nằm trong khoảng 0,8ng/ml (1,02 nmol/1) đến 2,0 ng/ml (2,56 nmol/1).

Nồng độ cao hơn khoảng này, các dấu hiệu và triệu chứng nhiễm độc thuốc xuất hiện với tần suất lớn hơn và nồng độ trên 3,0 ng/ml (3,84 nmol/1) thường xảy ra nhiễm độc.

Khi phân tích các kết quả xét nghiệm, nồng độ kali trong huyết tương và chức năng tuyến giáp cũng phải được tính đến.

Các glycoside khác, bao gồm các chất chuyển hóa của digoxin có thể ảnh hưởng đến kêt quả xét nghiệm.

Liều dùng:

Liều dùng phải được xác định cho từng bệnh nhân tùy thuộc tuổi tác, cân nặng và chức năng thận. Liều dùng đưa ra sau đây chỉ là gợi ý.

Có sự khác nhau giữa sinh khả dụng của dạng uống và dạng tiêm truyền của digoxin, liều phải được giảm 33% khi chuyển từ dạng viên uống sang dung dịch tiêm.

Liều tấn công (ở các bệnh nhân đã qua hai tuần không sử dụng các glycosidc tim):

Người lớn:

Liều dùng đường tiêm truyền: 0,5 mg đến l mg (2ml đến 4 ml) tùy thuộc tuổi tác, cân nặng và chức năng thận.

Liều dùng phải được chia làm nhiều lần, liều khởi dầu xấp xỉ 1/2 tổng liều và phần còn lại sau đó liều được chia đề sử dụng ở các khoảng cách từ 4 đến 8 giờ.

Đánh giá đáp ứng lâm sàng phải được thực hiện trước mỗi liều thêm.

Mỗi liều dùng phải được tiêm truyền tĩnh mạch trong khoảng thời gian từ 10 đến 20 phút.

Trẻ em:

Trẻ sơ sinh và trẻ dưới 10 tuổi (nếu trước đó 2 tuần không sử dụng các glycoside tim):

Ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ đẻ non, độ thanh thải của digoxin giảm, do đó cần giảm liều. Ngoại trừ trẻ mới sinh, nhìn chung trẻ em đòi hỏi sử dụng liều lớn hơn so với người lớn tính theo trọng lượng và diện tích cơ thể. Trẻ em trên 10 tuổi qui định liều dùng như người lớn tùy thuộc vào cân nặng.

Liều dùng tiêm tĩnh mạch phải được sử dụng như sau:

Trẻ đẻ non dưới 1,5kg: 20 microgram/kg một ngày

Trẻ đẻ non từ l,5kg đến 2,5kg: 30 microgram/kg một ngày

Trẻ dưới 2 tuổi: 35 microgram/kg một ngày

Trẻ từ 2 đến 5 tuổi: 35 microgram/kg một ngày

Trẻ từ 5 đến 10 tuồi: 25 microgram/kg một ngày

Liều dùng phải được chia làm nhiều lần, liều khởi đầu xấp xỉ 1/2 tổng liều, phần còn lại được chia để sử dụng mỗi lần cách nhau 4 đến 8 giờ.

Đánh giá đáp ứng lâm sàng phải được thực hiện trước mỗi liều thêm.

Mỗi liều dùng phải được tiêm truyền tĩnh mạch trong khoảng thời gian từ 12 đến 20 phút.

Điều trị duy trì:

Liều duy trì được sử dụng như sau:

Trẻ đẻ non: Liều hàng ngày bằng 20% của liều dùng 24 giờ nêu trên (tiêm tĩnh mạch hoặc uống).

Trẻ mới sinh và dưới 10 tuổi: Liều hàng ngày bằng 25% liều dùng 24 giờ nêu trên (tiêm tĩnh mạch hoặc uống).

Trên đây chỉ là chỉ dẫn chung. Trong quá trình sử dụng thuốc, nồng độ digoxin trong huyết tương phải được theo dõi và liều phải được điều chỉnh dựa trên kết quả xét nghiệm thu được. Nếu các glycoside tim được sử dụng trước đó 2 tuần, cần lưu ý ràng liều dùng tối ưu sẽ phải nhỏ hơn liều khuyến cáo nêu trên.

Sử dụng cho người già:

Khuynh hướng suy giảm chức năng thận và giảm trọng lượng cơ thể ở người già ảnh hưởng đến dược động học của digoxin, tâng khả năng gây tăng nồng độ digoxin trong huyết thanh và tăng khả năng nhiễm độc. Do dó, yêu cầu định kỳ kiểm tra nồng độ digoxin huyết và tránh tình trạng hạ kali huyết.

Liều khuyển cáo cho bệnh nhân rối loạn chức năng thận hoặc điều trị với lợi tiểu (xem mục Cảnh bảo và lưu ý khi sử dụng thuốc.)

4.3. Chống chỉ định:

Mẫn cảm với digoxin, các glycosid tim khác hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.

Block tim toàn phần từng cơn hoặc block nhĩ thất tim độ 2, đặc biệt có tiền sử hội chứng Stokes-Adams.

Loạn nhịp do nhiễm độc các glycosid tim.

Loạn nhịp trên tâm thất gây ra bởi hội chứng Wolff-Parkinson-White.

Bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn.

Nhịp nhanh tâm thất hoặc rung tâm thất.

4.4 Thận trọng:

Độc tính do digoxin có thể làm sớm đến chứng loạn nhịp tim mà một vài trong số đó tương tự như chứng loạn nhịp tim được chỉ ra trong phần chỉ định sử dụng thuốc. Ví dụ nhịp nhanh tâm nhĩ kèm theo block nhĩ thất không ổn dịnh yêu cầu chăm sóc đặc biệt vì về mặt lâm sàng nó tương tự với rung tâm nhĩ.

Bệnh nhân sử dụng digoxin không được sử dụng các muối calci tĩnh mạch.

Trong một số trường hợp rối loạn dẫn truyền xoang tâm nhĩ (rối loạn chức năng nút xoang), digoxin có thể gây hoặc làm trầm trọng thêm tình trạng nhịp xoang chậm hoặc gây block xoang tâm nhĩ.

Xác định nồng độ digoxin huyết thanh có thể rất hữu ích cho việc quyết định có thể tiếp tục điều trị với digoxin hay không, nhưng các liều gây độc của các glycoside khác có thể phản ứng chéo và ảnh hưởng tới kết quả xét nghiệm. Có thể thích hợp hơn là tạm thời ngừng sử dụng digoxin và theo dõi bệnh nhân.

Nếu bệnh nhân sử dụng các glycosid tim khác trong 2 tuần trước dó, liều khởi đầu cần được xem xét lại và cần cân nhắc giảm liều.

Ờ các bệnh nhân già hoặc các bệnh nhân có độ thanh thải thận giảm, cần cân nhắc giảm liều khởi đầu và liều duy trì.

Bệnh nhân giảm oxy huyết, giảm magnesi huyết và tăng calci huyết rõ rệt sẽ tăng độ nhạy cảm của cơ tim với các glycosid tim.

Tiêm tĩnh mạch nhanh quá mức digoxin có thể gây co mạch dẫn đến tăng huyết áp và/hoặc giảm lưu lượng mạch vành. Do đó, tiêm vơi tốc độ chậm là rất quan trọng đổi với các bệnh nhân suy tim do cao huyết áp và nhồi máu cơ tim cấp.

Cần sử dụng thận trọng digoxin cho các bệnh nhân có bệnh về tuyến giáp. Liều khởi đầu và liều duy trì của digoxin cần giảm khi chức năng tuyến giáp dưới mức bình thường, ở bệnh nhân cường giáp đã được kiểm soát, cần giảm liều digoxin.

Bệnh nhân có hội chứng hấp thu kém có thể yêu cầu liều digoxin cao hơn.

Nguy cơ loạn nhịp tim trầm trọng do khử rung tim trực tiêp tăng lên rõ rệt khi có mặt độc tính của các digitalis và tỷ lệ với nâng lượng khử rung sử dụng.

Đối với các bệnh nhân khử rung trực tiếp bằng điện đang sử dụng digoxin, cần ngưng sử dụng thuốc tối thiểu 24 giờ trước khi tiến hành. Trong trường hợp khẩn cấp như ngừng tim, khi tiến hành khử rung, cần sử dụng năng lượng thấp nhất có hiệu quả. Khử rung trực tiếp không thích hợp với việc điều trị loạn nhịp tim suất hiện sau khi sử dụng các glycosid tim.

Digoxin có tác dụng tốt trong chứng loạn nhịp tim vì nó gây ra sự phong tỏa dẫn truyền nhĩ thất. Tuy nhiên ở các bệnh nhân có block nhĩ thất không hoàn toàn, sự tiến triển nhanh block cần được dự đoán trước. Trong block tim hoàn toàn, nhịp riêng tâm thất có thể bị triệt tiêu.

Không chổng chỉ định sử dụng digoxin ngay sau khi nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, việc sử dụng các thuốc có ảnh hưởng đến sự co thắt của tim ở các bệnh nhân này có thể dẫn đến việc tăng ngoài ý muốn nhu cầu oxy ở cơ tim và thiếu máu cục bộ. Một vài nghiên cứu đã cho thấy rằng việc sử dụng digoxin có thể liên quan đến việc tăng nguy cơ tử vong, ơ các bệnh nhân giảm kali huyết sau nhồi máu cơ tim và có bệnh lý tim không ổn định có nguy cơ rối loạn nhịp tim.

Digoxin cải thiện sự hoạt động ở các bệnh nhân rối loạn chức năng tâm thất trái và nhịp xoang bình thường. Tuy nhiên, tác dụng của thuốc đối với các bệnh nhân rối loạn nhịp trên tâm thất rõ ràng hơn khi nghi ngơi và kém hơn khi hoạt động.

Ở các bệnh nhân đang sử dụng các thuốc lợi tiều và các thuốc ức chế ACE hoặc chỉ sử dụng đơn độc các thuốc lợi tiếu, việc ngừng sử dụng digoxin đã cho thấy tình trạng lâm sàng xấu đi.

Việc sử dụng các liều điều trị digoxin có thể gây kéo dài khoảng PR và hạn chế doạn ST trên điện tâm đồ.

Digoxin có thể gây ra các sự thay đổi dương tính giả ST-T trên điện tâm đồ trong thử nghiệm. Các tác dụng diện sinh học này cho thấy thuốc dạt được một kết quả mong đợi và không bộc lộ độc tính.

Ớ các bệnh nhân đang sử dụng digoxin, nồng độ chất diện phân trong máu và chức năng thận (nồng độ crearinin huyết tương) phải được theo dõi định kỳ; tần số kiểm tra phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.

Mặc dù việc sử dụng nhanh digoxin có lợi cho rất nhiều bệnh nhân suy tim sung huyết mãn tính song ở một vài bộnh nhân không có sự cải thiện rõ ràng và bền vững về huyết động học. Do đó việc dánh giá sự đáp ứng của từng bệnh nhân khi sử dụng lâu dài digoxin là rất quan trọng.

Bệnh nhân suy hô hấp nặng có thể tăng nhạy cảm cơ tim với các digitalis glycosid.

Tiêm bắp có thể gây đau và hoại tử tại vị trí tiêm. Khuyến cáo không sử dụng đường dùng này.

Sản phẩm này chứa 101,25 mg con ethanol 96% trong 1 ml nên cần được tính đến khi sử dụng cho phụ nữ có thai hoặc nuôi con bú, trẻ em và người có nguy cơ cao như bệnh gan hoặc động kinh. Thuốc có tác dụng gây hại dối với bệnh nhân nghiện rượu.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Rối loạn hệ thần kinh trung ương và rối loạn thị lực dã được báo cáo ở các bệnh nhân sử dụng digoxin, do đó cần thận trọng khi lái xe và vận hành máy móc

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: A

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Không có các tài liệu sẵn có về ảnh hưởng lên khả năng sinh sản và tác dụng phụ sinh quái thai của digoxin.

Không chống chỉ định sử dụng digoxin cho phụ nữ mang thai, mặc dù liều dùng và hướng dẫn sử dụng ít được dự báo ở phụ nữ mang thai so với phụ nữ không mang thai, có một vài bệnh nhân đòi hỏi tăng liều digoxin khi mang thai. Chỉ được sử dụng digoxin cho phụ nữ mang thai khi theo quan điểm của thầy thuốc lợi ích lâm sàng của việc điều trị đối với bà mẹ lớn hơn khả năng gây hại cho thai nhi.

Không có phản ứng có hại nào được quan sát thấy ở bào thai và trẻ sơ sinh được quan sát thấy khi nồng độ digoxin trong huyết tương thanh ở bà mẹ duy trì trong phạm vi bình thường. Có thể suy ra rằng digoxin qua tác động trực tiếp lên cơ tử cung sẽ dẫn đến sinh non và trẻ thiếu cân. Sử dụng digoxin ở người mẹ có thể được dùng để điều trị chứng nhịp tim nhanh và suy tim sung huyết của bào thai.

Các tác dụng có hại trên bào thai dà được báo cáo ở các bà mẹ nhiễm độc digoxin.

Thời kỳ cho con bú:

Digoxin chỉ bài tiết vào sữa mẹ với môt lượng nhò và do dó không chống chỉ định dùng digoxin

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Tác dụng không mong muốn được liệt kê theo hệ thống cơ quan và tần suất. Các tần số xảy ra: rất thường gặp (> 1/10), thường gặp (> 1/100 và < 1/10), ít gặp (> 1/1000 và < 1/100), hiếm gặp (> 1/10.000 và < 1/1.000), rất hiếm gặp (< 1/10.000), bao gồm các báo cáo riêng biệt. Các tần số rất thường gặp, thường gặp và ít gặp là được xác định từ các báo cáo lâm sàng. Tỷ lệ dùng thuốc già được được tính đến. Các tác dụng không mong muôn được xác định trong thời gian thuốc được lưu hành là rất hiếm (bao gồm các báo cáo riêng biệt).

Rối loạn máu và hệ bạch huyết
Rât hiêm Giảm tiểu cầu
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
Rất hiếm gặp Chán ăn
Rối loạn tâm thần
ít gặp Trầm cảm
Rất hiếm gặp Loạn tinh thân, thờ ơ, bôi rối
Rối loạn hệ thần kinh
Thường gặp Rối loạn hệ thân kinh trung ương, chóng mặt
Rất hiếm gặp Đau đầu
Rối loạn thị giác
Thường gặp Rối loạn thị giác (nhìn mờ hoặc có màu vàng)
Rối loạn tim mạch
Thường gặp Loạn nhịp tim, rối loạn dẫn truyền, ngắt nhịp đôi, nhịp ba, khoảng PR kép dài, tim nhịp chậm xoang.
Rất hiếm gặp Nhịp tim nhanh ngang, nhịp tim nhĩ thất (có hoặc không có khối), nhịp nhanh nối kết, loạn nhịp thất, sự co thắt sớm của thất trái, đoạn ST bất thường
Rối loạn tiêu hóa
Thường gặp Buồn nôn, nôn, tiêu chảy
Rất hiếm gặp Thiếu máu ruột, hoại tử ruột
Rối loạn da
Thường gặp Da phát ban dạng mày day hoặc dạng tinh hồng nhiệt (scarlatiniform) kèm tăng bạch cầu ưa eosin
Rối loạn tuyến vú và hệ thống sinh sản
Rất hiếm Nữ hóa tuyến vú ở nam có thể xảy ra khi điều trị lâu dài
Rối loạn tổng quát và tại chỗ điều trị
Rất hiếm gặp Mệt mỏi, khó chịu, yếu

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Với những ADR điện sinh lý thường gặp, chỉ cần điều chỉnh liều và theo dõi bằng biện pháp thích hợp. Nhịp xoang chậm, ngừng xoang, hoặc blốc nhĩ – thất độ hai hoặc độ ba thường đáp ứng với atropin, nếu cần tạo nhịp thất tạm thời. Khi có dấu hiệu của tăng kích thích thất (nhất là khi có ngoại tâm thu), phải ngừng digoxin. Các rối loạn tiêu hóa (buồn nôn, nôn, ỉa chảy) thường là các triệu chứng đầu tiên của nhiễm độc digoxin. Các triệu chứng này hết nhanh khi ngừng thuốc. Nhìn mờ, lú lẫn, ảo giác… đặc biệt ở người cao tuối, phải nghĩ đến quá liều.

Hiện nay có một thuốc giải độc hữu hiệu khi bị ngộ độc digoxin hoặc digitoxin dưới dạng miễn dịch trị liệu kháng digoxin. Kết quả thử nghiệm trên người lớn và trẻ em đã xác định hiệu lực và độ an toàn của liệu pháp với thuốc kháng digoxin Fab trong điều trị ngộ độc digoxin đe dọa tính mạng, gồm cả những trường hợp uống lượng lớn thuốc để tự vẫn (xem thêm mục Quá liều và xử trí).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Các tương tác thuốc phụ thuộc vào mức độ thải trừ của thuốc qua đường thận, sự gắn kết với mô, sự gắn kết với protein huyết tương, sự phân bổ trong cơ thể, tỉ lệ hấp thu digoxin và sự nhạy cảm với chất này. Khả năng tương tác phải được tính đến bất cứ khi nào sử dụng đồng thời digoxin với các thuốc khác và nồng độ digoxin phải được xác định khi có bất kì nghi ngờ nào.

Sử dụng đồng thời digoxin với các thuốc chẹn beta-adrenoceptor có thể gây tăng thời gian dẫn truyền nhĩ thất.

Các thuốc gây giảm kali huyết hoặc gây thiếu hụt kali nội bào có thể làm tăng độ nhạy cảm với digoxin. Các thuốc này bao gồm các thuốc lợi tiểu, muối lithium, các corticosteroid và carbenoxolon.

Bệnh nhân đang sử dụng digoxin nhạy cảm hơn vói tác dụng của suxamethonium (làm nặng thêm tình trạng tăng kali huyết).

Calci, đặc biệt khi sử dụng đường tiêm tĩnh mạch có thể dẫn đến loạn nhịp tim trầm trọng ở các bệnh nhân đang sử dụng digoxin.

Nồng độ huyết tương của digoxin tăng lên khi sử dụng đồng thời với các thuổc sau: alprazolam, amiodaron, diphenoxylat, atropin, flccainid, gentamicin, indometacin, itraconazol, prazosin, propafenon, quinidin, quinin, sptronolacton, các kháng sinh nhóm macrolid. tetracyclỉn, trimethoprim ( và có thể các kháng sinh khác), propanthelin.

Nồng độ huyết tương của digoxin giảm xuống khi sử dụng đồng thời với các thuốc sau: epinephrin, các thuốc kháng acid, các thuốc nhuận tràng, kaolin-pectin, Colestyramin, acarbose, salbutamol, sulfasalazin, neomycin, rifampicin, một vài thuốc kìm tế bào, phenytoin, metoclopramid, penicilamin và các chế phẩm chứa dịch chiết Hypcrium perforatum.

Các thuốc chẹn kênh calci có thể làm tăng hoặc không gây sự thay đổi nồng độ digoxin trong huyết tương. Verapamil, felodipin và tiapamil làm tăng nồng độ digoxin. Nifedipin và diltiazem có thể làm tăng hoặc không ảnh hưởng đến nồng độ digoxin. Isradipin không làm thay đổi nồng độ digoxin. Các thuốc ức chế men chuyển angiotensin có thể làm tăng hoặc không làm thay đổi nồng độ của digoxin.

Milrinon không làm thay đổi nồng độ ổn định của digoxin.

4.9 Quá liều và xử trí:

Các triệu chứng quả liều đã được liệt kê ở mục các tác dụng không mong muốn.

Quá liều digoxin lừ 10 đến 15 mg ở người lớn không bị bệnh tim và 6 đến 10 mg ở trẻ em từ 1 đến 3 tuổi không bị bệnh tim có thể dẫn đến tử vong ở 1/2 số bệnh nhân.

Nếu sử dụng trên 25 mg ở người lớn không mắc bệnh tim, tử vong hoặc có các triệu chứng nhiễm độc tăng dần chỉ đáp ứng với việc điều trị với các kháng thể Fab kháng digoxin dã được quan sát thấy. Trường hợp sử dụng digoxin lớn hơn 10 mg ở trẻ em từ 1 đến 3 tuổi không mắc bệnh tim, không điều trị với kháng thể Fab có thể dẫn đến tử vong.

Trong trường hợp hạ kali huyết, kali phải được sử dụng – đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch tùy thuốc tình trạng bệnh nhân. Trường hợp sử dụng lượng lớn digoxin có thể xảy ra tăng kali huyết do kali giải phóng từ cơ xương. Do đó, trước khi sử dụng kali trong trường hợp quá liều digoxin, cần tiến hành xác dịnh nồng độ kali trong huyêt tương.

Loạn nhịp chậm có thể được kiểm soát bởi atropin nhưng việc điều hòa nhịp tim có thể được yêu cầu. Loạn nhịp tâm thất có thể được kiểm soát bởi lignocain hoặc phenytoin.

Thẩm tách không phải là phương pháp hiệu quả để loại digoxin khỏi cơ thể.

Trong trường hợp nhiễm độc digoxin trầm trọng, cần tiêm tĩnh mạch kháng thể Fab kháng digoxin khi các liệu pháp khác không có kết quả

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Được lực học:

Digoxin làm tăng co bóp cơ tim. Tác dụng này tỷ lệ với liều dùng trong phạm vi thấp, do đó một vài tác dụng đạt được với liều khá thấp, nó thậm chí xuất hiện ở cơ tim bình thường, mặc dù sau đó tác dụng tăng co bóp cơ tim không có bất kỳ lợi ích sinh lý nào. Tác động chủ yếu của digoxin là ức chế đặc hiệu adenosin triphosphatase và do đó làm thay đổi sự trao đổi ion Na+/K+ làm thay đổi phân bố ion qua màng tế bào dẫn đến tăng dòng ion calci, sự phân bố của các ion biến đổi qua màng tế bào dẫn đến tăng dòng chảy ion calci và do đó tăng sự có mặt của ion calci tại thời điểm cơ tim co bóp do kích thích.

Hoạt lực của digoxin mạnh lên khi nồng độ kali ngoại bào thấp và giảm nồng độ kali huyết tăng.

Digoxin ức chế cơ chế chuyển đổi ion Na+/K+ trong tể bào của hệ thần kinh tự trị, dẫn đến tác dụng gián tiếp lên hoạt dộng của tim. Do xung lực thần kinh phế vị tăng lên, trương lực hệ giao cảm giảm và tốc độ dẫn truyền qua tâm nhĩ và nút tâm nhĩ thất giảm. Do đó tác dụng có lợi chủ yếu của digoxin là làm giảm nhịp tâm thất.

Sự thay dồi co bóp gián tiếp trên cơ tim cũng là do sự thay đồi trong tĩnh mạch gây ra bởi sự thay đổi hoạt động của hệ thần kinh tự trị và bởi sự kích thích trực tiếp hệ tĩnh mạch. Sự đáp ứng đầy đủ của hệ tim mạch với digoxin và kết quả của tác động trực tiếp và gián tiếp được đề cập ở trên và có thể khác nhau ở từng bệnh nhân. Khi có các loạn nhịp trên thất, việc làm chậm dẫn truyền nhĩ thất là rất quan trọng.

Mức độ hoạt động của thần kinh nội tiết ở các bệnh nhân suy tim liên quan đến tình trạng lâm sàng xấu đi và tăng nguy cơ tử vong.

Digoxin làm giảm sự hoạt hóa của cả hệ thần kinh giao cảm và hệ renin-angiotensin không phụ thuộc vào hoạt động tự trị của chúng và do đó có thể có lợi cho sự sống sót của bệnh nhân

Cơ chế tác dụng:

Digoxin, hoạt chất của thuốc này có tác động ức chế trực tiếp enzym Na/K-ATP gắn kết vào màng làm phóng thích Na+ từ cơ tim qua một cơ chế vận chuyển tích cực. Do sự ức chế này, nồng độ Na+ nội bào tăng và nồng độ K+ nội bào giảm. Do tăng nồng độ Na+ nội bào, nồng độ Ca++ nội bào tăng.

Digoxin thuộc nhóm các dẫn chất glycosid tim, tác động trên cơ tim tùy theo liều. Nhờ vào tác động tích cực trên sự co thắt của tim nên Digoxin làm tăng sức co tim, tăng đẩy máu ra khỏi tâm thất trong giai đoạn tâm thu, làm giảm áp suất cuối tâm trương cũng như là giảm kích thước dãn tim. Từ đó, khi dùng trong suy tim sung huyết, Digoxin cải thiện chức năng co và làm giảm lượng oxy tiêu thụ ở cơ tim và do sự giảm áp suất tĩnh mạch phổi, Digoxin cải thiện tình trạng khó thở và khó thở khi nằm.

Nhờ tác động giống thần kinh phế vị trên xoang và nút nhĩ thất nghĩa là làm giảm tốc độ dẫn truyền của sợi nút, digoxin có tác động giảm thời gian và tốc độ do đó làm giảm nhịp tim và kích thích độ dẫn truyền.

Có tác dụng tích cực trên sự tưới máu, Digoxin gia tăng tính tự động của cơ tim, hình thành kích thích ngoại lai.

Ở những liều cao, Digoxin hoạt hóa thần kinh giao cảm.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Sử dụng digoxin theo đường tiêm tĩnh mạch đem lại tác dụng dược lý rõ ràng trong vòng từ 5 dển 30 phút, đạt mức tối đa từ 1 đến 5 giờ.

Sự phân bố khởi đầu của digoxin từ trung tâm đến bộ phận ngoại biên thường từ 6 giờ đến 8 giờ. Sự dao dộng của nồng độ digoxin trong huyết tương phụ thuộc mức độ thải trừ của digoxin khỏi cơ thể. Thể tích phân bố cao (Vd=510 lít ở những người tình nguyện khỏe mạnh), điều này cho thấy khả năng gắn kết của digoxin với các mô. Nồng độ cao nhât của digoxin được tìm thấy ở tim, gan, thận; nồng độ trong tim gấp 30 lần nồng độ trong máu ngoại biên.

Mặc dù nồng độ trong digoxin trong cơ xương thấp hơn thấp hơn nhiều nhưng cần lưu ý rằng chúng là nguồn lưu trữ rất quan trọng của thuốc vì cơ xương chiếm tới 40% trọng lượng cơ thể. Một phần nhỏ digoxin còn lại trong vòng tuần hoàn, khoảng 25% gắn kết với protein. Digoxin được bài tiết chủ yéu vào nước tiểu, dưới dạng thuốc không thay đổi. Sau khi tiêm tĩnh mạch ở những người tình nguyện khỏe mạnh, 60% đến 75% liều được bài tiết vào nước tiều trong vòng 6 ngày. Tổng độ thanh thải của digoxin liên quan trực tiếp tới chức năng thận và do đó phụ thuộc vào độ thanh thải creatinin.

Độ thanh thải tổng cộng và độ thanh thải thận của digoxin được tìm thấy là 193 ± 25 ml/phút và 152 ± 24 ml/phút ở người khỏe mạnh.

Độ thanh thải thận của hai chất chuyển hóa chính, dihydrodigoxin và digoxigenin là 79 ± 13 ml/phút và 100 ± 26 ml/phút.

Thời gian bán thải cuổi cùng của digoxin ở các bệnh nhân có chức năng thận bình thường là 30 đến 40 giờ. Nó kéo dài ở những bệnh nhân suy giảm chức năng thận, ở các bệnh nhân bí đái có thể lên tới 100 giờ.

Ở trẻ mới sinh, độ thanh thải digoxin hạn chế , do dó việc sử dụng đúng liều là cần thiết. Điều này đặc biệt rõ ràng ở trẻ đẻ non vì độ thanh thải thận phàn ánh sự chín muồi của chức năng thận. Độ thanh thải digoxin ở trẻ 3 tháng tuổi là 65,6 ± 30ml/phút/l,73m2 so với chỉ 32 ± 1 ml/phút/l,73m2 ở trẻ 1 tuần tuổi. Ngoại trừ trẻ mới sinh, nhìn chung trẻ em đòi hỏi sử dụng liều lớn hơn so với người lớn tính theo trọng lượng và diện tích bề mặt cơ thể.

Chỉ 3% liều digoxin được loại khỏi cơ thể bằng thẩm tách máu

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thể thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

….

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Bào quản ở nhiệt độ không quá 30°c, tránh ánh sáng.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam