Deflazacort

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Deflazacort

Phân loại: Thuốc Corticosteroids.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): H02AB13.

Brand name: Emflaza, Calcort.

Generic : Deflazacort, Flazacort STADA

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén 6 mg.

Thuốc tham khảo:

CALCORT 6 mg
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Deflazacort …………………………. 6 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Sốc phản vệ, hen suyễn, các phản ứng quá mẫn nghiêm trọng.

Viêm khớp dạng thấp, viêm khớp mạn tính ở thiếu niên, đau đa cơ do thấp khớp.

Lupus ban đỏ toàn thân, viêm da cơ, bệnh mô liên kết hỗn hợp (trừ xơ cứng hệ thống), viêm đa động mạch, bệnh sarcoid.

Bệnh pemphigus, pemphigoid bọng nước, viêm da mủ hoại tử.

Hội chứng thận hư thay đổi tối thiểu, viêm thận kẽ cấp tính.

Bệnh thấp tim.

Viêm loét đại tràng, bệnh Crohn.

Viêm màng bồ đào, viêm đa dây thần kinh thị giác.

Thiếu máu tán huyết tự miễn, xuất huyết giảm tiểu cầu tự phát.

Bệnh bạch cầu lympho cấp tính, u lympho ác tính, đa u tủy.

Ức chế miễn dịch trong cấy ghép.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng : Dùng uống.

Liều dùng:

Deflazacort là một glucocorticoid có nguồn gốc từ prednisolon và 6mg deflazacort có tác dụng kháng viêm tương đương 5mg prednisolon hoặc prednison.

Liều dùng thay đổi dựa trên bệnh lý khác nhau và những bệnh nhân khác nhau. Trong trường hợp bệnh nghiêm trọng và đe dọa tính mạng, phải dùng deflazacort liều cao. Khi deflazacort được dùng lâu dài trong điều trị bệnh mạn tính tương đối lành tính, nên duy trì liều càng thấp càng tốt. Cần tăng liều khi bệnh tiến triển xấu hoặc trầm trọng.

Liều dùng nên được điều chỉnh tùy theo chẩn đoán, mức độ nghiêm trọng của bệnh, khả năng đáp ứng và dung nạp của bệnh nhân. Nên dùng liều thấp mà có thể đem lại đáp ứng có thể chấp nhận được.

Người lớn

Đối với các bệnh cấp tính, liều khởi đầu có thể lên đến 120 mg/ngày. Liều duy trì thông thường từ 3-18 mg/ngày. Theo phác đồ hướng dẫn sau đây:

Viêm khớp dạng thấp: Liều duy trì thường từ 3-18 mg/ngày. Nên dùng liều thấp nhất đạt hiệu quả và tăng liều nếu cần.

Hen phế quản: Trong điều trị bệnh cấp tính, khi cần thiết có thể dùng liều cao 48-72 mg/ngày tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh và giảm liều từ từ khi bệnh đã được kiểm soát. Trong bệnh suyễn mạn tính, liều duy trì nên được điều chỉnh xuống thấp nhất mà vẫn kiểm soát được triệu chứng.

Các trường hợp khác: Liều deflazacort tùy thuộc vào đáp ứng lâm sàng, có thể điều chỉnh đến liều thấp nhất có hiệu quả để duy trì. Liều khởi đầu có thể ước tính dựa trên tỉ lệ cơ bản 5mg prednison hoặc prednisolon đến 6mg deflazacort.

Suy gan

Nồng độ deflazacort trong máu có thể tăng. Do đó, liều deflazacort nên được kiểm soát cẩn thận và điều chỉnh đến liều tối thiểu có hiệu quả.

Suy thận

Không có thận trọng đặc biệt khác hơn so với những bệnh nhân cần thiết phải dùng glucocorticoid.

Người cao tuổi

Không có thận trọng đặc biệt khác hơn so với những bệnh nhân cần thiết phải dùng glucocorticoid. Các tác dụng không mong muốn thường gặp của corticosteroid dùng đường toàn thân có thể liên quan đến nhiều hậu quả nghiêm trọng ở người cao tuổi.

Trẻ em

Trong thử nghiệm lâm sàng, nên hạn chế dùng deflazacort ở trẻ em.

Ở trẻ em, chỉ định dùng glucocorticoid tương tự như ở người lớn, nhưng quan trọng nên dùng liều thấp nhất có hiệu quả. Thích hợp dùng liều cách ngày.

Liều dùng deflazacort thường trong phạm vi 0,25-1,5 mg/kg/ngày. Các phạm vi theo hướng dẫn chung như sau:

Viêm khớp mạn tính ở thiếu niên: Liều duy trì thông thường giữa 0,25-1,0 mg/kg/ngày.

Hội chứng thận hư: Liều thông thường từ 1,5 mg/kg/ngày, tiếp theo sẽ điều chỉnh xuống theo nhu cầu lâm sàng.

Hen phế quản: Dựa trên tỉ lệ hiệu quả, liều deflazacort thường dùng nên giữa 0,25-1,0 mg/kg, dùng cách ngày.

Ngưng dùng deflazacort

Ở những bệnh nhân điều trị corticosteroid bằng đường dùng toàn thân nhiều hơn liều sinh lý (khoảng 9 mg/ngày hoặc tương đương) trên 3 tuần, không nên ngưng thuốc đột ngột. Giảm liều như thế nào phần lớn phụ thuộc vào bệnh có khả năng tái phát hay không khi liều dùng đường toàn thân được giảm. Cần có đánh giá lâm sàng về tình trạng bệnh trong quá trình ngừng thuốc. Nếu bệnh không có khả năng tái phát khi ngừng dùng corticosteroid đường toàn thân nhưng chưa chắn chắc về sự ức chế hạ đồi tuyến yên-tuyến thượng thận (HPA), liều điều trị corticosteroid bằng đường dùng toàn thân có thể giảm nhanh so với liều sinh lý. Khi một liều hàng ngày tương đương với 9mg deflazacort được dùng, nên giảm liều chậm lại để các trục HPA được hồi phục.

Ngưng điều trị corticosteroid bằng đường dùng toàn thân kéo dài lên đến 3 tuần là thích hợp, nếu xem xét thấy bệnh không có khả năng tái phát. Trong đa số các bệnh nhân, ngưng deflazacort đột ngột với liều dùng hằng ngày lên tới 48mg hoặc tương đương 3 tuần không thể dẫn đến ức chế trục HPA. Những nhóm bệnh nhân sau đây, ngừng điều trị corticosteroid bằng đường dùng toàn thân dần dần nên được xem xét khi đã điều trị kéo dài 3 tuần hoặc ít hơn:

Những bệnh nhân đã điều trị lặp lại corticosteroid bằng đường dùng toàn thân, đặc biệt nếu điều trị nhiều hơn 3 tuần.

Khi phải điều trị ngắn hạn trong vòng 1 năm, và đã không tiếp tục điều trị dài hạn (nhiều tháng hoặc nhiều năm).

Những bệnh nhân bị suy vỏ thượng thận, không do điều trị bằng corticosteroid.

Bệnh nhân dùng liều corticosteroid toàn thân hàng ngày lớn hơn 48mg deflazacort (hoặc tương đương).

Bệnh nhân liên tục dùng liều vào buổi tối.

4.3. Chống chỉ định:

Nhiễm trùng toàn thân trừ khi đã từng được điều trị chống nhiễm trùng cụ thể.

Quá mẫn với deflazacort hoặc bất cứ thành phần của thuốc.

Bệnh nhân được tiêm chủng virus sống.

4.4 Thận trọng:

Ức chế tuyến thượng thận: Teo vỏ thượng thận phát triển trong quá trình điều trị kéo dài và có thể kéo dài trong nhiều năm sau khi ngừng điều trị. Ngừng corticosteroid sau khi điều trị kéo dài nên giảm liều từ từ để tránh suy thượng thận cấp có thể gây tử vong, và giảm dần trong vài tuần hoặc vài tháng tùy theo liều lượng và thời gian điều trị. Trong thời gian điều trị kéo dài, mà các bệnh bất kỳ tái phát hay có chấn thương hoặc phẫu thuật có thể sẽ tăng liều tạm thời, nếu đã ngưng corticosteroid sau khi điều trị kéo dài, có thể phải dùng lại tạm thời.

Tác dụng kháng viêm/ức chế miễn dịch và nhiễm trùng.

Bệnh tim hoặc suy tim sung huyết (ngoại trừ bệnh thấp tim), tăng huyết áp, rối loạn nghẽn mạch huyết khối. Glucocorticoid có thể gây ứ muối, nước và tăng đào thải kali. Cần hạn chế muối và bổ sung kali.

Viêm dạ dày hoặc viêm thực quản, viêm túi thừa, viêm loét đại tràng nếu có khả năng thủng, áp xe hoặc nhiễm trùng sinh mủ, khâu nối ruột non, loét dạ dày tá tràng có hoạt tính hoặc tiềm ẩn.

Đái tháo đường hoặc gia đình có tiền sử đái tháo đường, loãng xương, nhược cơ, suy thận.

Bất ổn về tình cảm hoặc có khuynh hướng loạn tâm thần, động kinh.

Bệnh cơ trước khi dùng corticosteroid.

Suy gan.

Suy giáp và xơ gan có thể làm tăng tác dụng glucocorticoid.

Herpes simplex ở mắt có thể thủng giác mạc.

Trẻ em: Corticosteroid gây chậm phát triển liên quan đến liều ở thai nhi, trẻ em và thiếu niên là không thể thay đổi được.

Người cao tuổi: Tác dụng không mong muốn thường gặp của corticosteroid toàn thân có thể liên quan tới những hậu quả nghiêm trọng hơn khi về già, đặc biệt như bệnh loãng xương, cao huyết áp, hạ kali huyết, đái tháo đường, nhạy cảm với các bệnh nhiễm trùng và mỏng da. Nên theo dõi lâm sàng chặt chẽ để tránh những phản ứng đe dọa đến tính mạng.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Trên cơ sở dược lực và báo cáo tác dụng không mong muốn, không chắc deflazcort sẽ gây ảnh hưởng trên khả năng lái xe.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: NA

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Khả năng corticosteroid qua nhau thai của các thuốc khác nhau, tuy nhiên deflazacort không qua nhau thai.

Dùng corticosteroid ở động vật mang thai có thể gây ra những bất thường cho sự phát triển thai nhi bao gồm hở hàm ếch, thai nhi chậm phát triển trong tử cung và ảnh hưởng lên não và phát triển. Không có bằng chứng corticosteroid tăng tỉ lệ dị tật bẩm sinh chẳng hạn như hở vòm miệng/môi ở người. Tuy nhiên, khi dùng thời gian kéo dài và lặp lại trong suốt thai kỳ, corticosteroid có thể tăng nguy cơ chậm phát triển thai nhi trong tử cung. Trên lý thuyết, thiểu năng thượng thận xảy ra ở trẻ trước khi sinh sau khi dùng corticosteroid nhưng thường tự khỏi sau khi được sinh ra và hiếm khi có trường hợp nghiêm trọng. Như tất cả các thuốc, corticosteroid chỉ nên được kê đơn khi lợi ích của mẹ và con cao hơn những rủi ro. Tuy nhiên khi cần thiết, những bệnh nhân mang thai bình thường có thể được điều trị như đang trong tình trạng chưa mang thai.

Thời kỳ cho con bú:

Corticosteroid được bài tiết qua sữa mẹ, mặc dù chưa có dữ liệu về deflazacort. Liều deflazacort tối đa 50 mg/ngày không có khả năng gây ảnh hưởng toàn thân ở trẻ sơ sinh. Trẻ sơ sinh có mẹ dùng liều cao hơn liều này có thể mức độ ức chế tuyến thượng thận nhưng lợi ích của việc cho con bú có thể lớn hơn bất kỳ nguy cơ lý thuyết.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10)

Chuyển hóa và dinh dưỡng: Tăng cân.

Ít gặp (1/1000 ≤ ADR < 1/100)

Nội tiết: Ức chế trục hạ đồi tuyến yên thượng thận, vô kinh, mặt dạng Cushing.

Chuyển hóa và dinh dưỡng: Khả năng dung nạp carbohydrat giảm khi tăng nhu cầu điều trị chống đái tháo đường, giữ natri và nước trong điều trị tăng huyết áp, mất kali và hạ kali huyết nhiễm kiềm khi dùng đồng thời với các thuốc beta-2-agonist và xanthin.

Nhiễm trùng và ký sinh trùng: Tăng tính nhạy cảm và mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng với sự ức chế các triệu chứng lâm sàng và dấu hiệu, nhiễm trùng cơ hội, bệnh lao tái phát không hoạt tính.

Cơ xương và mô liên kết: Loãng xương, gãy xương sống và xương dài.

Hệ thần kinh: Đau đầu, chóng mặt.

Tâm thần: Chán nản, tâm trạng không ổn định; các phản ứng khác gồm cả rối loạn hành vi.

Tiêu hóa: Rối loạn tiêu hóa, viêm loét dạ dày tá tràng, xuất huyết, buồn nôn.

Da và mô dưới da: Rậm lông, vân, mụn trứng cá.

Toàn thân: Phù.

Hệ thống miễn dịch: Quá mẫn bao gồm phản ứng phản vệ đã được báo cáo.

Hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1000)

Cơ xương và mô liên kết: Giảm cơ bắp.

Da và mô dưới da: Bầm tím.

Chưa rõ tần suất (không thể ước tính từ các dữ liệu có sẵn)

Nội tiết: Ức chế sự tăng trưởng thai nhi, trẻ em và thanh thiếu niên.

Chuyển hóa và dinh dưỡng: Protein âm tính, cân bằng calci, tăng sự thèm ăn.

Nhiễm trùng và ký sinh trùng: Nấm Candida.

Cơ xương và mô liên kết: Hoại tử xương vô mạch, viêm gân và đứt gân khi dùng đồng thời với các quinolon, bệnh cơ (bệnh cấp tính ở cơ có thể do sự tích lũy của các thuốc giãn cơ không khử cực), cân bằng nitơ âm tính.

Sinh sản và ngực: Kinh nguyệt không đều.

Tim: Suy tim.

Hệ thần kinh: Bồn chồn, phù gai thị ở trẻ em gây tăng áp lực nội sọ (giả u não) thường sau khi ngưng điều trị, động kinh nặng.

Tâm thần: Kích thích, hưng phấn, có ý nghĩ tự tử. Các phản ứng tâm thần bao gồm: hưng cảm, hoang tưởng, ảo giác, tâm thần phân liệt nặng. Các phản ứng khác bao gồm: lo âu, rối loạn giấc ngủ, rối loạn chức năng nhận thức bao gồm sự nhầm lẫn và mất trí nhớ.

Mắt: Tăng áp suất trong mắt, tăng nhãn áp, phù gai thị, đục thủy tinh thể dưới bao sau đặc biệt ở trẻ em, bệnh mạch mạc-võng mạc, giác mạc hoặc củng mạc mỏng, sưng mắt do virus hoặc nấm mắt.

Tiêu hóa: Thủng loét dạ dày, viêm tụy cấp tính (đặc biệt ở trẻ em), nấm Candida.

Da và mô dưới da: Teo da, giãn mao mạch.

Toàn thân: Lâu lành vết thương.

Máu và hệ bạch huyết: Tăng bạch cầu.

Mạch máu: Thuyên tắc huyết khối đặc biệt xảy ra ở những bệnh nhân có tình trạng cơ bản kết hợp với có xu hướng tăng huyết khối, hiếm khi xảy ra tăng huyết áp nội sọ lành tính.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Deflazacort được chuyển hóa ở gan. Khuyến cáo tăng liều duy trì deflazacort nếu dùng đồng thời với thuốc gây cảm ứng enzym gan như rifampicin, rifabutin, carbamazepin, phenobarbiton, phenytoin, primidon và aminoglutethimid. Những thuốc ức chế enzym gan như ketoconazol có thể giảm liều duy trì deflazacort.

Bệnh nhân dùng estrogen, có thể giảm liều corticosteroid.

Các tác dụng không mong muốn của các thuốc hạ đường huyết (kể cả insulin), thuốc chống tăng huyết áp và thuốc lợi tiểu được trung hòa bởi corticosteroid và tác dụng hạ kali huyết của acetazolamid, thuốc lợi tiểu quai, lợi tiểu thiazid, beta 2-gonists, xanthin và carbenoxolon được tăng.

Hiệu quả của thuốc chống đông coumarin có thể tăng lên khi dùng đồng thời với corticosteroid và cần theo dõi chặt chẽ INR hoặc thời gian prothrombin để tránh chảy máu tự phát.

Ở những bệnh nhân được điều trị bằng corticosteroid đường toàn thân, dùng thuốc giãn cơ không khử cực có thể gây giãn cơ kéo dài và cấp tính. Các yếu tố nguy cơ này gồm điều trị với corticosteroid kéo dài, liều cao, và thời gian liệt cơ kéo dài. Sự tương tác này có nhiều khả năng sau khi lọc máu kéo dài.

Độ thanh thải salicylat ở thận được tăng lên có thể gây ngộ độc salicylat khi ngừng điều trị với corticosteroid và steroid.

Các glucocorticoid có thể ức chế các phản ứng bình thường của cơ thể để vi khuẩn tấn công, điều quan trọng là đảm bảo bất kỳ các điều trị chống nhiễm trùng phải hiệu quả và bệnh nhân phải được theo dõi chặt chẽ.

Dùng đồng thời glucocorticoid với các thuốc tránh thai đường uống nên được theo dõi chặt chẽ vì nồng độ glucocorticoid trong huyết tương có thể tăng. Các tác dụng này có thể do sự thay đổi trong chuyển hóa hoặc gắn kết với protein huyết tương.

Các thuốc kháng acid có thể làm giảm sinh khả dụng, dùng deflazacort cách xa các thuốc kháng acid ít nhất 2 giờ.

4.9 Quá liều và xử trí:

Quá liều cấp tính không nhất thiết phải điều trị. Ở động vật thí nghiệm dùng liều uống LD50 lớn hơn 4000 mg/kg.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Deflazacort là một glucocorticoid. Tác dụng kháng viêm và ức chế miễn dịch của deflazacort được dùng trong điều trị các bệnh khác nhau và có thể sánh với các thuốc kháng viêm steroid khác. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy tỉ lệ trung bình của deflazacort so với prednisolon là 0,69-0,89.

Cơ chế tác dụng:

Glucocorticoid có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và ức chế miễn dịch.

Glucocorticoid ức chế hiện tượng viêm, làm giảm số lượng các tế bào lympho, bạch cầu ưa eosin, bạch cầu đơn nhân trong máu ngoại biên và giảm sự di chuyển của chúng vào vùng bị viêm. Glucocorticoid còn ức chế chức năng của tế bào lympho và đại thực bào của mô. Tác dụng của glucocorticoid đặc biệt rõ rệt lên các đại thực bào, làm hạn chế khả năng thực bào của chúng, hạn chế khả năng diệt vi sinh vật và hạn chế việc sản sinh interferon – gama, interleukin – 1, chất gây sốt, các men colagenase và elastase, yếu tố gây phá hủy khớp và chất hoạt hóa plasminogen. Glucocorticoid tác dụng lên tế bào lympho làm giảm sản sinh interleukin – 2.

Glucocorticoid còn ảnh hưởng đến đáp ứng viêm bằng cách giảm tổng hợp prostaglandin do ức chế phospholipase A2. Glucocorticoid cũng làm tăng nồng độ lipocortin, ức chế phospholipase A2. Cuối cùng, glucocorticoid làm giảm sự xuất hiện cyclooxygenase ở những tế bào viêm, do đó làm giảm lượng men để sản sinh prostaglandin.

Glucocorticoid làm giảm tính thấm mao mạch do ức chế hoạt tính của kinin và các nội độc tố vi khuẩn do làm giảm lượng histamine giải phóng bởi bạch cầu ưa kiềm.

Glucocorticoid với liều thấp có tác dụng chống viêm, liều cao có tác dụng ức chế miễn dịch. Những liều lớn thuốc có thể làm giảm sản sinh kháng thể, còn liều trung bình không có tác dụng này.

Trong một số trường hợp, glucocorticoid làm chết các tế bào lympho -T. Những tế bào lympho – T bình thường trong máu ngoại biên có tính đề kháng cao đối với tác dụng gây chết tế bào của glucocorticoid. Tuy nhiên, những tế bào lympho không bình thường, gồm cả một số tế bào ung thư, có thể nhạy cảm hơn nhiều. Glucocorticoid liều cao có thể gây chết tế bào theo chương trình (apoptosis). Những tác dụng kháng lympho bào này được sử dụng trong hóa trị liệu bệnh bạch cầu cấp thể lympho cấp tính và bệnh u lympho.

Những cơn hen cấp tính nhẹ thường được điều trị bằng uống glucocorticoid đợt ngắn. Mọi ức chế chức năng tuyến thượng thận thường hết trong vòng 1 đến 2 tuần. Trong điều trị bệnh hen phế quản mạn tính, luôn luôn phải sử dụng glucocorticoid dài ngày với những liều khác nhau theo thời gian tùy theo bệnh biến chuyển nặng nhẹ khác nhau.

Glucocorticoid được dùng trong điều trị nhiều chứng bệnh thấp và trong bệnh tự miễn như lupus ban đỏ toàn thân và nhiều bệnh viêm mạch như viêm quanh động mạch nút, bệnh u hạt Wegener, viêm động mạch tế bào khổng lồ. Đối với những rối loạn nặng này, liều glucocorticoid bắt đầu phải đủ (cao hơn liều có tác dụng chống viêm) để làm giảm bệnh nhanh chóng và để giảm thiểu các thương tổn mô, sau đó là giai đoạn củng cố, với một liều duy nhất mỗi ngày được giảm dần tới liều tối thiểu có tác dụng.

Glucocorticoid có tác dụng tốt ở một số người mắc bệnh viêm loét đại tràng mạn tính và bệnh Crohn, các bệnh dị ứng ngắn ngày như sốt cỏ khô, bệnh huyết thanh, mày đay, viêm da tiếp xúc, phản ứng thuốc, ong đốt và phù thần kinh – mạch, bệnh tự miễn như viêm gan mạn tính.

Dùng glucocorticoid một mình hoặc phối hợp với những thuốc ức chế miễn dịch khác để ngăn ngừa sự thải ghép và để điều trị những bệnh tự miễn khác. Để chống thải ghép cấp, đòi hỏi phải dùng liều cao glucocorticoid trong nhiều ngày và để ngăn ngừa mảnh ghép chống lại chủ thể cấp, phải dùng liều glucocorticoid hơi thấp hơn, điều đó có thể xảy ra sau khi ghép tủy xương. Sử dụng glucocorticoid dài ngày để ngăn ngừa thải ghép thường gây ra nhiều tác dụng không mong muốn, bao gồm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, loét đường tiêu hóa, tăng glucose huyết loãng xương.

Trong trường hợp viêm màng não, cần phải dùng glucocorticoid trước khi dùng kháng sinh để giảm thiểu tác hại của viêm do đáp ứng diệt khuẩn ở hệ thần kinh trung ương.

Glucocorticoid là liệu pháp hàng đầu điều trị hội chứng thận hư. Trong bệnh viêm cầu thận màng có thể dùng liệu pháp glucocorticoid cách nhật, trong 8 đến 10 tuần, sau đó giảm dần liều trong thời gian 1 đến 2 tháng.

Trong thiếu máu tan huyết tự miễn, nếu không chữa được nguyên nhân chính hoặc nếu cần can thiệp khẩn cấp, thì glucocorticoid là thuốc điều trị có hiệu quả.

Bệnh sarcoid được điều trị bằng glucocorticoid. Do nguy cơ mắc bệnh lao thứ phát tăng, nên người bệnh có biểu hiện mắc lao phải được điều trị dự phòng chống lao.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Deflazacort dùng qua đường uống, được hấp thu tốt và biến đổi ngay bởi enzym esterase huyết tương thành chất chuyển hóa có hoạt tính (D 21-OH), chất chuyển hóa này đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương trong 1,5 đến 2 giờ. Khoảng 40% chất chuyển hóa gắn kết với protein và không có ái lực với corticosteroid-binding-globulin (transcortin).

Thời gian bán thải trong huyết tương của chất chuyển hóa này là 1,1-1,9 giờ. Thuốc được thải trừ chủ yếu qua thận; khoảng 70% liều dùng được bài tiết trong nước tiểu. Khoảng 30% phần còn lại được thải trừ qua phân. Chất D 21-OH được chuyển hóa rộng, chỉ có 18% chất D 21-OH được đào thải trực tiếp qua nước tiểu. Chất chuyển hóa của D 21-OH, deflazacort 6-beta-OH, chiếm 1/3 chất bài tiết qua đường tiểu.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Microcrystalline cellulose, Lactose monohydrate, Maize starch, Magnesium stearate

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.