Cetuximab

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Cetuximab

Phân loại: Thuốc chống ung thư. Kháng thể đơn dòng

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01XC06.

Brand name: Erbitux .

Generic : Cetuximab

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch dùng để tiêm truyền chứa Erbitux 5mg/ml.

Thuốc tham khảo:

ERBITUX 5mg/ml
Mỗi ml dung dịch có chứa:
Cetuximab …………………………. 5 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Cetuximab được chỉ định để điều trị bệnh nhân bị ung thư đại-trực tràng di căn thuộc type KRAS tự nhiên, có biểu lộ EGFR

Dùng phối hợp với hóa trị

Dùng đơn thuần cho các bệnh nhân thất bại điều trị với các phác đồ có oxaliplatin và irinotecan và những bệnh nhân không dung nạp irinotecan.

Cetuximab được chỉ định để điều trị bệnh nhân bị ung thư tế bào vảy vùng đầu và cổ

Dùng phối hợp với xạ trị khi bệnh tiến triển tại chỗ

Dùng phối hợp với phác đồ hóa trị có platinum khi bệnh tái phát và/hoặc di căn.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng:

Hướng dẫn cách sử dụng và xử lý

Cetuximab 5mg/ml được tiêm truyền tĩnh mạch với một bơm truyền dịch, một bình nhỏ giọt hoặc 1 bơm ống tiêm. Phải sử dụng một đường truyền riêng biệt để truyền Cetuximab và đường truyền này phải được rửa sạch bằng dung dịch Natri chloride vô khuẩn 9mg/ml (NaCl 0.9%) khi kết thúc truyền thuốc.

Cetuximab 5mg/ml là một dung dịch không màu.

Cetuximab 5mg/ml tương hợp với:

Các loại túi PE (polyethylene), EVA (ethyl vinyl acetate) hoặc PVC (polyvinyl chloride),

Các loại bộ dây truyền PE, EVA, PVA, TP (polyolefine thermoplast) hoặc PUR (polyurethane),

Các loại bơm tiêm PP (polypropylene) dùng cho bơm ống tiêm.

Cetuximab không chứa bất cứ chất bảo quản kháng khuẩn hoặc chất kìm khuẩn. Vì vậy phải bảo đảm xử lý vô khuẩn khi chuẩn bị truyền thuốc. Khuyến cáo phải dùng ngay sau khi mở lọ thuốc.

Chuẩn bị Cetuximab 5mg/ml như sau:

Khi sử dụng với một bơm tiêm truyền hoặc một bình nhỏ giọt (pha loãng với dung dịch NaCl 9mg/ml (0.9%):

Lấy một túi NaCl 0.9% với thể tích vừa đủ. Tính toán thể tích Cetuximab cần thiết. Dùng một ống tiêm và kim tiêm vô khuẩn thích hợp rút ra một lượng vừa đủ dung dịch NaCl 0.9%. Lấy một ống tiêm và kim tiêm khác. Rút một lượng Cetuximab cần thiết từ lọ thuốc. Bơm lượng Cetuximab này vào túi NaCl 0.9% đã chuẩn bị. Lặp lại động tác này cho đến khi có được thể tích Cetuximab đã tính toán. Nối hệ thống dây truyền vào và đuổi khí trong dây truyền bằng dung dịch Cetuximab đã pha loãng trước khi truyền. Dùng một bình nhỏ giọt hoặc một bơm truyền để truyền thuốc. Lắp đặt và kiểm soát tốc độ truyền như đã giải thích ở trên.

Khi sử dụng với một bơm tiêm truyền hoặc một bình nhỏ giọt (không pha loãng):

Tính toán liều Cetuximab cần thiết. Dùng một ống tiêm thích hợp (tối thiểu là 50 ml) và gắn vào một kim tiêm thích hợp rút một lượng Cetuximab cần thiết từ lọ thuốc. Bơm lượng Cetuximab này vào một túi hoặc một bình chứa đã hút chân không vô khuẩn. Lặp lại động tác này cho đến khi có được thể tích Cetuximabđã tính toán. Nối hệ thống dây truyền và đuổi khí trong dây truyền với dung dịch Cetuximab trước khi truyền. Dùng một bình nhỏ giọt hoặc một bơm tiêm truyền để truyền thuốc. Thiết lập và kiểm soát tốc độ truyền như đã giải thích ở trên.

Khi sử dụng với một bơm ống tiêm: Tính toán liều Cetuximab cần thiết. Lấy một ống tiêm và kim tiêm rút một lượng Cetuximab cần thiết từ lọ chứa. Lấy kim tiêm ra và đặt ống tiêm vào hệ thống bơm. Nối dây truyền vào hệ thống bơm, thiết lập và kiểm soát tốc độ truyền như đã giải thích ở trên và bắt đầu truyền sau khi đã đuổi khí trong dây truyền bằng Cetuximab hoặc dung dịch NaCl 0.9% vô khuẩn. Nếu cần thiết, lặp lại động tác này cho đến khi thể tích Cetuximab đã tính toán được truyền hết.

Liều dùng:

Cetuximab phải được sử dụng dưới sự giám sát của bác sĩ có kinh nghiệm trong việc sử dụng thuốc chống ung thư. Cần phải theo dõi chặt chẽ trong suốt thời gian truyền Cetuximab và cho đến ít nhất 1 giờ sau khi kết thúc việc truyền thuốc. Phải sẵn sàng các phương tiện hồi sức.

Trước khi truyền lần đầu, phải cho bệnh nhân sử dụng trước thuốc kháng histamine và corticosteroid. Các thuốc sử dụng trước này được khuyến cáo dùng trước cho tất cả các lần truyền Cetuximab tiếp theo.

Trong tất cả các chỉ định, Cetuximab được dùng 1 lần mỗi tuần, với liều đầu tiên là 400 mg Cetuximab/m2 bề mặt cơ thể với thời gian truyền được khuyến cáo là 120 phút. Tất cả những liều truyền hàng tuần tiếp theo là 250 mg/m2 bề mặt cơ thể với thời gian truyền được khuyến cáo là 60 phút. Tốc độ truyền tối đa không quá 10 mg/phút.

Ung thư đại-trực tràng

Đối với những bệnh nhân ung thư đại-trực tràng di căn, Cetuximab được sử dụng phối hợp với hóa trị hoặc đơn trị. Xét nghiệm phát hiện đột biến gen KRAS phải được thực hiện trước khi truyền Cetuximab lần đầu. Việc thực hiện phương pháp xét nghiệm đã chuẩn hóa tại phòng xét nghiệm có kinh nghiệm là rất quan trọng.

Khi thay đổi liều điều trị hoặc liều dùng được khuyến cáo khi dùng đồng thời với các thuốc hóa trị, nên tham khảo thông tin sản phẩm của những thuốc này. Không được dùng các thuốc hóa trị sớm hơn 1 giờ sau khi kết thúc truyền Cetuximab.

Khuyến cáo tiếp tục điều trị Cetuximab cho đến khi bệnh tiến triển.

Ung thư tế bào vảy vùng đầu và cổ

Điều trị đồng thời Cetuximab với xạ trị đối với những bệnh nhân bị ung thư tế bào vảy vùng đầu và cổ tiến triển tại chỗ. Nên bắt đầu điều trị Cetuximab 1 tuần trước khi xạ trị và tiếp tục điều trị với Cetuximab cho đến khi kết thúc đợt xạ trị.

Đối với những bệnh nhân bị ung thư tế bào vảy vùng đầu và cổ tái phát và/hoặc di căn, Cetuximab được sử dụng phối hợp với các phác đồ hóa trị có platinum và sau đó duy trì bằng Cetuximab cho đến khi bệnh tiến triển. Không được sử dụng hóa trị sớm hơn 1 giờ sau khi kết thúc điều trị bằng Cetuximab.

4.3. Chống chỉ định:

Không dùng Cetuximab ở những bệnh nhân quá mẫn cảm với cetuximab (độ 3 hoặc 4 theo tiêu chuẩn độc tính thường gặp của Viện ung thư Quốc gia Hoa kỳ – NCI-CTC).

Trước khi bắt đầu điều trị phối hợp, phải lưu ý xem có chống chỉ định điều trị cùng lúc với các thuốc hóa trị hoặc với xạ trị hay không.

Phối hợp với oxaliplatin cho bệnh nhân mCRC có RAS đột biến hay RAS chưa được biết.

4.4 Thận trọng:

Phản ứng liên quan đến tiêm truyền:

Nếu bệnh nhân bị phản ứng liên quan đến tiêm truyền truyền mức độ nhẹ hoặc trung bình, có thể giảm tốc độ truyền. Khuyến cáo nên duy trì tốc độ truyền thấp hơn cho những lần truyền sau.

Đã có những báo cáo về những phản ứng nghiêm trọng liên quan đến tiêm truyền ở bệnh nhân điều trị bằng Cetuximab. Những triệu chứng thường xảy ra trong lần truyền đầu tiên và tối đa là 1 giờ sau khi kết thúc việc tiêm truyền, nhưng có thể xảy ra sau nhiều giờ hơn ở những lần truyền sau. Khuyến cáo nên cảnh báo bệnh nhân về khả năng có thể xảy ra phản ứng muộn này và hướng dẫn họ liên hệ ngay với bác sĩ nếu các phản ứng liên quan đến tiêm truyền xảy ra. Nếu phản ứng liên quan đến tiêm truyền nghiêm trọng xảy ra, ngay lập tức ngưng dùng Cetuximab và điều trị cấp cứu. Khuyến cáo lưu ý đặc biệt đối với bệnh nhân có tình trạng cơ năng kém và bệnh lý tim, phổi trước đó.

Rối loạn hô hấp:

Các trường hợp cá thể bị bệnh phổi mô kẽ chưa rõ có liên quan đến Cetuximab hay không đã được báo cáo. Nếu bệnh nhân được chẩn đoán là bệnh phổi mô kẽ thì nên ngừng điều trị Cetuximab và phải tiến hành điều trị thích hợp bệnh lý phổi này.

Phản ứng ngoài da:

Nếu bệnh nhân bị những phản ứng ngoài da nghiêm trọng (≥ độ 3, theo Tiêu chuẩn độc tính thường gặp của Viện ung thư Quốc gia Hoa kỳ – NCI-CTC), nên ngừng việc điều trị Cetuximab. Việc điều trị chỉ có thể bắt đầu lại nếu phản ứng ngoài da được xử lý xuống còn độ 2. Nếu phản ứng ngoài da nghiêm trọng xảy ra lần đầu, việc điều trị có thể bắt đầu lại mà không cần thay đổi liều lượng.

Nếu phản ứng ngoài da nghiêm trọng xảy ra lần thứ hai hoặc thứ ba, phải tiếp tục ngừng điều trị Cetuximab. Chỉ bắt đầu điều trị lại bằng Cetuximab với liều thấp hơn (200 mg/m2 bề mặt cơ thể sau tai biến lần hai và 150 mg/m2 sau tai biến lần ba) nếu các phản ứng ngoài da được xử lý xuống còn độ 2.

Nếu phản ứng ngoài da nghiêm trọng xảy ra đến lần thứ tư hoặc các phản ứng này không được xử lý xuống đến độ 2 trong khi ngừng điều trị Cetuximab thì phải dừng vĩnh viễn điều trị Cetuximab.

Rối loạn điện giải:

Thường xảy ra giảm liên tục nồng độ magnesium trong huyết thanh và có thể gây giảm magnesium máu nghiêm trọng. Tình trạng này có thể hồi phục sau khi ngừng điều trị Cetuximab. Ngoài ra, có thể xảy ra giảm kali máu do tiêu chảy. Giảm canxi trong máu có thể xảy ra, đặc biệt trong điều trị phối hợp với phác đồ hóa trị có platinum, tần xuất giảm canxi máu nghiêm trọng có thể tăng.

Khuyến cáo nên xác định nồng độ điện giải huyết thanh trước & định kỳ trong thời gian điều trị bằng Cetuximab. Nên bù điện giải thích hợp.

Giảm bạch cầu đa nhân trung tính và biến chứng nhiễm trùng liên quan:

Bệnh nhân được điều trị bằng Cetuximab phối hợp với hóa trị có platinum sẽ có nguy cơ cao bị giảm bạch cầu đa nhân trung tính nghiêm trọng, tình trạng này có thể dẫn đến các biến chứng nhiễm trùng tiếp theo như sốt giảm bạch cầu, viêm phổi hoặc nhiễm trùng. Nên theo dõi cẩn thận những bệnh nhân này, đặc biệt là những người có sang thương ngoài da, viêm niêm mạc hay tiêu chảy vì dễ bị nhiễm trùng hơn.

Các rối loạn tim mạch:

Sự gia tăng tần suất các trường hợp biến cố tim mạch nặng & đôi khi gây tử vong và các trường hợp tử vong do điều trị đã được quan sát thấy trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư tế bào vảy đầu và cổ và ung thư đại-trực tràng. Trong vài nghiên cứu (ung thư phổi không tế bào nhỏ) mối liên quan với tuổi ≥ 65 được ghi nhận. Khi kê đơn Cetuximab, nên lưu ý đến tình trạng tim mạch của bệnh nhân và các hoạt chất gây độc trên tim mạch được sử dụng đồng thời như fluoropyrimidines.

Bệnh nhân ung thư đại-trực tràng có gen KRAS đột biến:

Cetuximab không nên sử dụng điều trị cho bệnh nhân ung thư đại-trực tràng có gen KRAS đột biến hoặc bệnh nhân mà tình trạng KRAS của bướu chưa xác định. Kết quả từ những nghiên cứu lâmsàng cho thấy sự cân bằng giữa lợi ích-nguy cơ âm tính ở bệnh nhân có KRAS đột biến.

Những nghiên cứu lâm sàng cho thấy một kết quả âm tính trong sự cân bằng giữa lợi ích-nguy cơ ở bệnh nhân có KRAS đột biến.

Phối hợp điều trị:

Khi phối hợp điều trị giữa Cetuximab và các thuốc hóa trị, nên tham khảo thông tin sản phẩm của những thuốc này.

Hiện tại chỉ có ít kinh nghiệm về việc sử dụng Cetuximab phối hợp với xạ trị trong điều trị ung thư đại-trực tràng.

Các trường hợp đặc biệt:

Cho đến nay, các nghiên cứu chỉ được thực hiện ở những bệnh nhân có chức năng gan, thận tốt (creatinine huyết thanh ≤ 1.5 lần, các men transaminase ≤ 5 lần và bilirubin trong máu ≤ 1.5 lần giới hạn trên của mức bình thường). Cetuximab chưa được nghiên cứu ở các bệnh nhân bị một hoặc nhiều các thông số xét nghiệm bất thường sau: hemoglobin < 9g/dl; số lượng bạch cầu < 3000/mm3, số lượng tuyệt đối của bạch cầu đa nhân trung tính < 1500/mm3, tiểu cầu < 100000/mm3.

Trẻ em:

Tính an toàn và hiệu quả của cetuximab ở bệnh nhân dưới 18 tuổi chưa được chứng minh.

Người già:

Không cần điều chỉnh liều ở người già, nhưng kinh nghiệm dùng thuốc này ở người già ≥ 75 tuổi còn hạn chế.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

EGFR có liên quan đến sự phát triển phôi thai. Các nghiên cứu hạn chế ở động vật cho thấy cetuximab qua được nhau thai và các kháng thể IgG1 khác cũng qua được hàng rào nhau thai. Những dữ liệu trên động vật cho thấy không có bằng chứng cetuximab gây quái thai. Tuy nhiên các tác giả thấy có sự tăng tỷ lệ sẩy thai phụ thuộc liều. Hiện tại chưa có những dữ liệu đầy đủ về ảnh hưởng của cetuximab đến phụ nữ có thai. Các nhà nghiên cứu khuyến cáo là chỉ nên sử dụng cetuximab cho phụ nữ có thai hoặc cho bất cứ phụ nữ nào không áp dụng đầy đủ các biện pháp tránh thai nếu như điều này có lợi nhiều hơn so với nguy cơ cho thai nhi.

Thời kỳ cho con bú:

Cũng không nên cho con bú trong quá trình điều trị bằng cetuximab và cho đến 2 tháng sau liều cetuximab cuối cùng, bởi vì hiện nay chưa biết được cetuximab có tiết qua sữa hay không.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Rất thường gặp (≥ 1/10)

Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: Giảm magnesium trong máu

Rối loạn da và mô dưới da: Phản ứng ngoài da*

Các rối loạn toàn thân và tình trạng liên quan đến vị trí tiêm thuốc: Các phản ứng liên quan đến tiêm truyền* từ nhẹ đến trung bình, viêm niêm mạc từ nhẹ đến trung bình có thể dẫn đến hiện tượng chảy máu mũi

Rối loạn hệ gan mật: Tăng men gan (ASAT, ALAT, AP).

Thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10)

Rối loạn hệ thống thần kinh: Nhức đầu

Rối loạn mắt: Viêm kết mạc

Rối loạn hệ tiêu hóa: Tiêu chảy, buồn nôn, nôn ói

Rối loạn da và mô dưới da: Mất nước, đặc biệt thứ phát sau tiêu chảy hoặc viêm niêm mạc; giảm canxi trong máu, chán ăn có thể dẫn đến sút cân

Các rối loạn toàn thân và tình trạng liên quan đến vị trí tiêm thuốc: Các phản ứng liên quan đến tiêm truyền* nghiêm trọng, mệt mỏi

Ít gặp (≥ 1/1000 đến < 1/100)

Rối loạn mắt: Viêm củng mạc, viêm giác mạc

Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất: Thuyên tắc phổi

Rối loạn mạch máu: Huyết khối tĩnh mạch sâu

Không rõ tần suất:

Bội nhiễm sang thương ngoài da*

Những phản ứng liên quan đến tiêm truyền

Rất thường gặp những phản ứng từ nhẹ đến trung bình liên quan đến tiêmtruyền bao gồm các triệu chứng như sốt, ớn lạnh, chóng mặt hoặc khó thở xảy ra chủ yếu có liên quan đến lần truyền Cetuximab đầu tiên.

Những phản ứng nghiêm trọng liên quan đến tiêm truyền có thể cũng thường xảy ra, hiếm khi gây tử vong. Các phản ứng này thường tiến triển trong vòng 1 giờ sau khi bắt đầu truyền Cetuximab, nhưng cũng có thể xảy ra sau vài giờ hoặc ở những lần truyền tiếp theo. Mặc dù người ta chưa biết rõ cơ chế nhưng một số trường hợp có thể có bản chất là phản ứng phản vệ hoặc dạng phản vệ và có thể bao gồm các triệu chứng như co thắt phế quản, nổi mày đay, tăng hoặc giảm huyết áp, bất tỉnh hoặc bị sốc. Hiếm trường hợp có thể có đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim hoặc ngưng tim.

Để điều trị lâm sàng các phản ứng liên quan đến tiêm truyền, nên xem trong mục &quot;Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng&quot;.

Các phản ứng ngoài da

Các phản ứng ngoài da có thể tiến triển trên 80% bệnh nhân, chủ yếu hiện diện dưới dạng các sẩn dạng mụn trứng cá và/hoặc với tần suất ít hơn có thể gặp ở dạng sẩn ngứa, khô da, bong vảy, rụng tóc hoặc rụng móng. Khoảng 15% phản ứng ngoài da là nghiêm trọng, bao gồm những trường hợp hoại tử da. Đa phần các phản ứng ngoài da xảy ra trong vòng 3 tuần đầu điều trị. Nói chung các rối loạn này có thể điều trị khỏi mà không để lại di chứng gì sau khi ngưng thuốc nếu có điều chỉnh liều theo khuyến cáo. Theo Tiêu chuẩn độc tính thường gặp của Viện ung thư Quốc gia Hoa kỳ – NCI-CTC, phản ứng da độ 2 là khi có nổi sẩn đến 50% bề mặt cơ thể, phản ứng ngoài da độ 3 là nổi sẩn ≥ 50% bề mặt cơ thể.

Những sang thương ngoài da do Cetuximab có thể làm bệnh nhân dễ bị bội nhiễm (ví dụ bội nhiễm S.aureus), có thể dẫn đến những biến chứng tiếp theo như viêm mô tế bào, viêm tấy hoặc có khả năng dẫn đến tử vong, dẫn đến hội chứng chốc đầu do staphylococcus hoặc nhiễm trùng.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Khi phối hợp điều trị Cetuximab với các phác đồ hóa trị có platinum, tần suất bị giảm bạch cầu nghiêm trọng hoặc giảm bạch cầu đa nhân trung tính nghiêm trọng tăng lên, và như thế sẽ đưa đến tỷ lệ bị các biến chứng nhiễm trùng như số giảm bạch cầu, viêm phổi và nhiễm trùng máu cao hơn so với chỉ hóa trị đơn thuần với phác đồ có platinum (xem thêm mục &quot;Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng&quot;.

Khi điều trị phối hợp Cetuximab với fluoropyrimidines, tần suất bị thiếu máu cục bộ cơ tim kề cả nhồi máu cơ tim và suy tim sung huyết cũng như tần suất bị hội chứng tay-chân (lòng bàn tay, lòng bàn chân bị đỏ do loạn dưỡng) cũng tăng hơn so với chỉ dùng fluoropyrimidines đơn thuần.

Một nghiên cứu chính thức về tương tác thuốc với irinotecan ở người cho thấy không có sự thay đổi về dược động học ở cả 2 thuốc này. Những dữ liệu lâm sàng cho thấy không ảnh hưởng đến tính an toàn của Cetuximab. Hiện tại chưa có nghiên cứu nào khác về tính tương tác ở người với thuốc Cetuximab.

4.9 Quá liều và xử trí:

Cho đến nay, có ít kinh nghiệm khi sử dụng liều đơn > 400 mg/m2 bề mặt cơ thể hoặc liều dùng hàng tuần > 250 mg/m2 bề mặt cơ thể. Do đó cần phải hạn chế tối đa việc sử dụng quá liều.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Cetuximab ức chế sự tăng sinh tế bào bướu có biểu lộ EGFR ở người & gây ra sự chết tế bào theo lập trình. Thuốc này cũng ức chế sản xuất các yếu tố sinh mạch, ức chế sự di cư các tế bào nội mô & làm giảm sự thành lập các mạch máu mới & di căn. Được sử dụng trong:

Ung thư đại-trực tràng

Ung thư tế bào vảy của vùng đầu và cổ

Tính sinh miễn dịch:

Sự phát triển của các kháng thể kháng lai người (HACA) là tác dụng chuyên biệt cho loài của các kháng thể lai đơn dòng. HACA đo lường được tiến triển trong khoảng 3.4% số bệnh nhân được nghiên cứu. Cho đến nay, không có thông số kết luận về tác dụng trung hòa trên cetuximab. Sự hiện diện của HACA không liên quan đến sự cố bị phản ứng quá mẫn hoặc bất cứ tác dụng phụ nào của cetuximab.

Cơ chế tác dụng:

Thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) là một phần trong đường dẫn truyền tín hiệu liên quan đến việc kiểm soát sự sinh tồn tế bào, sự tiến triển chu trình tế bào, sự sinh mạch, sự di cư & sự xâm lấn hoặc di căn tế bào. Cetuximab là một kháng thể đơn dòng khảm IgG1, có tác dụng đặc hiệu kháng EGFR. Thuốc này có ái lực gắn với EGFR cao hơn khoảng 5-10 lần so với các liên kết nội sinh & ức chế chức năng của thụ thể này. Cetuximab gây ra nội bào hóa & do đó có thể dẫn đến điều hòa giảm EGFR. Cetuximab cũng nhắm vào các tế bào có chức năng miễn dịch gây độc tế bào hướng đến các tế bào bướu biểu lộ EGFR (cơ chế gây độc qua trung gian tế bào phụ thuộc kháng thể – ADCC).

Cetuximab không gắn vào các thụ thể khác thuộc nhóm HER.

Sản phẩm protein của tiền oncogen KRAS (chất tương đồng oncogen 2 virus gây bệnh sarcom Kirsten ở chuột) là một chất dẫn truyền tín hiệu về trung tâm của EGFR. Trong các bướu, sự hoạt hóa protein KRAS do EGFR có liên quan đến sự gia tăng phát triển bướu qua trung gian EGFR, đến sự sinh tồn bướu & sự sinh sản các yếu tố tiền sinh mạch.

KRAS là một trong những oncogen thường bị hoạt hóa nhất trong khối ung thư ở người. Sự đột biến gien KRAS gây ra sự hoạt hóa cơ bản protein KRAS mà không phụ thuộc vào quá trình dẫn truyền tín hiệu EGFR.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Truyền tĩnh mạch cetuximab cho thấy dược động học phụ thuộc liều với liều hàng tuần thay đổi từ 5-500 mg/m2 diện tích bề mặt cơ thể. Khi sử dụng cetuximab với liều khởi đầu 400 mg/m2 diện tích bề mặt cơ thể, thể tích phân bố trung bình đạt mức tương đương với không gian mạch máu (2.9 l/m2, thay đổi từ 1.5-6.2 l/m2). Cmax trung bình (± độ lệch chuẩn) là 185 ± 55 microgam/mL. Độ thanh thải trung bình là 0.022 l/giờ/m2 bề mặt cơ thể. Cetuximab có thời gian bán thải dài với giá trị thay đổi từ 70-100 giờ với liều đích.

Nồng độ cetuximab trong huyết thanh đạt đến mức ổn định sau 3 tuần điều trị cetuximab đơn thuần. Nồng độ đỉnh trung bình của cetuximab là 155.8 microgam/mL trong tuần thứ 3 và 151.6 microgam/mL vào tuần thứ 8, trong khi đó nồng độ dưới đường cong trung bình tương ứng là 41.3 và 55.4 microgam/mL. Trong một nghiên cứu điều trị cetuximab phối hợp với irinotecan, nồng độ dưới đường cong trung bình của cetuximab là 50.0 microgam/mL trong tuần 12 và 49.4 microgam/mL trong tuần 36.

Có nhiều con đường được mô tả là góp phần chuyển hóa các kháng thể. Tất cả các con đường này đều liên quan đến sự sinh thoái biến các kháng thể thành các phân tử nhỏ hơn.

Một phân tích tổng hợp tất cả các nghiên cứu lâm sàng cho thấy rằng các đặc điểm dược động học của cetuximab không bị ảnh hưởng bởi chủng tộc, tuổi tác, giới tính và tình trạng gan hoặc thận.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Sodium chloride, Glycine, Polysorbate 80, Citric acid monohydrate, Sodium hydroxide , Water for injections

6.2. Tương kỵ :

Không được pha trộn Cetuximab với những thuốc tiêm truyền tĩnh mạch khác ngoại trừ những thuốc được đề cập đến trong mục &quot;Hướng dẫn sử dụng và xử lý&quot;. Phải sử dụng một đường truyền riêng biệt cho Cetuximab.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản trong tủ lạnh (2-8oC).

Độ ổn định

Nếu dung dịch đã pha như đã mô tả ở phần trên, độ ổn định hóa học và vật lý khi sử dụng của dung dịch Cetuximab được chứng minh trong 48 giờ ở 25oC.

Cetuximab không chưa bất kỳ chất bảo quản kháng khuẩn hoặc kìm khuẩn. Sử dụng ngay sau khi mở lọ thuốc ra. Nếu không sử dụng ngay, thời gian và điều kiện bảo quản trước khi sử dụng là trách nhiệm của người sử dụng; thông thường không nên để kéo dài hơn 24 giờ ở nhiệt độ 2-8oC.

6.4. Thông tin khác :

An toàn tiền lâm sàng

Những biến đổi ngoài da phụ thuộc liều, bắt đầu xuất hiện ở nồng độ liều tương đương với ở người, là những biểu hiện chủ yếu trong các nghiên cứu độc tính trên động vật. Một nghiên cứu độc tính trên phôi thai được tiến hành ở khỉ Cynomolgus cho thấy không có dấu hiệu gây quái thai. Tuy nhiên các tác giả thấy có sự tăng tỷ lệ sẩy thai phụ thuộc liều.

Các dữ liệu tiền lâm sàng về tính gây độc cho gen & tính dung nạp tại chỗ kể cả những tai biến về đường truyền tĩnh mạch cho thấy không có nguy hại đặc biệt nào ở người.

Hiện tại chưa có các nghiên cứu chính thức nào thực hiện trên động vật nhằm xác định tiềm năng gây ung thư của cetuximab hoặc xác định tính gây vô sinh ở nam và nữ ở thuốc này.

Nghiên cứu độc tính khi dùng cùng lúc cetuximab với các thuốc hóa trị cũng chưa được thực hiện.

Hiện tại cũng chưa có các dữ liệu tiền lâm sàng về tác dụng của cetuximab đến sự lành vết thương. Tuy nhiên, các thí nghiệm về sự lành vết thương tiền lâm sàng cho thấy các thuốc ức chế tyrosine kinase chọn lọc EGFR có làm chậm lành vết thương.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.