Bleocip (Bleomycin)

Bleomycin – Bleocip

Thông tin tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc Bleocip

Bleocip là thuốc kê đơn dùng đường tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, tiêm dưới da, tiêm trong động mạch, tiêm trong màng phổi, do Cipla Ltd sản xuất, thuốc có chứa thành phần chính là dược chất Bleomycin. Bleomycin là một loại thuốc hóa trị được sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh ác tính, bao gồm bệnh ung thư biểu mô tế bào vảy, bệnh Hodgkin và u lympho ác tính khác, bao gồm cả u sùi dạng nấm., tràn dịch màng phổi ác tính. Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng của Thuốc Bleocip (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…):

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Bleomycin (Bleomycin sulfate)

Phân loại: Thuốc chống ung thư > Thuốc kháng sinh gây độc tế bào.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L01DC01.

Biệt dược gốc: Hiện chưa có thuốc đăng ký biệt dược gốc tại Việt Nam.

Biệt dược: Bleocip

Hãng sản xuất : Cipla Ltd.

Hãng đăng kí: Cipla Ltd.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Bột đông khô để pha tiêm. Mỗi lọ: Bleomycin 15 I.U.

Hình ảnh tham khảo:

BLEOCIP
Mỗi lọ bột đông khô pha tiêm có chứa:
Bleomycin …………………………. 15 I.U
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

Bleocip (Bleomycin 15 IU)

3. Thông tin dành cho người sử dụng:

3.1. Bleocip là thuốc gì?

Bleocip là thuốc kê đơn dùng đường tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, tiêm dưới da, tiêm trong động mạch, tiêm trong màng phổi, do Cipla Ltd sản xuất, thuốc có chứa thành phần chính là dược chất Bleomycin. Bleomycin là một loại thuốc hóa trị được sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh ác tính, bao gồm bệnh ung thư biểu mô tế bào vảy, bệnh Hodgkin và u lympho ác tính khác, bao gồm cả u sùi dạng nấm., tràn dịch màng phổi ác tính.

3.2. Câu hỏi thường gặp phổ biến:

Thuốc Bleomycin có gây rụng tóc không ?

Có, Rụng tóc thường bắt đầu sau lần điều trị đầu tiên hoặc thứ hai. Tóc sẽ mỏng hơn hoặc có thể bị rụng hết toàn bộ. Ngoài ra người bệnh cũng có thể bị rụng lông mi và lông mày, …

Tác dụng phụ thường gặp nhất của thuốc bleomycin là gì?

Độc tính của Bleomycin chủ yếu ảnh hưởng đến da, tiêu hóa, phổi. Thường gặp nhất là triệu chứng buồn nôn, nôn, chán ăn, loét miệng, khó thở, tê, đau và ngứa ran ở các chi, rụng tóc, …

Bleomycin có nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam không?

Bleomycin CÓ nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam. Bleomycin nằm trong nhóm thuốc điều trị bệnh ung thư và điều hòa miễn dịch. Vì vậy người bệnh có thể được sử dụng thuốc này tại các cơ sở khám chữa bệnh chuyên khoa theo tuyến bảo hiểm y tế.

4. Thông tin dành cho nhân viên y tế:

4.1. Chỉ định:

Ung thư biểu mô tế bào vẩy có ảnh hưởng đến miệng, mũi họng, xoang mũi, hầu, thực quản, bên ngoài bộ phận sinh dục, cổ tử cung hoặc da. Các khối u biệt hóa thường đáp ứng tốt hơn các khối u không biệt hóa.

Bệnh Hodgkin và u lympho ác tính khác, bao gồm cả u sùi dạng nấm.

U quái tinh hoàn

Tràn dịch ác tính các xoang huyết thanh.

Thuốc lựa chọn hàng thứ hai, Bleomycin cho thấy đã có hiệu quả (khi dùng một mình hoặc kết hợp với các thuốc khác) trong điều trị các khối u ác tính di căn, carcinom tuyến giáp, phổi và bàng quang.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Đường dùng: Tiêm tĩnh mạch (IV), tiêm bắp (IM) hoặc tiêm dưới da

Liều được tính theo đơn vị (USP) 1 đơn vị Bleomycin (USP) tương đương với 103 đvqt.

7,5 mg Bleomycin sulphat = 15 đơn vị (USP).

Người lớn:

Bleomycin thường được tiêm bắp nhưng có thể tiêm tĩnh mạch (một lần hay nhỏ giọt), tiêm trong động mạch, truyền vào các khoang ở trong màng phổi hoặc trong màng bụng ở dạng dung dịch trong nước muối sinh lý.

Tiêm tại chỗ trực tiếp vào khối u thỉnh thoảng có thể được chỉ định.

Pha dung dịch tiêm:

Tiêm bắp hoặc tiêm dưới da: Lọ Bleocip chứa Bleomycin 15 dơn vị (USP) phải được hòa tan với 5 ml nước cất pha tiêm hoặc dung dịch tiêm Natri Chlorid 0,9%. Bột pha tiêm Bleocip 30 đơn vị được hòa tan với 2-10 ml dung môi trên.

Tiêm tĩnh mạch (IV): Một lượng 15 đơn vị hoặc 30 đơn vị phải dược tương ứng hòa tan trong 5ml -10 ml dung dịch tiêm natri chlorid 0,9% và được tiêm chậm trên 10 phút.

Liều dùng:

Carcinom tế bào vảy và carcinom tinh hoàn:

Liều đơn thường dùng là 15 đơn vị (1 lọ) /m2 da x 3 lần tuần hoặc 30 đơn vị (2 lọ) /m2 da x2 lần/tuần, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh nuạch. Việc điều trị có thể tiếp tục ở những tuần liên tiếp, hoặc thường điều trị trong khoảng thời gian 3-4 tuần, đến tổng liều tích lũy 500 đơn vị, mặc dù ở nam giới còn trẻ bị u tinh hoàn có thể dung nạp được hai lần mức liều này. Tiêm truyền liên tục với liều 15 đơn vị (lọ)/m2/24 giờ trong 10 ngày, hoặc 30 đơn vị (2 lọ) /m2/24 giờ trong 5 ngày có thể cho hiệu quả điều trị nhanh hơn. Phát triển viêm miệng là dấu hiệu rõ nhất để xác định dung nạp của cá nhân với đáp ứng điều trị tối đa. Điều chỉnh liều khi dùng Bleomycin trong hóa trị liệu kết hợp.

U lympho ác tính:

Với người bệnh có u lympho thường dễ có phản ứng phản vệ, cần bắt đầu điều trị với liều thấp dưới 2 đơn vị ở 2 liều đầu. Nếu không có phản ứng cấp nào xảy ra trong vòng 2-4 giờ, tiếp tục cho dùng với liều sau:

Khi dùng một mình chế độ liều khuyến cáo là 15 đơn vị (1 lọ)/m2, 1-2 lần/ tuần, tiêm bắp đến tổng liều là 225 đơn vị (15 lọ). Liều dùng nên giảm ở người già. Điều chỉnh khi dùng bleomycin trong hóa trị liệu kết hợp.

Tràn dịch ác tính:

Sau khi hút dịch trong khoang bị nhiễm, liều 60 đơn vị (4 lọ) bleomycin hòa tan trong 100 ml nước muối sinh lý, cho vào thông qua kim dẫn lưu hoặc ống canuyn. Sau truyền dẫn nhỏ giọt, kim dẫn lưu hoặc ống canuyn có thể được rút ra. Việc sử dụng có thể được lặp lại nhiều lần nếu cần, tùy thuộc vào liều tích lũy tổng cộng 500 đơn vị (khoảng 33 lọ).

Điều trị kết hợp:

Bleomycin thường được sử dụng kết hợp với xạ trị, đặc biệt trong điều trị ung thư vùng đầu và cổ. Một sự kết hợp như thế có thể làm tăng thêm các phản ứng niêm mạc nếu liều đầy đủ cả hai hình thức điều trị đều được dùng và liều dùng bleomycin cần giảm bớt, thí dụ đến 5 đơn vị tại thời điểm của mỗi đợt xạ trị, 5 ngày /tuần. Bleomycin thường được sử dụng như một thuốc trong phác đồ hóa trị liệu kết hợp (ví dụ như ung thư biểu mô tế bào vảy, u quái tinh hoàn, bệnh u lympho). Bleomycin có độc tính niêm mạc nên cần lưu ý khi lựa chọn thuốc và liều thuốc có tiềm năng độc tính tương tự được dùng trong những kết hợp như vậy.

Bệnh nhân cao tuổi:

Tổng liều dùng bleomycin trong điều trị ung thư biêu mô tế bào vảy, u quái tinh hoàn hoặc tràn dịch màng phổi ác tính nên được giảm như chỉ dẫn dưới đây:

Tuổi tính theo năm Tổng Liều (đơn vị) Liều lượng mỗi tuần (đơn vị)
> 80 100 15
70-79 150 – 200 30
60-69 200 – 300 30 – 60
< 60 500 30 – 60

Trẻ em:

Cho đến khi có thêm dữ liệu, chỉ nên dùng bleomycin cho trẻ em trong những trường hợp đặc biệt, ở các trung tâm đặc biệt. Liều dùng phải dựa trên liều khuyên dùng cho người lớn và điều chỉnh theo diện tích da hoặc trọng lượng cơ thể.

Chức năng thận suy giảm:

Với bệnh nhân có độ thanh lọc Creatinin CrCl ≥ 50 mL/phút: không cần chỉnh liều.

Liều dùng cần được giảm như dưới đây cho người bệnh suy thận có CrCl < 50 mL/phút.

– Với bệnh nhân suy thận trung bình (ClCr: 31-49 mL/phút):

CrCl: 41-42 mL/phút: dùng 70% của liều bình thường.

CrCl: 31-40 mL/phút: dùng 60% của liều bình thường.

– Với bệnh nhân suy thận nặng (CrCl: 10 – 30 mL/phút):

CrCl: 20-30 mL/phút: dùng 55% của liều bình thường

CrCl: 10-20 mL/phút: dùng 45% của liều bình thường.

CrCl: 5-10 mL/phút: dùng 40% có liều bình thường.

4.3. Chống chỉ định:

Chống chỉ định dùng Bleomycin cho những bệnh nhân bị nhiễm trùng phổi cấp tính hoặc chức năng phổi suy giảm đáng kể.

Bệnh nhân trước đó đã có phản ứng quá mẫn hoặc phản ứng đặc ứng với bleomycin.

4.4 Thận trọng:

Bệnh nhân điều trị với bleomycin nên chụp X-quang ngực mỗi tuần. Những bệnh nhân này nên tiếp tục được theo dõi đến 4 tuần sau khi hoàn tất đợt điều trị. Nêu khó thở hoặc thâm nhiễm xuất hiện, không liên quan rõ ràng đến khối u hoặc bệnh phổi đồng-hiện hữu, phải ngưng ngay việc sử dụng thuốc, bệnh nhân cần được điều trị bằng một corticosteriod và một kháng sinh phổ rộng. Thận trọng khi sử dụng nồng độ oxy cao trong những trường hợp này.

Các xét nghiệm chức năng phổi dùng 100% Oxy không nên sử dụng cho những bệnh nhân đã được điều trị với bleomycin. Các xét nghiệm chức năng phổi dùng oxy ít hơn 21% được khuyến cáo như một thay thế.

Khi bleomycin đã được sử dụng trước khi mô, nên giảm nồng độ oxy sử dụng trong và sau khi mô.

Bệnh nhân đã được điều trị trước đây hoặc đồng thời với chiếu xạ ngực có thể có phát triển độc tính nghiêm trọng và thường xuyên hơn.

Bleomycin nên dùng thận trọng cho những bệnh nhân bị bệnh tim nặng.

Suy thận

Cần thận trong khi sử dụng Bleomycin cho những bệnh nhân suy thận nặng vì độ thanh thải có thể bị giảm và độc tính tăng.

Dùng cho trẻ em

Cho đến khi có thêm dữ liệu, chỉ nên dùng bleomycin cho trẻ em trong những trường hợp đặc biệt, ở các trung tâm đặc biệt. Liều dùng phải dựa trên liều khuyên dùng cho người lớn và điều chỉnh theo diện tích da hoặc trọng lượng cơ thể.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Điều này phụ thuộc vào tình trạng của bệnh nhân và cần được xem xét khi hợp tác với bác sỹ.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Mức độ nguy cơ D

Thường không nên dùng Bleomycin cho những bệnh nhân đang mang thai.

Thời kỳ cho con bú:

Thường không nên dùng Bleomycin cho các bà mẹ cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Các phản ứng bất lợi thường thấy nhất ở 1.613 bệnh nhân đang dùng bleomycin có các biểu hiện ở phổi như viêm phổi kẽ hoặc xơ hóa phổi (10,2%), xơ cứng da, tăng nhiễm sắc tố (40,6%), sốt và rét run (39,8%), rụng tóc (29,5%), chán ăn và giảm cân (28,7%), khó chịu tổng trạng (16,0%), buồn nôn và nôn (14,6%), viêm miệng (13,3%) và thay đổi móng (11,2%).

Huyết học:
Thường gặp Xuất huyết
Hiếm gặp Giảm bạch cầu
Thần kinh:
Thường gặp Nhức đầu
Hiếm gặp Chóng mặt
Hô hấp:
Rất thường gặp Viêm phổi kẽ và xơ hóa phổi
Hệ tiêu hóa :
Rất thường gặp Chán ăn, giảm cân, buồn nôn và ói mửa và viêm miệng
Thường gặp Viêm nứt góc miệng
Hiếm gặp Bệnh tiêu chảy
Gan:
Hiếm gặp Rối loạn gan
Da:
Rất thường gặp Phì dại của da, sắc tố da, rụng tóc, biến dạng & đổi màu móng
Thường gặp Phát ban, nổi mề đay và chứng đỏ da đi kèm vời sốt
Thận và tiết niệu:
Hiếm gặp Giảm niệu, đau khi tiểu tiện, đa niệu và cảm giác nước tiểu còn sót lại
Rối loạn chung và điều kiện nơi sử dụng :
Rất thường gặp Sốt, rét run và khó chịu
Hiếm gặp Đau nơi khối u
Phì đại thành tĩnh mạch và thu hẹp lòng tĩnh mạch khi được tiêm tĩnh mạch
Chai cứng khi được tiêm bắp hoặc tiêm khu trú.

Giống như hầu hết các tác nhân độc tế bào, bleomycin có thể có cả hai ảnh hưởng độc tức thì và chậm. Tác động tức thì thường thấy nhất là sốt vào ngày tiêm thuốc. Chán ăn, mệt mỏi hoặc buồn nôn cũng có thể xảy ra. Thỉnh thoảng đau ở chỗ tiêm hoặc trong vùng khối u đã được báo cáo, và các phản ứng bất lợi khác hiếm gặp là hạ huyết áp và viêm tĩnh mạch huyết khối tại chỗ sau khi tiêm tĩnh mạch.

Đa số các bệnh nhân nhận một đợt điều trị đầy đủ bleomycin thấy có phát triển các tổn thương da hoặc niêm mạc miệng. Sự xơ cứng, tăng sừng, đỏ, mỏng manh và sưng các các đầu ngón tay, đường rạch móng tay, hình thành nốt mọng trên các điểm áp lực như khuỷu tay, rụng tóc và viêm miệng ít khi nghiêm trọng và thường biến mất ngay sau khi hoàn tất đợt điều trị.

Tác động muộn nghiêm trọng nhất là viêm phổi kẽ, có thể phát triển trong thời gian, hoặc đôi khi sau đó, một đợt điều trị. Tình trạng này đôi khi có thể phát triển thành xơ hóa phổi gây tử vong, mặc dù một sự xảy ra như vậy hiếm thấy có ở liều khuyến cáo. Xạ trị ngực đồng thời hoặc trước đó là yếu tố quan trọng trong việc làm tăng tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của nhiễm độc phổi.

Một vài trường hợp phản ứng kịch phát cấp tính với tình trạng trụy tim mạch và chứng sốt cao đã được quan sát thấy sau khi tiêm tĩnh mạch liều cao hơn so với liều khuyến cáo. Hạ huyết áp, sốt cao và tử vong liên quan đến thuốc hiếm khi thấy báo cáo sau khi tiêm bleomycin nhỏ giọt trong ổ khoang.

Trong thời gian giám sát theo đõi sau sử dụng thuốc, các tác dụng phụ sau đây đã được báo cáo: nhiễm trùng, giảm toàn thể huyết cầu, giảm tiểu cầu, thiếu máu, giảm bạch cầu trung tính, đau ngực, nhồi máu cơ tim, hội chứng Raynaud, tắc mạch, chứng huyết khối và thiếu máu cục bộ.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Những người bệnh điều trị bằng bleomycin phải được kiểm tra lại bằng chụp X quang phổi ít nhất 2 tháng sau điều trị. Nếu có dấu hiệu thay đổi ở phổi, cần dừng ngay bleomycin và cho điều trị bằng glucocorticoid và kháng sinh phổ rộng.

Ít nhất 50% người bệnh nổi ban đỏ, dày sừng hóa và loét da, đặc biệt ở vùng da bị đè ép. Những thay đổi này thường bắt đầu phù và tăng cảm ở các ngón và khuỷu tay.

Nguy cơ độc với phổi thường cao ở người già, khi tổng liều điều trị trên 400 đv USP, dùng thuốc đồng thời với tia xạ đường hô hấp, dùng đồng thời với các thuốc độc với phổi khác hoặc có bệnh về phổi. Nguy cơ độc cũng bị tăng lên khi dùng nồng độ oxy cao trong lúc gây mê hoặc với người cao tuổi. Triệu chứng thường bắt đầu bằng ho và khó thở, sốt, xuất hiện 1 – 3 tháng sau khi bắt đầu điều trị. Một trong những lý do thuốc gây độc một cách chọn lọc trên phổi và da hình như là do suy giảm bleomycin hydrolase trong các mô này. Một số nghiên cứu cho rằng tiêm truyền dưới da liên tục bleomycin có thể giảm độc với phổi và thậm chí còn tăng tác dụng chống khối u của bleomycin. Hoặc dùng bleomycin tiêm tĩnh mạch liên tục hoặc tiêm truyền dưới da liên tục cũng giảm độc với phổi.

Theo dõi: Tính toán liều tích lũy trước và sau mỗi lần điều trị. Theo dõi nhiệt độ vào lúc đầu, đặc biệt ở những người bệnh bị u lympho. Đánh giá chức năng thận trước khi dùng thuốc. Theo dõi phổi tốt nhất bằng đo khả năng khuếch tán CO và dung tích sống gắng sức. Nên kiểm tra chức năng phổi trước và trong khi điều trị. Những đặc điểm phát hiện trên X quang, kể cả những thay đổi nhỏ, gợi ý cho biết sự tiến triển xơ hóa lan tỏa hai bên.

Nếu có khó thở hoặc thâm nhiễm xuất hiện mà không thể qui cho do khối u hoặc những bệnh về phổi thì phải dừng thuốc ngay lập tức và cho người bệnh điều trị bằng corticoid và kháng sinh phổ rộng.

Tác dụng phụ khi tiêm bleomycin vào khoang màng phổi: đau ngực và sốt (có thể dùng opiat trước khi tiêm hoặc cho lidocain vào ống thông để giảm đau; có thể dùng thuốc hạ sốt); huyết áp hạ, buồn nôn, nôn, ỉa chảy, ho ra máu, ứ dịch, sốc nhiễm khuẩn, nổi ban, rụng tóc.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Khi bleomycin được sử dụng như một trong những thuốc trong các phác đồ đa hóa trị liệu, độc tính của bleomycin phải được lưu ý trong việc lựa chọn thuốc và liều lượng thuốc có tiềm năng độc hại tương tự. Việc thêm vào các thuốc độc tế bào khác cần có những thay đổi và đổi liều. Nhiễm độc phổi đã được ghi nhận khi bleomycin được dùng cùng với cisplatin.

Xạ trị ngực đồng thời hoặc trước đó là một yếu tố quan trọng trong việc tăng tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của nhiềm độc phổi.

Độ nhạy cảm của bleomycin với mô phổi, những bệnh nhân đã dùng bleomycin trước khi mô có nguy cơ phát triển độc tính phổi cao hơn khi oxy được dùng ở phẫu thuật, do đó khuyến cáo nên giảm nồng độ oxy hít vào trong và sau khi mổ.

Ở những bệnh nhân điều trị ung thư tinh hoàn có sự kết hợp của bleomycin và alkaloid Vinca, một hội chứng đã được báo cáo tương ứng với bệnh Raynaud, thiếu máu cục bộ có thể dẫn đến hoại tử các bộ phận ngoại vi của cơ thể (các ngón tay, ngón chân, chóp mũi).

Các tương kỵ lâm sàng sau đây đã được ghi nhận: Độc tế bào có thể làm giảm sự hấp thu của phenytoin. Tránh sử dụng bleomycin đồng thời với clozapin do làm tăng nguy cơ mất bạch cầu hạt.

4.9 Quá liều và xử trí:

Phản ứng cấp tính với sử dụng quá liều bleomycin có thể bao gồm hạ huyết áp, sốt, mạch nhanh và các triệu chứng chung của sốc.

Việc điều trị chỉ là theo triệu chứng. Trong trường hợp có biến chứng đường hô hấp, bệnh nhân cần được điều trị bằng corticosteroid và một kháng sinh phổ rộng. Không có thuốc giải độc cụ thể đối với bleomycin.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Mã ATC: L01DC01 – Thuốc chống ung thư.

Bleomycin là một kháng sinh nhóm glycopeptide cơ bản tan trong nước có tính độc với tế bào. Cơ chế tác động của bleomycin có liên quan đến sự chia cắt dải duy nhất của DNA, dẫn đến ức chế phân chia tế bào, ức chế tăng trưởng và tổng hợp DNA trong các tế bào ung thư.

Ngoài đặc tính kháng khuẩn và kháng u, bleomycin tương đối không có hoạt tính sinh học. Khi tiêm tĩnh mạch, thuốc có thể có tác dụng giống histamin lên huyết áp và có thể gây tăng nhiệt độ cơ thể.

Cơ chế tác dụng:

Bleomycin là một kháng sinh glycopeptid tan được trong nước có tác dụng độc hại tế bào. Cơ chế tác dụng của bleomycin là làm đứt các đoạn DNA, một phần do thuốc liên kết trực tiếp với DNA và một phần do tạo thành các gốc tự do. Do ức chế sự tổng hợp DNA mà có có tác dụng ức chế sự phân chia và tăng trưởng của tế bào khối u. Thuốc có tác dụng đặc hiệu trên DNA và không ảnh hưởng đến sự tổng hợp RNA hoặc protein của tế bào khối u. Tác dụng tối đa trong chu trình tế bào xảy ra trong pha M, và trong quá trình chuyển từ pha G1 đến pha S, nhưng pha G2 cũng rất nhạy cảm với bleomycin.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Bleomycin được dùng qua đường tiêm. Sau khi tiêm tĩnh mạch (IV) liều tiêm nhanh một lần 15 đơn vị /m2 diện tích da nồng độ đỉnh đạt gược trong huyết tương từ 10^3 – 10-2 đơn vị. Sau khi tiêm tiêm bắp (IM) 3 đơn vị/ml diện tích da, nồng độ đỉnh trong huyết tương đã được báo cáo khoảng 10-3 đơn vị /ml. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được 30 phút sau khi tiêm IM. Tiêm truyền liên tục bleomycin 30 đơn vị /ml mỗi ngày, từ 1 đến 5 ngày, cho kết quả một nồng độ huyết tương trung bình ở trạng thái ổn định từ 10-4 đến 3×10-4 đơn vị/ml. Sau khi tiêm IV bleomycin với liều 15 đơn vị / ml diện tích da, diện tích dưới đường cong nồng độ huyết thanh trung bình là 3 x 10 đơn vị /ml-4 x phút x ml-1

Bleomycin chỉ gắn kết với protein huyết tương ở mức độ nhẹ. Bleomycin nhanh chóng phân bố vào trong các mô của cơ thể, với nồng độ cao nhất trong da, phúc mạc, phổi và bạch huyết. Nồng độ thấp được thấy trong tủy xương. Bleomycin có thể không được phát hiện trong dịch não tủy sau khi tiêm tĩnh mạch. Bleomycin hình như có thể qua được hàng rào nhau thai.

Cơ chế về biến đổi sinh học chưa được biết một cách đầy đủ. Thuốc bị mất tác dụng ở các mô bởi enzym xúc tác thủy phân đặc hiệu bleomycin hydrolase, chủ yếu trong huyết tương, gan và các cơ quan khác, có rất ít trong da và phổi. Thời gian bán thải cuối cùng khoảng 4 giờ khi dùng liều đơn 15 đơn vị / ml, và khoảng 9 giờ sau khi tiêm truyền liều 30 đơn vị / mỗi ngày, liên tục trong 4 – 5 ngày.

Khoảng 2/ 3 liều được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng không chuyển hóa, có thể qua lọc ở cầu thận. Khoảng 50% được tìm thấy trong nước tiểu trong vòng 24 giờ sau khi tiêm IV hoặc IM. Khả năng thải trừ thuốc bị ảnh hưởng rất nhiều bởi chức năng thận. Với bệnh nhân suy thận dùng liều thông thường, chỉ khoảng 20% thuốc được thải trừ trong 24 giờ. Nghiên cứu cho thấy khó có thể loại trừ bleomycin ra khỏi cơ thể bằng thẩm tách máu.

5.3. Hiệu quả lâm sàng:

Chưa có thông tin.

5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:

Chưa có thông tin.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Hạt nhỏ Natri hydroxid (AR Grade), nước pha tiêm. Dạng bào chế Bột để pha tiêm.

6.2. Tương kỵ :

Tương kỵ với các cation hóa trị II (đặc biệt là đồng) và các hợp chất có nhóm sulfhydryl.

Không trộn lẫn dung dịch bleomycin với dung dịch các acid amin thiết yếu, acid ascorbic, dexamethason, aminophylin hoặc furosemid.

Không pha thuốc hoặc pha loãng với các dung dịch có dextrose.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản thuốc ở nhiệt độ 2°C – 8°C. Không dùng thuốc khi hết hạn.

Dung dịch thuốc trong dung dịch Natri Chlorid 0,9% bền vững ở nhiệt độ phòng trong 24 giờ.

6.4. Thông tin khác :

Không có thông tin.

6.5 Tài liệu tham khảo:

HDSD Thuốc Bleocip do Cipla Ltd. đăng ký (2013).

Ngân hàng dữ liệu ngành Dược.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM