Thông tin cơ bản về dược liệu, vị thuốc Bạch mao căn (Cỏ tranh)
Dưới đây là nội dung cơ bản về dược liệu, vị thuốc Bạch mao căn (Cỏ tranh) (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên dược liệu/vị thuốc:
Tên thường gọi: Bạch mao căn, Cỏ tranh.
Tên dân gian, tên khác: Rễ cỏ tranh, Mao căn, Mao thảo căn, Cỏ tranh săng, Nhả cà, Lạc cà (Tày), Gan (Dao), Día (K’Dong), Alang-grass, Alang-alang, Bedding grass, Cogon grass (Anh), Bai mao gen (Trung)…
Tên khoa học vị thuốc: Rhizoma Imperatae cylindricae
Tên khoa học của nguồn gốc chế biến ra vị thuốc: Imperata cylindrica (L.) P. Beauv. var. cylindrica
Họ: Hòa thảo hay họ Lúa hoặc họ Cỏ (Poaceae/ Gramineae)
Phân nhóm: Nhóm thuốc bổ huyết.
Nhóm pháp lý, nguồn gốc: Dược liệu trong nước (Nam).
Bộ phận dùng: Thân rễ phơi hay sấy khô.
2. Mô tả – Thành phần hóa học – Dạng bào chế:
2.1. Mô tả dược liệu/vị thuốc:
Dược liệu Bạch mao căn hình là thân rễ phơi hay sấy khô của cây tranh hay cỏ tranh. Hoa cũng được dùng.
Thân rễ (vẫn gọi là rễ) hình trụ tròn nhỏ, hơi cong queo, sắc vàng ngà, chất nhẹ, mà dai, dài 30-40 cm, đường kính 0,2 – 0,4 cm. Mặt ngoài trắng ngà hay vàng nhạt, có nhiều nếp nhăn dọc và nhiều đốt, mỗi đốt dài 1 – 3,5 cm, trên các đốt còn sót lại vết tích của lá vẩy và của rễ con. Dược liệu dai, dễ bẻ gẫy ở đốt, mặt bẻ có sợi. Mặt cắt ngang gần hình tròn, mặt ngoài lồi lõm không đều, ở giữa thường rách nứt. Dưới ánh sáng đèn tử ngoại 365 nm, phần tủy có phát quang màu xanh lơ, phần vỏ phát quang màu vàng nhạt. Dược liệu không mùi, không vị, sau hơi ngọt. Thứ mập đốt dài khô không ẩm mốc, sạch bẹ, không lẫn tạp chất (rễ cỏ may) là tốt.
Hình ảnh tham khảo:

Vị thuốc Bạch mao căn (Rễ cỏ tranh đã sấy khô – Rhizoma Imperatae cylindricae).
2.2. Thành phần hóa học và hàm lượng:
Về thành phần hóa học, Cỏ tranh non chứa protein 6,56%; Ca 0,39%;N 1,05%; P 0,22%; tinh bột 10,7%, vitamin A, và vitamin C.
Thân rễ chứa đường toàn phần 22,05%, đường khử 9,20%, đường chuyển hóa 12,45%. Có tài liệu nói rõ hơn có chứa glucose, fructose. Theo một số tài liệu cỏ tranh có chứa arundoin 0,1%, fernerol 0,001%. Theo Prosca 12, thân rễ có cả biphenyl ether cylindol A và B, các hợp chất phenol imperanen, chất sesquiterpen cylindren, các lignan gravinon A và B.
Sử dụng metanol để chiết xuất từ thân rễ của Imperata cylindrica thì thu được một số hợp chất như: 5-hydroxy-2-(2-phenylethyl) (1), 5-hydroxy-2-[2-(2-hydroxyphenyl) ethyl]chromone (2), flidersiachromone (3), và 5-hydroxy-2-styrylchromone (4).
Một số hoạt chất có tác dụng dược lý đã được phân lập như sau: 1-Caffeoylquinic acid, Caffeic acid , D(-)-Salicin , Campesterol, Friedelin …

Cấu trúc hóa học một số hoạt chất có trong Bạch mao căn, rễ cỏ tranh (Imperata cylindrica).
2.3. Các dạng bào chế hoặc thuốc dạng thành phẩm:
Theo y học cổ truyền, Bạch mao căn được dùng nhiều dưới dạng thuốc sắc uống. Trong nhân dân thường dùng rễ cỏ tranh để nấu nước uống thanh nhiệt, lợi tiểu. Một số bài thuốc có vị dược liệu này như bài thuốc để thanh nhiệt giáng hỏa, trị hen do phế nhiệt (Bạch mao căn tươi 63g. Sắc uống lúc còn ấm.); bài thang mao cát trị chứng ợ nóng (bạch mao căn 12g, cát căn 12g. Sắc uống lúc còn ấm.); bài thuốc có tác dụng lương huyết, cầm máu: bài nước tam tiên trị chứng hư lao trong đờm có máu (bạch mao căn tươi 63g, tiểu kế tươi 20g, ngẫu tiết tươi 63g. Sắc uống); bài trị thổ huyết, đổ máu cam (Bạch mao căn 125g, cỏ ba tiêu 125g. Sắc uống; bài trị tiểu máu (Bạch mao căn 63g, rễ đại kế 20g. Sắc uống); bài thuốc Lợi niệu tiêu phù trị phù thũng do viêm thận cấp tính (Bạch mao căn tươi 63g, vỏ dưa hấu 63g, râu ngô 12g, xích tiểu đậu 16g. Sắc uống)….
Bạch mao căn cũng được sản xuất ở dạng thành phẩm phối hợp với các vị thuốc khác dưới dạng viên nang, viên nén, viên hoàn, rượu thuốc trong các thuốc bổ, trị sỏi thận, sỏi gan mật (Hỗn hợp cao đặc dược liệu). Hiện nay dạng thành phẩm có các thuốc sau: Kim tiền thảo bài thạch; Bài thạch – BVP; Thuốc Litinki; Pharnanca; Viên sỏi tan tan; Bài thạch Danapha; Bài sỏi -V.A; Mát gan giải độc; Linh chi đại bổ OPC….
Hình ảnh sản phẩm tham khảo:
| BÀI THẠCH DANAPHA | |||
| Mỗi viên nén bao phim có chứa: | |||
| Cao khô Kim tiền thảo | …………………………. | 90mg | |
| Nhân trần (hỗn hợp cao) | …………………………. | 250mg | |
| Hoàng cầm (hỗn hợp cao) | …………………………. | 150 mg | |
| Nghệ (hỗn hợp cao) | …………………………. | 250mg | |
| Binh lang (hỗn hợp cao) | …………………………. | 100mg | |
| Chỉ thực (hỗn hợp cao) | …………………………. | 100mg | |
| Hậu phác (hỗn hợp cao) | …………………………. | 100mg | |
| Nhân trần (hỗn hợp cao) | …………………………. | 500 mg | |
| Bạch mao căn (hỗn hợp cao) | …………………………. | 250mg | |
| Mộc hương | …………………………. | 100 mg | |
| Đại hoàng | …………………………. | 50 mg | |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) | |

Thuốc Bài thạch Danapha của Công ty cổ phần dược Danapha có chứa thành phần Bạch mao căn.
3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Công dụng, chủ trị:
Rễ cỏ tranh/Bạch mao căn thường được dùng đơn độc hoặc dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác trong các trường hợp sau:
Lợi tiểu, thông tiểu tiện, trị tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu máu, giảm phù do tích nước.
Hỗ trợ điều trị sỏi thận, viêm đường tiết niệu
Hỗ trợ điều trị viêm bàng quang.
Hỗ trợ điều trị xuất huyết do giãn mạch mạch quá mức như ho ra máu, chảy máu cam.
Lưu ý: Hoa cỏ tranh cũng được dùng để chữa chảy máu cam, ho ra máu, nôn ra máu, chảy máu vết thương.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng dạng sắc hoặc hãm như trà: Cần sắc theo hướng dẫn trước khi uống.
Dạng bột, tán nhỏ làm hoàn: tán bột, thường phối hợp với các dược liệu khác, dùng trực tiếp hoặc trộn với nước hoặc mật ong rồi nặn thành viên bằng hạt đậu xanh.
Liều dùng:
Rễ cỏ tranh: Liều dùng hằng ngày 10 – 60g dưới dạng thuốc sắc hoặc làm hoàn.
Hoa cỏ tranh : Liều dùng 9 – 15g/ngày, sắc nước uống.
Dạng bào chế thành phẩm: Dùng theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất.
4.3. Chống chỉ định:
Mẫn cảm với thành phần hoạt chất của vị thuốc/dược liệu.
4.4 Thận trọng, cảnh báo:
Bạch mao căn không dùng cho người thể chất hư hàn, hư hỏa, tiểu nhiều mà miệng không khát không dùng.
Phụ nữ có thai cũng không nên dùng.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:
Không ảnh hưởng.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Thời kỳ mang thai:
Chưa có nghiên cứu nào trên phụ nữ mang thai. Tránh dùng cho phụ nữ mang thai.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa có nghiên cứu nào trên phụ nữ cho con bú. Tránh dùng cho phụ nữ cho con bú.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Chưa ghi nhận được báo cáo về phản ứng có hại của thuốc.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Trong thời gian được điều trị, nếu nhận thấy có bất cứ tác dụng phụ nào xấu xảy ra hoặc các triệu chứng bệnh vẫn tiếp tục tăng nặng thì nên ngưng dùng ngay và tìm kiếm phương pháp chữa trị khác phù hợp hơn.
4.8 Tương tác, tương kỵ:
Chưa có nghiên cứu về tương tác.
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
4.9 Quá liều và độc tính:
Chưa có nghiên cứu quá liều trên người.
Độc tính: Dùng nước sắc thuốc bơm nuôi thỏ nhà với liều 25g/kg, 36 giờ sau, hoạt động của thỏ bị ức chế, vận động chậm, hô hấp tăng nhanh nhưng hồi phục lại bình thường không lâu. Trường hợp chích tĩnh mạch với liều 10 – 15g/kg thì xuất hiện thở nhanh, vận động giảm 1 giờ sau hồi phục dần, nếu chích với liều 25g/kg, 6 giờ sau thỏ chết.
5. Tính vị, quy kinh, tác dụng dược lý, cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Tính vị – Quy kinh – Công năng:
Tính vị: Vị ngọt tính hàn.
Quy kinh: Quy vào 3 kinh tâm, tỳ và vị.
Công năng: Có tác dụng thanh nhiệt, tiêu ứ huyết, lợi tiểu tiện.
Thông tin bổ sung: Hoa cỏ tranh có vị ngọt, tính mát, có tác dụng cầm máu, giảm đau.
5.2. Tác dụng dược lý:
Tác dụng lợi tiểu: Chiết xuất nước cỏ tranh có hoạt tính lợi tiểu ở thỏ thí nghiệm, tác dụng lợi tiểu rõ ràng nhất sau khi dùng từ 5 đến 10 ngày. Tác dụng này có thể liên quan đến hệ thần kinh, vì khi cắt đứt các dây thần kinh ngoại biên của thận thỏ thì tác dụng lợi tiểu biến mất. Ngoài ra, chiết xuất nước cỏ tranh có thể làm giảm co thắt mạch cầu thận, tăng lưu lượng máu đến thận và tốc độ lọc thận.
Tác dụng cầm máu: Dịch chiết cỏ tranh có thể rút ngắn đáng kể thời gian prothrombin, thời gian thrombin và thời gian thrombinplastin, và khả năng cầm máu của nó có liên quan đến thrombin nội sinh, ngoại sinh, ngoài ra dịch chiết cỏ tranh có thể thúc đẩy kết tập tiểu cầu và tăng cường cầm máu.
Tác dụng chống viêm: Dịch chiết của cỏ tranh được báo cáo là có hoạt tính chống viêm bằng cách làm giảm chứng phù nề ở chuột do dimethylbenzen gây ra, cải thiện tình trạng sưng chân ở chuột do zymosan A gây ra, làm giảm tăng tính thấm của mao mạch. Cỏ tranh có tác dụng bảo vệ chuột mắc bệnh thận do adriamycin nhờ làm giảm biểu hiện của NF-κB p65, TGF-β1 và hàm lượng TNF-α trong mô thận của chuột, làm giảm tình trạng viêm mô thận.
Tác dụng chống oxy hóa: Khả năng chống oxy hóa tốt của bạch mao căn được xác định qua khả năng loại bỏ các gốc tự do, ức chế hoạt động của các gốc hydroxyl, làm giảm mức độ malondialdehyd, cải thiện khả năng chống oxy hóa của cơ thể, và giảm bớt tổn thương bệnh lý của các gốc tự do đối với mô gan và não.
Tác dụng điều hòa miễn dịch:
Chiết xuất cỏ tranh có thể tăng cường khả năng miễn dịch không đặc hiệu của cơ thể. Tác dụng điều hòa miễn dịch của chiết xuất cỏ tranh chủ yếu được thể hiện ở khả năng tăng sinh và bài tiết các cytokine liên quan của tế bào lympho T. (Làm tăng tỷ lệ tế bào T CD4+ ở chuột suy giảm miễn dịch, giảm tỷ lệ tế bào T CD8+, điều chỉnh tỷ lệ tế bào CD+4/CD8+T để cân bằng và phục hồi chức năng miễn dịch, làm tăng tỷ lệ tế bào T trợ giúp (tế bào Th) trong lá lách của chuột NIH và tăng tiết IL-2)
Tác dụng kháng khuẩn:
Dịch chiết dung môi khác nhau của cỏ tranh có hoạt tính kháng khuẩn ở 5 chủng vi khuẩn được thử nghiệm. Trong số đó, chiết xuất ethyl axetat có tác dụng kìm khuẩn tốt nhất đối với Klebsiella aerogenes , khi đun sôi thì hiệu quả đối với Escherichia coli , chiết xuất axeton tốt với Staphylococcus aureus , khi đun sôi thì hiệu quả đối với Bacillus subtilis và chiết xuất ethanol 50% hiệu quả với Enterobacter aerogenes.
Tác dụng chống ung thư :
Dịch chiết nước của cỏ tranh có thể ức chế sự phát triển tăng sinh của ung thư tế bào gan người SMMC-7721, tế bào HepG2 và khối u rắn ở chuột H22. Chúng làm tăng mức độ sản xuất Interleukin (IL) 2 ở máu ngoại vi. Các nồng độ khác nhau của dịch chiết cỏ tranh đã được báo cáo là có tác dụng ức chế tế bào ung thư gan SMMC-7721 phụ thuộc vào liều lượng. Cơ chế hoạt động là tăng tỷ lệ chu kỳ S đồng thời làm giảm tỷ lệ tế bào pha G2/M và gây ra hiện tượng chết theo chương trình của tế bào.
Chiết xuất I. cylindrica cũng có tác dụng chống ung thư trên dòng tế bào ung thư biểu mô tế bào vảy SCC-9 ở miệng người trong in vitro. Nồng độ và tác dụng phụ thuộc vào liều lượng. Cơ chế cũng nhờ làm giảm đáng kể khả năng nhân bản và ức chế sự tăng sinh tế bào bằng cách ngăn chặn chu kỳ tế bào ở pha G2/M.
Cơ chế một số tác dụng chính:
1-Caffeoylquinic acid là một Phenylpropanoids, là chất trung gian quan trọng trong quá trình sinh tổng hợp lignin. Axit 1-Caffeoylquinic có tác dụng chống cảm cúm, chống oxy hóa và làm chậm quá trình giải phóng glucose vào máu sau bữa ăn. Nó cũng đang được nghiên cứu là có tác dụng chống lại protein tiền chất của yếu tố hạt nhân-kappaB (NF-κB) p105, một yếu tố phiên mã quan trọng gây biểu hiện quá mức trong bệnh ung thư vú.
Caffeic acid có tác dụng điều trị đái tháo đường, chống oxy hóa, chống ung thư và chống viêm, nó có thể ức chế biểu hiện COX-2 do tia cực tím B (UVB) gây ra bằng cách ngăn chặn hoạt động của “Fyn kinase”, ức chế quá trình sao chép HBV-DNA cũng như sản xuất HBsAg, đồng thời làm giảm DHBV huyết thanh mức độ trong mô hình vịt nhiễm DHBV. Axit caffeic có thể được sử dụng làm thuốc điều trị mới cho bệnh Parkinson do khả năng ức chế α-synuclein.
D(-)-Salicin là một Phenol, có tên khác là Salicoside và được biết là có tác dụng chống viêm, nó có thể ức chế tình trạng viêm do LPS gây ra trong tế bào RAW264.7, giảm tình trạng phù nề trên mô hình chuột thí nghiệm bị viêm phổi, cụ thể nó làm làm giảm rõ rệt nồng độ TNF-α, IL-1β và IL-6 và tăng nồng độ IL-10.
Campesterol là một sterol thực vật có tác dụng giảm cholesterol và chống ung thư, Campesterol và các sterol thực vật khác thường làm giảm mức cholesterol LDL. Campesterol có tác dụng chống viêm, nó ức chế một số chất trung gian gây viêm và thường dùng trong thoái hóa khớp do nguyên nhân ở sụn, đôi khi Campesterol cũng được sử dụng để điều trị một số bệnh về tuyến tiền liệt.
Friedelin là một Triterpenoid có tác dụng chống oxy hóa, bảo vệ dạ dày, chống tiêu chảy, bảo vệ gan, chống viêm, giảm đau và hạ sốt. Friedelin có tác dụng giống estrogen được thí nghiệm thể hiện như sau: gây sừng hóa âm đạo, tăng trọng lượng tử cung và tăng estrogen trong huyết thanh. Friedelin còn có thể có tác dụng gần giống với insulin, do đó sẽ có hữu ích trong điều trị bệnh nhân tiểu đường tuýp 2. Với khả năng bảo vệ gan, liều điều trị chuột bị nhiễm độc gan bằng Friedelin 40 mg/kg trong 7 ngày làm giảm nồng độ glutamate oxaloacetate transaminase (SGOT), glutamate pyruvate transaminase huyết thanh (SGPT) và lactate dehydrogenase (LDH) trong huyết thanh về mức bình thường và cho thấy khả năng bảo vệ gan tương đương với silymarin liều 25 mg/kg.
Chưa rõ cơ chế tác dụng của các hoạt chất khác trong Bạch mao căn.
5.3. Dược động học:
Chưa có nghiên cứu.
5.4. Các nghiên cứu lâm sàng và tiền lâm sàng:
(1) Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Viện dược liệu):
Tác dụng lợi tiểu: thí nghiệm trên thỏ dạng chiết bằng nước và nước sắc rễ cỏ tranh cho thẳng vào dạ dày có tác dụng lợi tiểu, dùng thuốc 4 – 5 ngày tác dụng lợi tiểu xuất hiện ở mức tối đa. Về cơ chế tác dụng, có tác giả cho rằng tác dụng lợi tiểu của rễ cỏ tranh có liên quan đến hàm lượng phong phú của muối kali trong rễ.
Tác dụng cầm máu: nước sắc hoa cỏ tranh thí nghiệm trên tỏ bằng đường uống với liều 0,5g/kg trong 3 ngày, thì thời gian đông máu và thời gian chảy máu của thỏ thí nghiệm đều rút ngắn. Tác dụng này được duy trì trong vài ngày. Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng giảm sức thẩm thấu của thành mạch, tăng cường sức đề kháng của mao quản.
Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc rễ cỏ tranh thí nghiệm trên môi trường nuôi cấy có tác dụng ức chế trực khuẩn lỵ Shigella.
Các tác dụng khác: chất coixol có trong thân rễ, có tác dụng ức chế sức co bóp của cơ vân. Chất cylindol có ảnh hưởng đến hoạt tính của men – lipooxygenase, chất imperanene có tác dụng ức chế ngưng kết tiểu cầu thỏ. Ngoài ra, rễ cỏ tranh còn có tác dụng an thần, giải nhiệt, giảm đau.
(2) Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS.TS. Đỗ Tất Lợi (2004):
Tác dụng làm đông máu nhanh: Bột Mao căn làm rút ngắn thời gian hồi phục canxi của huyết tương thỏ thực nghiệm.
Tác dụng lợi niệu: dùng thuốc sắc hoặc nước ngâm kiệt thụt dạ dày thỏ bình thường có tác dụng lợi niệu, nhiều nhất là sau 5 ngày đến 10 ngày. Tác dụng này có liên quan đến hệ thần kinh hoặc do thuốc có nhiều muối kali.
Tác dụng ức chế vi khuẩn: thuốc sắc còn có tác dụng ức chế trực khuẩn lị Flexner và Sonnei, nhưng đối với trực khuẩn Shigella thì không có tác dụng.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Đặc điểm, nguồn gốc, phân bố dược liệu, vị thuốc:
Đặc điểm nguồn gốc:
Cây cỏ tranh là một loại cỏ sống dai, cao 0,9-1,55 m. Thân khí sinh dài 0,5-1,2 m, nhẵn, mấu có nhiều lông mềm màu trắng dài khoảng 3-4 mm, tiết diện bầu dục, tủy bị hủy. Thân rễ màu trắng, tiết diện tròn, đường kính 2-3 mm, nhiều lóng, mấu có vảy và nhiều rễ phụ.
Lá đơn, dạng dải thuôn dài đầu nhọn hình ngọn giáo hoặc mũi mác, dài 60-85 cm, rộng 0,7-1,8 cm; mặt trên ráp có lông nhiều ở mép lá, mặt dưới nhẵn. Lá non màu xanh nhạt, cuộn lại; lá già màu xanh đậm. Gân lá song song, gân chính nổi rõ ở mặt dưới. Bẹ lá cứng, hình ống xẻ dọc, ôm thân, phần dưới màu trắng, phần giữa có sọc hồng tím, phần trên màu xanh, dài 18-32 cm; mép bẹ có rìa mảnh; lưỡi nhỏ là lằn lông trắng, dài 1-3 mm.
Cụm hoa gié-hoa tạo thành chùy màu trắng bạc dài 20-25 cm trên trục hình trụ ở ngọn thân dài 24-35 cm. Gié-hoa đứng áp sát trục phát hoa, non ở gốc già ở ngọn, có 2-4 hoa; không có dĩnh. Hoa trần, lưỡng tính, dài 3-5 cm; cuống hoa màu xanh nhạt, hình trụ dài 2–6 mm, nhiều lông trắng bạc dài 9-13 mm ở đỉnh. Trấu 2, kích thước gần bằng nhau. Trấu trên hình dải hẹp dài 3-3,5 mm, mềm, màu trắng trong, đầu nhọn, mép và mặt lưng có nhiều lông, có nhiều gân xanh. Trấu dưới giống trấu trên. Trấu phụ 2, gần bằng nhau, dạng màng mỏng, màu trắng trong như thủy tinh, đầu tù răng cưa có nhiều lông tua ở đầu, dài 1,5-2,0 mm, rộng 0,5-0,7 mm. Nhị 2, rời, đều; chỉ nhị màu trắng dạng sợi mảnh, lúc hoa nở chỉ nhị dài ra đưa bao phấn ra ngoài, dài 3-4 mm; bao phấn hình chữ nhật thuôn ở đầu, dài 3-4 mm, 2 ô, nứt dọc, hướng nội, đính giữa, màu vàng lúc non, màu nâu khi nứt; hạt phấn hình cầu có nhiều lõm sâu, đường kính 20-27,5 µm. Bộ nhụy bầu 1 ô, hình trứng, dài gần 1 mm; 1 vòi nhụy màu trắng, dài 3,5-4,5 mm; 2 đầu nhụy màu tím nâu, dài 2-2,5 mm, nhiều lông.
Phân bố:
Phân bố rộng rãi khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ, châu Đại Dương, một số nơi Nam Âu. Ở Việt Nam, cỏ tranh mọc hoang ở khắp nơi ở nước ta. Cây ưa sáng, sống dai.

Cây Cỏ tranh (Imperata cylindrica (L.) P. Beauv. var).
6.2. Thu hái – Sơ chế:
Cỏ tranh ra hoa quả rải rác trong năm, song tập trung nhiều nhất vào mùa đông. Số lượng hạt trên mỗi bông nhiều nhẹ, có lông, nhờ gió phát tán khắp nơi. Cỏ tranh là hiểm họa đối với cây trồng. Việc cắt và đối thường xuyên phần trên mặt đất không có tác dụng loại trừ. Trong khi đó việc đào bới thu hái những hết phần thân dưới mặt đất cũng rất khó khăn.
Thường thu hoạch vào mùa thu (tháng 10 – 11) và mùa xuân (3-4). Đào lấy thân rễ, cắt bỏ phần trên cổ rễ, rửa sạch đất cát, tuốt bỏ sạch bẹ, lá và rễ con, xong đem phơi khô và phân loại to, nhỏ, buộc lai thành bó.
6.3. Bảo quản:
Không bảo quản ở nhiệt độ trên 30°C.
6.4. Thông tin khác:
Lá non của cây còn có thể dùng cho trâu, bò, ngựa ăn rất tốt. Lá già dùng để lợp nhà.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS.TS. Đỗ Tất Lợi (2004).
Theo Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam của Viện dược liệu (Tái bản lần 1).
Theo Dược thư Quốc Gia Việt Nam.
Nguồn tổng hợp khác.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM