Cấu trúc hóa học của dược chất Alprostadil (Alprostadil chemical)

Alprostadil (Prostaglandin E1)

Thông tin chung về hoạt chất, dược chất Alprostadil (PGE1)

Alprostadil là thuốc được sử dụng để cải thiện lưu lượng máu ở trẻ sơ sinh có vấn đề về tim, điều trị suy tim mãn tính nghiêm trọng và tình trạng còn ống động mạch. Ngoài ra nó cũng được chỉ định ở một số nước để điều trị rối loạn cương dương và giúp chẩn đoán một số nguyên nhân gây ra rối loạn này. Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng của Thuốc Alprostadil (PGE1) (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Alprostadil (PGE1)

Phân loại: Thuốc tác động trên hệ tim mạch > Prostaglandin E1

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): C01EA01.

Biệt dược gốc: Hiện chưa có thuốc đăng ký biệt dược gốc tại Việt Nam.

Biệt dược, thuốc Generic:

Tên thuốc NĐ-HL Doanh nghiệp sản xuất
Alprostapint 500mcg/ml BAG Health Care GmbH Địa chỉ: Amtsgerichtsstraße 1-5. D-35423 Lich, Germany. Đóng gói thứ cấp, xuất xưởng Gebro Pharma GmbH, Austria
Prostin VR 500mcg Mỹ

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch đậm đặc pha dung dịch truyền 500 µg/ml

Hình ảnh cấu trúc hóa học của dược chất:

Cấu trúc hóa học của dược chất Alprostadil (Alprostadil chemical)

3. Thông tin dành cho người sử dụng:

3.1. Alprostadil (PGE1) là thuốc gì?

Alprostadil là thuốc được sử dụng để cải thiện lưu lượng máu ở trẻ sơ sinh có vấn đề về tim, điều trị suy tim mãn tính nghiêm trọng và tình trạng còn ống động mạch. Ngoài ra nó cũng được chỉ định ở một số nước để điều trị rối loạn cương dương và giúp chẩn đoán một số nguyên nhân gây ra rối loạn này.

3.2. Câu hỏi thường gặp phổ biến:

Alprostadil (PGE1) có nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam không?

Alprostadil KHÔNG nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam. Do vậy người bệnh phải tự mua thuốc và chi trả trong trường hợp được kê thuốc này.

Tôi không thể mua được Alprostadil, hiện tại có thuốc nào có thể mua thay thế được không?

Hiện ở Việt nam chỉ có thuốc Alprostapint có chứa thành phần Alprostadil đang được lưu hành, hơn nữa thuốc cũng tương đối khó tìm mua. Trong trường hợp không tìm mua được thuốc này, người bệnh nên báo lại bác sĩ để có phương án thay thế sớm nhất.

4. Thông tin dành cho nhân viên y tế:

4.1. Chỉ định:

Alprostadil được chỉ định để điều trị suy tim mãn tính nghiêm trọng và tình trạng còn ống động mạch.

Ngoài chỉ định được FDA phê duyệt, Alprostadil thuốc tiêm và thuốc đạn được sử dụng để điều trị một số loại rối loạn chức năng cương dương (liệt dương; không có khả năng cương cứng hoặc giữ được sự cương cứng) ở nam giới. Alprostadil thuốc tiêm cũng đôi khi được sử dụng kết hợp với các xét nghiệm khác để chẩn đoán rối loạn chức năng cương dương. Alprostadil là chất giãn mạch. Nó hoạt động bằng cách thư giãn các cơ và mạch máu trong dương vật để giữ đủ máu trong dương vật để giúp dương vật có thể cương cứng. Alprostadil không chữa rối loạn chức năng cương cứng hoặc làm tăng ham muốn tình dục. Alprostadil không ngừa thai hoặc sự lây lan của các bệnh lây truyền qua đường tình dục như vi rút suy giảm miễn dịch ở người (HIV).

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Hướng dẫn pha thuốc

Để chuẩn bị dung dịch truyền, pha loãng 1 mL Alprostadil với dung dịch truyền tĩnh mạch vô trùng natri clorid 0,9% hoặc dung dịch truyền tĩnh mạch vô trùng dextrose 5%.

Nếu phần không pha loãng Alprostadil tiếp xúc trực tiếp với chai nhựa, các chất làm dẻo sẽ chảy ra từ thành chai. Dung dịch có thể vẩn đục và hình dạng của các vật chứa có thể thay đổi. Nếu điều này xảy ra, cần loại bỏ dung dịch và thay thế chai nhựa. Đây có thể là một hiện tượng phụ thuộc nồng độ. Để giảm thiểu khả năng hình thành vẩn đục, nên cho Alprostadil trực tiếp vào dung dịch tiêm truyền tĩnh mạch, tránh tiếp xúc với thành chai nhựa. Pha loãng tới thể tích phù hợp với hệ thống sẵn có. Chuẩn bị mới các dung dịch truyền mỗi 24 giờ. Vứt bỏ dung dịch đã pha loãng quá 24 giờ.

Cách truyền:

Truyền nhỏ giọt tĩnh mạch hoặc bơm truyền với tốc độ không đổi.

Ở trẻ sơ sinh có tổn thương hạn chế lưu thông máu ở phổi (máu chảy qua ống động mạch từ động mạch chủ tới động mạch phổi), Alprostadil có thể được truyền liên tục qua ống thông động mạch rốn hoặc ngay trên ngã ba động mạch chủ đoạn đi xuống và còn ống động mạch, hoặc tĩnh mạch. Các tác dụng không mong muốn xảy ra ở cả hai đường dùng với các dạng phản ứng khác nhau. Tần suất xảy ra đỏ bừng cao hơn khi dùng đường nội động mạch so với đường tĩnh mạch.

Các dung dịch pha loãng chứa không quá 20 µg/ml alprostadil.

Cần thận trọng đặc biệt khi tính toán và chuẩn bị pha loãng Alprostadint.

Liều dùng:

Liều truyền khởi đầu thường là 0,05-0,1 µg/kg/phút. Phổ biến nhất là 0,1 µg/kg/phút. Sau khi đạt đáp ứng điều trị (tăng pO2 ở trẻ sơ sinh bị hạn chế lưu lượng máu phổi hoặc tăng huyết áp hệ thống và pH máu ở trẻ sơ sinh bị hạn chế lưu lượng máu toàn thân), giảm đến liều thấp nhất có thể duy trì được đáp ứng mong muốn.

Liều thấp hơn 0,05 µg/kg/phút (như 0,005 µg/kg/phút) alprostadil đã được sử dụng thành công ở trẻ sơ sinh, đặc biệt khi vận chuyển trẻ sơ sinh là cần thiết. Không có thử nghiệm so sánh và hiện chưa rõ độ an toàn và hiệu quả của phương pháp này khi so sánh với liều khởi đầu thông thường 0,05-0,1 mg/kg/phút.

4.3. Chống chỉ định:

Quá mẫn với hoạt chất hoặc với bất kỳ thành phần tá dược nào của thuốc.

4.4 Thận trọng:

Alprostadil chỉ được sử dụng bởi chuyên gia y tế được đào tạo và tại những cơ sở có thể tiếp cận ngay lập tức với chăm sóc tích cực nhi khoa.

Ngưng thở có thể xảy ra trong khoảng 10-12% số trẻ sơ sinh dị tật tim bẩm sinh điều trị với alprostadil. Có một số bằng chứng cho thấy ngưng thở liên quan đến liều dùng. Ngưng thở thường được quan sát thấy nhiều nhất ở trẻ sơ sinh có trọng lượng lúc mới sinh dưới 2kg và thường xuất hiện trong giờ truyền thuốc đầu tiên. Vì vậy nên được sử dụng Alprostadil ở nơi hỗ trợ thông khí có sẵn ngay lập tức.

Alprostadil nên được truyền trong thời gian ngắn nhất có thể và ở liều thấp nhất có được hiệu quả mong muốn. Cần cân nhắc lợi ích/nguy cơ khi truyền Alprostadil trong thời gian dài.

Nghiên cứu bệnh lý của ống động mạch và động mạch phổi ở trẻ điều trị với prostaglandin E1 cho thấy những thay đổi mô học liên quan với tác động suy yếu các cấu trúc này. Chưa rõ tính đặc hiệu hoặc mối liên quan lâm sàng của những kết quả này.

Tăng sinh vỏ của các xương dài do truyềnalprostadil kéo dài ở trẻ nhỏ và chó. Sự tăng sinh giảm sau khi ngừng dùng thuốc ở trẻ nhỏ.

Vì prostaglandin E1 có khă năng ức chế kết tập tiểu cầu, sử dụng Alprostadil thận trọng ở trẻ sơ sinh tiền sử có tiền sử chảy máu.

Không nên sử dụng alprostadil ở trẻ sơ sinh (hoặc trẻ nhỏ) bị hội chứng suy hô hấp (bệnh màng trong). Luôn luôn thực hiện một chẩn đoán phân biệt giữa hội chứng suy hô hấp và bệnh tim tím tái (hạn chế lưu lượng máu ở phổi). Trong trường hợp phương tiện chẩn đoán đầy đủ không có sẵn ngay lập tức, việc chẩn đoán phải dựa trên sự hiện diện của tím tái (pO2 dưới 40 torr) và bằng chứng X quang cho thấy lưu lượng máu ở phổi bị hạn chế.

Nên theo dõi áp lực động mạch bằng ống thông động mạch rốn, nghe tim thai hoặc đầu dò Doppler. Nếu áp lực động mạch giảm đáng kể, giảm tốc độ truyền ngay lập tức.

Đã có báo cáo về sự suy yếu của thành ống động mạch và động mạch phổi, đặc biệt trong truyền kéo dài.

Truyền alprostadil ở trẻ sơ sinh có thể dẫn đến tắc nghẽn dạ dày thứ cấp tới tăng sản hang vị. Tác động này liên quan đến thời gian điều trị và liều tích lũy của thuốc. Trẻ sơ sinh truyền alprostadil liều khuyến cáo trong hơn 120 giờ nên được theo dõi chặt chẽ dấu hiệu tăng sản hang vị và tắc nghẽn dạ dày.

Ở trẻ sơ sinh (hoặc trẻ nhỏ) có lưu lượng máu phổi giảm, tăng oxy hóa tỷ lệ nghịch với giá trị pO2 trước đó; tức là, đáp ứng tốt hơn được ghi nhận ở những bệnh nhân với giá trị pO2 thấp (dưới 40mmHg), trong khi bệnh nhân với giá trị pO2 cao (hơn 40mmHg) thường có đáp ứng rất nhỏ.

Ở trẻ sơ sinh (hoặc trẻ nhỏ) có lưu lượng máu ở phổi giảm, hiệu quả của alprostadil được xác định bằng cách theo dõi tăng oxy máu. Ở trẻ sơ sinh (hoặc trẻ nhỏ) có lưu lượng máu hệ thống giảm, hiệu quả được xác định bằng cách giám sát việc tăng huyết áp hệ thống và pH máu.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Chưa có nghiên cứu. Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: NA

US FDA pregnancy category: C (dạng viên đặt), NA (dạng khác)

Thời kỳ mang thai:

Không sử dụng.

Thời kỳ cho con bú:

Không sử dụng.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Tác dụng không mong muốn thường gặp nhất được ghi nhận với Alprostadil ở trẻ sơ sinh dị tật tim bẩm sinh phụ thuộc ống có liên quan đến tác dụng dược lý đã biết của thuốc.

Hệ cơ quan Tần suất Tác dụng không mong muôn
Rối loạn hệ thần kinh Thường gặp Co giật
Rối loạn tim Thường gặp Nhịp tim chậm, hạ huyết áp, nhịp tim nhanh
Rối loạn mạch ít gặp Mạch dễ vỡ
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất Rất thường gặp Ngưng thở
Rối loạn tiêu hóa Thường gặp Tiêu chảy
ít gặp Nghẽn dạ dày, phì dại niêm mạc dạ dày
Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết ít gặp Lồi xương
Rối loạn toàn thân và tại chỗ tiêm Rất thường gặp Sốt thoáng qua
Thường gặp Giãn mạch ỡ da (đỏ bửng)*
* Đây tác dụng phụ duy nhất liên quan trực tiểp dển dường dùng, tấn suât cao hơn khi dùng đường nối động mạch.

Mối quan hệ của các tác dụng phụ sau đây với thuốc, với tần suất giảm dần, là chưa rõ: nhiễm trùng huyết, ngừng tim, đông máu rải rác nội mạch, hạ kali máu, và phù nề.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Không có tương tác thuốc được báo cáo giữa Alprostadil và liệu pháp chuẩn sử dụng ở trẻ sơ sinh dị tật tim bẩm sinh. Liệu pháp tiêu chuẩn bao gồm thuốc kháng sinh (như penicillin hoặc gentamicin), thuốc co mạch (như dopamin hoặc isoproterenol), glycosid tim và thuốc lợi tiểu (như frusemid).

4.9 Quá liều và xử trí:

Ngưng thở, nhịp tim chậm, sốt, hạ huyết áp và đỏ bừng có thể là dấu hiệu của quá liều thuốc. Nếu ngưng thở hoặc nhịp tim chậm xảy ra, ngừng truyền và thực hiện điều trị y tế thích hợp. Cần thận trọng nếu bắt đầu truyền dịch lại. Nếu sốt hoặc hạ huyết áp xảy ra, giảm tốc độ truyền cho tới khi các triệu chứng giảm dần. Đỏ bừng thường do vị trí ống thông nội động mạch không chính xác và thường giảm nhẹ sau khi đặt lại đầu ống thông.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Prostaglandin E1 (PGE1), còn được gọi là alprostadil, là một prostaglandin tự nhiên được dùng làm thuốc. Ở những trẻ bị dị tật bẩm sinh tim, nó được sử dụng bằng cách tiêm chậm vào tĩnh mạch để mở ống động mạch cho đến khi phẫu thuật có thể được thực hiện. Bằng cách tiêm vào dương vật hoặc vị trí trong niệu đạo, nó được sử dụng để điều trị rối loạn cường dương.

Cơ chế tác dụng:

Prostaglandin là dẫn xuất có khă năng hoạt mạch của acid arachidonic, có tác dụng vận mạch, chuyển hóa và tác động lên tế bào trong tuần hoàn phổi và tuần hoàn mạch vành. Chuỗi E của prostaglandin tạo ra tác dụng giãn mạch trong hệ tuần hoàn và tuần hoàn mạch vành ở hầu hết các loài: những prostaglandin này được sử dụng cho tình trạng còn ống động mạch ở trẻ.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Phân bố: Dựa trên các nghiên cứu ở một số loài động vật, prostaglandin E1 dùng đường tĩnh mạch hoặc động mạch được phân bố rất nhanh chóng trên toàn bộ cơ thể ngoại trừ hệ thần kinh trung ương được phát hiện có sự phân bố giảm đáng kể.

Chuyển hóa sinh học: Prostaglandin E1 được chuyển hóa rất nhanh chóng. Các cơ quan chính trong quá trình chuyển hóa và bất hoạt của prostaglandin E1 có thể là phổi, gan và thận, đây là những cơ quan thải trừ và chuyển hóa 40-95% của prostaglandin E1 trong một lần đi qua. Một số mô khác chiếm tỷ lệ ít hơn nhưng có khả năng chuyển hóa prostaglandin E1 đáng kể. Các chất chuyển hóa chủ yếu được tìm thấy trong huyết tương, 15-oxo-prostaglandin E1 và 13, 14-dihydro-15 oxo-prostaglandin E1 được chuyển hóa rộng rãi bởi các βvà ω oxy hóa trước khi thải trừ, chủ yếu qua thận. Một số ít các chất chuyển hóa của prostaglandin E1 trong nước tiểu đã được mô tả, nhưng được cho là tương tự với các chất chuyển hóa đã được báo cáo chi tiết đối với prostaglandin E2 và prostaglandin F2.

Thải trừ: Bài tiết cơ bản hoàn thành trong vòng 24 giờ sau khi dùng thuốc, không có prostaglandin E1 nguyên vẹn được tìm thấy trong nước tiểu và không có bằng chứng về việc lưu giữ prostaglandin E1 hoặc các chất chuyển hóa trong mô. Trong ba loài (chuột, thỏ và cừu), hoạt động chuyển hóa prostaglandin của phổi từ các thai nhi động vật trong thời gian ngắn đã được chứng minh ít nhất có hiệu quả như của người lớn.

5.3. Hiệu quả lâm sàng:

Xem chi tiết tại tờ hướng dẫn sử dụng của từng biệt dược.

5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:

Xem chi tiết tại tờ hướng dẫn sử dụng của từng biệt dược.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Xem chi tiết tại tờ hướng dẫn sử dụng của từng biệt dược.

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Electronic medicines compendium.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM