Thông tin tờ hướng dẫn sử dụng của thuốc Aldenstad Plus
Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng của Thuốc Aldenstad Plus (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Alendronic acid + Cholecalciferol
Phân loại: Thuốc ức chế tiêu xương, điều trị loãng xương. Dạng kết hợp.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): M05BB03.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: Aldenstad Plus
Hãng sản xuất : Công Ty TNHH Liên Doanh Stellapharm – Chi nhánh 1
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén Alendronic acid 70mg (tương đương 91.37mg alendronate monosodium trihydrate), Cholecalciferol (vitamin D3) 2800 IU.
Thuốc tham khảo:
| ALDENSTAD PLUS | ||
| Mỗi viên nén có chứa: | ||
| Alendronic acid | …………………………. | 70 mg |
| Cholecalciferol | …………………………. | 2800 IU |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Aldenstad plus được chỉ định điều trị loãng xương sau mãn kinh ở phụ nữ có nguy cơ bị thiếu hụt vitamin D. Thuốc làm giảm nguy cơ gãy xương sống và xương hông.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Aldenstad plus được dùng bằng đường uống.
Để alendronate được hấp thu đầy đủ:
Nên uống Aldenstad plus với nước (không dùng nước khoáng) ít nhất 30 phút trước khi ăn, uống hoặc dùng các thuốc khác (như thuốc kháng acid, thuốc bổ sung calci và các vitamin) trong ngày. Các đồ uống khác (kể cả nước khoáng), thức ăn và một số thuốc có thể làm giảm sự hấp thu của alendronate.
Nên tuân thủ các chỉ dẫn sau để giảm thiểu nguy cơ kích ứng thực quản và các tác dụng không mong muốn liên quan:
Phải uống Aldenstad plus với một cốc nước đầy vào lúc mới ngủ dậy trong ngày (tối thiểu 200 mL hoặc 7 fl.oz.).
Bệnh nhân phải nuốt nguyên viên, không được nghiền hoặc nhai hoặc để viên thuốc tan trong miệng vì nguy cơ gây loét hầu họng.
Bệnh nhân không được nằm cho đến khi sau bữa ăn đầu trong ngày.
Bệnh nhân không được nằm ít nhất 30 phút sau khi uống Aldenstad plus.
Không nên dùng Aldenstad plus vào lúc đi ngủ hoặc vừa thức dậy trong ngày.
Liều dùng:
Liều khuyến cáo Aldenstad plus: 1 viên x 1 lần/tuần.
Hướng dẫn bệnh nhân nếu quên dùng 1 liều Aldenstad plus, nên uống 1 viên vào buổi sáng sau khi nhớ. Không nên dùng 2 viên trong cùng ngày, nên dùng lại liều 1 viên/tuần như kế hoạch ban đầu vào ngày đã chọn.
Do tính chất của quá trình bệnh loãng xương, Aldenstad plus sẽ được sử dụng lâu dài.
Thời gian tối ưu để điều trị loãng xương bằng bisphosphonate chưa được thiết lập. Cần tiếp tục điều trị để định kỳ đánh giá lại dựa trên lợi ích và nguy cơ tiềm ẩn của Aldenstad plus trên từng bệnh nhân, đặc biệt sau ≥ 5 năm dùng thuốc.
Bệnh nhân cần bổ sung thêm calci nếu chế độ ăn không cung cấp đủ. Nên xem xét bổ sung thêm vitamin D dựa trên lượng vitamin D hấp thu từ các chế phẩm bổ sung vitamin và chế độ ăn uống.
Sự tương đương của lượng vitamin D3 2.800 IU/tuần trong 1 viên Aldenstad plus so với lượng vitamin D 400 IU/ngày chưa được nghiên cứu.
Người cao tuổi
Trong nghiên cứu lâm sàng, không có sự khác biệt liên quan đến tuổi tác trong tính an toàn hoặc hiệu quả của alendronate. Vì thế, không cần điều chỉnh liều đối với người cao tuổi.
Suy thận
Do thiếu kinh nghiệm, khuyến cáo không dùng Aldenstad plus cho bệnh nhân suy thận nếu độ thanh thải creatinin < 35 mL/phút. Không cần điều chỉnh liều ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin > 35 mL/phút.
Trẻ em
Tính an toàn và hiệu quả của Aldenstad plus ở trẻ em dưới 18 tuổi chưa được thiết lập. Không nên dùng thuốc này cho trẻ em dưới 18 tuổi vì chưa có dữ liệu về phối hợp giữa alendronic acid và cholecalciferol.
4.3. Chống chỉ định:
Mẫn cảm với hoạt chất hay bất kỳ thành phần tá dược nào của thuốc.
Dị dạng thực quản và các yếu tố khác làm chậm rỗng thực quản như co hẹp hoặc làm mất khả năng giãn thực quản.
Không có khả năng đứng hoặc ngồi thẳng ít nhất 30 phút.
Hạ calci huyết.
4.4 Thận trọng:
Alendronate
Tác dụng không mong muốn ở đường tiêu hóa trên
Alendronate có thể gây kích ứng tại chỗ trên niêm mạc đường tiêu hóa trên. Do những nguy cơ làm trầm trọng hơn những bệnh đang có, nên thận trọng khi dùng alendronate cho những bệnh nhân có các vấn đề về đường tiêu hóa trên như khó nuốt, bệnh ở thực quản, viêm dạ dày, viêm tá tràng, loét hoặc có tiền sử bệnh đường tiêu hóa nghiêm trọng gần đây (trong vòng 1 năm trước) như loét dạ dày, xuất huyết đường tiêu hóa tiến triển hoặc phẫu thuật đường tiêu hóa trên (không phải phẫu thuật mở rộng môn vị). Ở những bệnh nhân mắc chứng thực quản Barret, bác sĩ nên cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ của alendronate trên từng bệnh nhân.
Đã có báo cáo về những tác dụng không mong muốn ở thực quản (một số trường hợp nặng phải nằm viện), như viêm thực quản, loét thực quản và trợt thực quản, hiếm khi dẫn đến hẹp thực quản ở những bệnh nhân dùng alendronate. Vì vậy, bác sĩ cần cảnh giác với bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào báo hiệu về phản ứng có thể xảy ra ở thực quản và bệnh nhân cần được chỉ dẫn để ngưng dùng alendronate và nên được tư vấn y khoa ngay nếu thấy khó nuốt, nuốt đau, đau sau xương ức, ợ nóng mới xuất hiện hoặc ngày một xấu đi.
Nguy cơ xuất hiện phản ứng có hại nghiêm trọng đối với thực quản càng lớn khi bệnh nhân dùng alendronate không đúng cách và/hoặc vẫn tiếp tục dùng Aldenstad plus sau khi có những triệu chứng kích ứng thực quản. Vì vậy, cần cung cấp đầy đủ thông tin để bệnh nhân hiểu rõ các chỉ dẫn về liều lượng, cách dùng là rất quan trọng. Bệnh nhân nên được báo trước nếu không tuân theo các hướng dẫn này thì có thể sẽ tăng nguy cơ gặp phải các vấn đề về thực quản.
Mặc dù không thấy tăng nguy cơ trong những thử nghiệm lâm sàng mở rộng với alendronate, đã có một vài báo cáo hiếm gặp (sau khi đưa thuốc ra thị trường) về loét dạ dày và tá tràng, một vài trường hợp nặng có biến chứng.
Hoại tử xương hàm
Thường liên quan đến nhổ răng và/hoặc nhiễm khuẩn tại chỗ (bao gồm viêm xương tủy) đã được báo cáo ở những bệnh nhân ung thư đang dùng các phác đồ điều trị bao gồm chủ yếu là tiêm tĩnh mạch bisphosphonate. Nhiều bệnh nhân này đã được điều trị bằng liệu pháp hóa trị liệu và corticosteroid. Hoại tử xương hàm cũng được báo cáo ở những bệnh nhân sử dụng bisphosphonate đường uống.
Các yếu tố nguy cơ sau nên được cân nhắc khi đánh giá nguy cơ phát triển hoại tử xương hàm của từng bệnh nhân:
liều dùng của bisphosphonate (liều cao nhất cho zoledronic acid), đường dùng và liều tích lũy
ung thư, hóa trị, xạ trị, corticosteroid, các thuốc ức chế tạo mạch, hút thuốc
tiền sử bệnh răng miệng, vệ sinh răng miệng kém, bệnh nha chu, thủ thuật xâm lấn răng miệng và răng giả kém phù hợp
Cần kiểm tra răng miệng cùng với việc phòng ngừa răng miệng thích hợp trước khi điều trị bằng bisphosphonate đường uống ở những bệnh nhân có tình trạng răng miệng kém.
Trong khi điều trị, những bệnh nhân này nên tránh các thủ thuật xâm lấn răng miệng nếu có thể. Đối với những bệnh nhân tiến triển hoại tử xương hàm trong khi điều trị với bisphosphonate, các thủ thuật răng miệng có thể làm bệnh nặng hơn. Đối với bệnh nhân cần phải làm các thủ thuật răng miệng, không có dữ liệu về việc ngưng dùng bisphosphonate có làm giảm nguy cơ hoại tử xương hàm hay không. Bác sĩ điều trị cần đánh giá lâm sàng và đưa ra hướng xử lý dựa trên đánh giá nguy cơ/lợi ích của từng bệnh nhân.
Trong quá trình điều trị với bisphosphonate, tất cả bệnh nhân nên duy trì vệ sinh răng miệng tốt, khám răng định kỳ và báo cáo bất kỳ triệu chứng nào ở miệng như răng lung lay, đau hoặc sưng răng.
Hoại tử xương ống tai ngoài
Hoại tử xương ống tai ngoài đã được báo cáo khi sử dụng bisphosphonate, chủ yếu liên quan đến điều trị lâu dài. Các yếu tố nguy cơ bao gồm sử dụng steroid và hóa trị và/hoặc các yếu tố nguy cơ tại chỗ như nhiễm khuẩn hoặc chấn thương. Khả năng xảy ra hoại tử xương ống tai ngoài nên được xem xét ở những bệnh nhân đang dùng bisphosphonate có triệu chứng như đau tai hoặc tiết dịch tai, hoặc nhiễm khuẩn tai mạn tính.
Đau cơ xương
Đau xương, khớp và/hoặc đau cơ đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng bisphosphonate. Những triệu chứng này hiếm khi nghiêm trọng và/hoặc mất khả năng hồi phục. Thời gian bắt đầu xuất hiện triệu chứng dao động từ một ngày tới nhiều tháng sau khi bắt đầu điều trị. Hầu hết bệnh nhân giảm triệu chứng sau khi ngừng thuốc. Một số bệnh nhân bị tái phát khi dùng lại với cùng thuốc đó hoặc với một bisphosphonate khác.
Gãy xương đùi không điển hình
Đã có báo cáo về gãy xương mấu chuyển phụ và thân xương đùi không điển hình khi điều trị với bisphosphonate, chủ yếu ở những bệnh nhân điều trị bệnh loãng xương kéo dài. Những vết gãy ngắn xiên hoặc ngang có thể xảy ra ở bất kỳ nơi nào dọc theo xương đùi từ mấu chuyển phụ đến trên lồi cầu. Những vết gãy này xảy ra sau khi có chấn thương rất nhỏ hoặc không và một số bệnh nhân đau đùi hoặc háng, thường có liên quan với đặc điểm hình ảnh gãy xương do mệt mỏi, hàng tuần đến vài tháng trước khi xảy ra gãy xương đùi hoàn toàn. Gãy xương thường xảy ra ở cả hai bên, do đó nên thăm khám xương đùi bên đối diện ở những bệnh nhân điều trị với bisphosphonate bị gãy thân xương đùi. Những vết gãy này khó lành. Ngưng điều trị bisphosphonate ở những bệnh nhân nghi gãy xương đùi không điển hình nên được cân nhắc trong lúc đánh giá bệnh nhân dựa trên đánh giá lợi ích/nguy cơ của từng bệnh nhân.
Trong quá trình điều trị với bisphosphonate, bệnh nhân nên báo cáo về các triệu chứng đau đùi, hông và háng hoặc bất kỳ bệnh nhân nào có các triệu chứng như trên nên được đánh giá là gãy xương đùi không hoàn toàn.
Suy thận
Không nên dùng Aldenstad plus ở những bệnh nhân suy thận có độ thanh thải creatinin < 35 mL/phút.
Chuyển hóa xương và chất khoáng
Nên xem xét các nguyên nhân gây loãng xương không phải do thiếu hụt estrogen và lão hóa.
Cần điều chỉnh tình trạng hạ calci huyết trước khi bắt đầu điều trị với Aldenstad plus. Cũng cần điều trị tích cực những rối loạn khác tác động đến chuyển hóa chất khoáng (như thiếu hụt vitamin D và giảm năng tuyến cận giáp). Hàm lượng vitamin D trong Aldenstad plus không thích hợp để điều trị thiếu hụt vitamin D. Với bệnh nhân có rối loạn này, cần theo dõi nồng độ calci trong huyết thanh và các triệu chứng hạ calci huyết trong quá trình điều trị với Aldenstad plus.
Do các tác dụng tích cực của alendronate làm tăng khoáng xương, có thể xảy ra hiện tượng giảm calci huyết thanh và phosphat, đặc biệt ở những bệnh nhân dùng glucocorticoid có thể giảm hấp thu calci. Trường hợp này thường ít và không có triệu chứng. Tuy nhiên, đã có báo cáo hiếm gặp về hạ calci có triệu chứng, đôi khi rất nghiêm trọng và thường xảy ra ở những bệnh nhân giảm năng tuyến cận giáp, thiếu hụt vitamin D và kém hấp thu calci.
Cholecalciferol (vitamin D3)
Vitamin D3 có thể làm gia tăng mức độ tăng calci huyết và/hoặc tăng calci niệu khi dùng cho người mắc các bệnh có liên quan đến sản xuất quá mức calcitriol mà không điều hòa được (như bệnh bạch cầu, u lympho bào, bệnh sarcoid). Với những bệnh nhân này cần theo dõi nồng độ calci trong nước tiểu và huyết thanh.
Bệnh nhân kém hấp thu có thể không hấp thu đủ vitamin D3.
Aldenstad plus có chứa tá dược lactose. Không nên dùng thuốc này cho bệnh nhân có các vấn đề về di truyền hiếm gặp không dung nạp galactose, thiếu hụt enzym lactase toàn phần hay kém hấp thu glucose-galactose.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Aldenstad plus không ảnh hưởng trực tiếp hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Bệnh nhân có thể gặp một số tác dụng không mong muốn ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc (như nhìn mờ, hoa mắt và đau xương cơ hoặc khớp nặng).
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B3
US FDA pregnancy category: C
Aldenstad plus chỉ dùng cho phụ nữ sau mãn kinh và do đó không nên dùng cho phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang cho con bú.
Thời kỳ mang thai:
Không có hoặc có rất ít dữ liệu về việc dùng alendronate cho phụ nữ có thai. Nghiên cứu trên động vật cho thấy thuốc có độc tính sinh sản. Alendronate gây khó sinh liên quan đến hạ calci huyết ở chuột có thai. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy tăng calci huyết và độc tính sinh sản khi dùng vitamin D liều cao. Aldenstad plus không nên dùng cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa biết alendronate hoặc các chất chuyển hóa có bài tiết qua sữa mẹ hay không. Nguy cơ đối với trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ không thể loại trừ. Cholecalciferol và một số chất chuyển hóa có hoạt tính được bài tiết qua sữa mẹ. Aldenstad plus không nên dùng trong thời kỳ cho con bú.
Khả năng sinh sản
Bisphosphonate được gắn kết vào chất nền xương, sau đó thuốc được giải phóng dần dần trong nhiều năm. Lượng thuốc bisphosphonate gắn vào xương của người trưởng thành, và sẵn sàng phóng thích trở lại hệ tuần hoàn chung, tùy thuộc vào thời gian và liều lượng thuốc được sử dụng. Ở người không có dữ liệu về nguy cơ trên thai nhi. Tuy nhiên, nếu phụ nữ mang thai sau đợt điều trị với thuốc bisphosphonate, về mặt lý thuyết có thể có nguy cơ gây hại đối với thai nhi, chủ yếu trên hệ xương. Chưa có nghiên cứu về tác động của các biến cố như thời gian giữa đợt ngưng điều trị bisphosphonate đến lúc thụ thai, lượng bisphosphonate cụ thể được sử dụng và đường dùng thuốc (đường tĩnh mạch so với đường uống) trên nguy cơ.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Rất thường gặp (ADR ≥ 1/10)
Cơ xương và mô liên kết: Thỉnh thoảng đau cơ xương nặng (xương, cơ hoặc khớp).
Thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10)
Thần kinh: Đau đầu, hoa mắt.
Tai và tai trong: Chóng mặt.
Tiêu hóa: Đau bụng, khó tiêu, táo bón, tiêu chảy, đầy hơi, loét thực quản, khó nuốt, chướng bụng và ợ chua.
Da và mô dưới da: Rụng tóc, ngứa.
Cơ xương và mô liên kết: Sưng khớp.
Toàn thân: Suy nhược, phù ngoại vi.
Ít gặp (1/1.000 ≤ ADR < 1/100)
Thần kinh: Rối loạn vị giác.
Mắt: Viêm mắt (viêm màng mạch nho, viêm củng mạc hoặc viêm thượng củng mạc).
Tiêu hóa: Buồn nôn, nôn, viêm dạ dày, viêm thực quản, trợt thực quản, đi ngoài phân đen.
Da và mô dưới da: Phát ban, ban đỏ.
Toàn thân: Các triệu chứng thoáng qua như trong đáp ứng ở pha cấp tính (đau cơ, khó ở và hiếm khi sốt), thường liên quan đến việc bắt đầu điều trị.
Hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1.000)
Hệ miễn dịch: Các phản ứng quá mẫn bao gồm mày đay và phù mạch.
Chuyển hóa và dinh dưỡng: Hạ calci huyết có triệu chứng thường liên quan đến các tình trạng nguy cơ.
Tai và tai trong: Hoại tử xương ống tai ngoài (tác dụng không mong muốn do nhóm bisphosphonate).
Tiêu hóa: Hẹp thực quản, loét thực quản, đường tiêu hóa trên (thủng, loét, chảy máu).
Da và mô dưới da: Phát ban kèm nhạy cảm ánh sáng, phản ứng da nghiêm trọng như hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bì nhiễm độc.
Cơ xương và mô liên kết: Hoại tử xương hàm, gãy xương mấu chuyển phụ và thân xương đùi không điển hình (tác dụng không mong muốn do nhóm bisphosphonate).
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Alendronate
Thực phẩm và đồ uống (kể cả nước khoáng), các thuốc bổ sung calci, các thuốc kháng acid và một số thuốc dùng đường uống có thể cản trở hấp thu alendronate khi dùng cùng lúc. Vì vậy, bệnh nhân nên chờ ít nhất 30 phút sau khi dùng alendronate mới được dùng các thuốc khác.
Các thuốc kháng viêm NSAID: Thận trọng khi dùng đồng thời với alendronate vì các thuốc kháng viêm NSAID có thể gây kích ứng đường tiêu hóa.
Cholecalciferol
Olestra, các dầu khoáng, orlistat, và các chất gắn acid mật (như cholestyramin, colestipol) có thể cản trở sự hấp thu của vitamin D. Thuốc chống co giật, cimetidine, và các thuốc lợi niệu nhóm thiazide có thể làm tăng dị hóa của vitamin D. Nên xem xét việc bổ sung vitamin D trên từng bệnh nhân.
4.9 Quá liều và xử trí:
Alendronate
Triệu chứng: Quá liều alendronate có thể gây hạ calci huyết, hạ phosphat huyết và xuất hiện các tác dụng không mong muốn ở đường tiêu hóa trên như đau bụng, ợ nóng, viêm thực quản, viêm hoặc loét dạ dày.
Điều trị: Không có thông tin đặc biệt về điều trị quá liều alendronate. Trong trường hợp uống quá liều Aldenstad plus, cần uống sữa hoặc thuốc kháng acid để gắn kết với alendronate. Do nguy cơ kích ứng thực quản, không được gây nôn và người bệnh cần ở tư thế hoàn toàn thẳng đứng.
Cholecalciferol (vitamin D3)
Độc tính của vitamin D chưa được ghi nhận trong quá trình điều trị mạn tính ở người lớn khỏe mạnh dùng liều thấp hơn 10.000 IU/ngày. Trong một nghiên cứu lâm sàng về người lớn khỏe mạnh, liều vitamin D3 4.000 IU/ngày dùng đến 5 tháng không gây tăng calci niệu hoặc tăng calci huyết.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Nhóm dược lý: Thuốc điều trị các bệnh về xương, nhóm bisphosphonate, dạng phối hợp.
Mã ATC: M05BB03.
Cơ chế tác dụng
Alendronate
Alendronate sodium là một bisphosphonate ức chế sự tiêu xương do hủy cốt bào mà không có tác dụng trực tiếp đến sự tạo xương. Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy alendronate có đặc tính định khu ưu tiên vào các vị trí có tiêu xương.
Hoạt tính của các hủy cốt bào bị ức chế, nhưng sự huy động hay gắn kết của các hủy cốt bào không bị ảnh hưởng. Xương được hình thành trong suốt quá trình điều trị với alendronate có chất lượng bình thường.
Cholecalciferol (vitamin D3)
Vitamin D3 được tạo ra ở da do chuyển hóa quang hóa từ 7-dehydrocholesterol sang vitamin D3 bằng ánh sáng cực tím. Khi phơi nắng không đủ, thì vitamin D3 sẽ là chất dinh dưỡng thiết yếu. Vitamin D3 sẽ chuyển hóa thành 25-hydroxyvitamin D3 ở gan và được dự trữ đến khi cần thiết. Việc chuyển đổi thành hormon 1,25-dihydroxyvitamin D3 (calcitriol) ở thận có hoạt tính huy động calci được điều hòa chặt chẽ. Tác dụng chính của 1,25-dihydroxyvitamin D3 là làm tăng hấp thu calci và phosphat qua ruột, đồng thời điều hòa nồng độ calci trong huyết thanh, sự đào thải calci và phosphat ở thận, sự tạo xương và tiêu xương.
Vitamin D3 cần cho sự tạo xương bình thường. Thiếu hụt vitamin D sẽ gia tăng khi không được tiếp xúc ánh sáng mặt trời và bổ sung dinh dưỡng không đủ. Thiếu vitamin D liên quan đến cân bằng calci âm tính, mất xương và tăng nguy cơ gãy xương. Trong các trường hợp nghiêm trọng, thiếu hụt vitamin D sẽ gây cường tuyến cận giáp thứ phát, hạ phosphat huyết, yếu cơ gần điểm bám và nhuyễn xương, làm tăng nguy cơ ngã và gãy xương ở người loãng xương. Bổ sung vitamin D sẽ giảm được những nguy cơ và hậu quả này.
Cơ chế tác dụng:
Natri alendronat
Alendronat là một bisphosphonat mà trong các nghiên cứu trên động vật, có đặc tính định khu ưu tiên vào các vị trí có tiêu xương, đặc biệt là bên dưới các hủy cốt bào và ức chế được sự tiêu xương do hủy cốt bào, mà không có tác dụng trực tiếp trong tạo xương. Vì tạo xương và tiêu xương đi đôi với nhau, nên sự tạo xương cũng bị giảm, nhưng giảm ít hơn sự tiêu xương, dẫn tới có việc tăng dần khối lượng xương. Trong thời gian dùng thuốc alendronat, xương bình thường được tạo thành và gắn alendronat vào khuôn của xương và ở đó thuốc sẽ không còn hoạt tính dược lý.
Hoạt tính ức chế tương đối trên sự tiêu xương và sự khoáng hóa của alendronat với etidronat đã được nghiên cứu so sánh trên chuột cống non đang lớn. Liều thấp nhất của alendronat có ảnh hưởng đến sự khoáng hóa xương (dẫn tới nhuyễn xương) cao gấp 6000 lần liều chống tiêu xương. Nhưng tỷ lệ tương ứng của etidronat mới chỉ là 1:1. Các dữ liệu này cho thấy, không như với etidronat, nếu dùng với liều điều trị, thì alendronat rất khó gây nhuyễn xương.
Colecalciferol
Vitamin D3 được tạo ra ở da do chuyển hóa quang hóa từ 7-dehydrocholesterol sang tiền vitamin D3 bằng ánh sáng cực tím. Tiếp đó là quá trình đồng phân hóa không enzym tạo thành vitamin D3. Khi phơi nắng không đủ, thì vitamin D3 sẽ là chất dinh dưỡng thiết yếu. Vitamin D3 ở da và vitamin D3 từ nguồn dinh dưỡng (hấp thu vào dưỡng trấp) sẽ chuyển hóa thành 25-hydroxyvitamin D3 ở gan. Việc chuyển đổi thành hormon 1,25-dihydroxyvitamin D3 (calcitriol) có hoạt tính huy động canxi ở thận được kích thích bởi cả hormon cận giáp và sự hạ phosphat-huyết. Tác dụng chính của 1,25 dihydroxyvitamin D3 là giúp làm tăng hấp thu qua ruột của cả canxi và phosphat, đồng thời điều hòa nồng độ canxi trong huyết thanh, sự đào thải canxi và phosphat ở thận, sự tạo xương và tiêu xương.
Vitamin D3 cần cho sự tạo xương bình thường. Thiếu hụt vitamin D sẽ gia tăng khi không được tiếp xúc ánh sáng mặt trời và thiếu bổ sung dinh dưỡng.Thiếu vitamin D liên quan đến cân bằng âm tính về canxi, hao xương và tăng nguy cơ gãy xương. Trong các trường hợp nghiêm trọng, thiếu hụt vitamin D sẽ gây cường tuyến cận giáp thứ phát, hạ phosphat – huyết, yếu cơ gần điểm bám và nhuyễn xương, hơn nữa còn làm tăng nguy cơ ngã và gãy xương ở người loãng xương.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Alendronate
Hấp thu: Liên quan đến liều tham chiếu dùng đường tĩnh mạch, sinh khả dụng trung bình của alendronate đường uống ở nữ là 0,64% với liều khoảng 5-70 mg khi dùng sau 1 đêm không ăn và 2 giờ trước bữa sáng chuẩn. Sinh khả dụng cũng giảm tương tự khoảng 0,46% và 0,39% khi alendronate được dùng một giờ hoặc nửa giờ trước bữa sáng chuẩn. Trong nghiên cứu về loãng xương, alendronate có hiệu quả khi dùng ít nhất 30 phút trước bữa ăn hoặc uống đầu tiên trong ngày.
Sinh khả dụng không đáng kể khi dùng alendronate cùng hoặc trong vòng 2 giờ sau bữa sáng chuẩn. Dùng alendronate cùng cà phê hoặc nước cam sẽ làm giảm khoảng 60% sinh khả dụng của alendronate.
Ở người tình nguyện khỏe mạnh, prednisone dùng đường uống (20 mg x 3 lần/ngày trong 5 ngày) không làm thay đổi có ý nghĩa lâm sàng về sinh khả dụng đường uống của alendronate (tăng trung bình 20-44%).
Phân bố: Nghiên cứu trên chuột cống cho thấy alendronate phân bố tạm thời vào các mô mềm sau khi tiêm tĩnh mạch 1 mg/kg, nhưng sau đó phân bố lại nhanh chóng vào xương hoặc đào thải qua nước tiểu. Thể tích phân bố trung bình trong trạng thái ổn định, trừ trong xương, ít nhất 28 lít ở người. Nồng độ của thuốc trong huyết tương sau liều điều trị đường uống quá thấp để có thể phát hiện qua phân tích (< 5 ng/mL). Thuốc gắn với protein trong huyết tương ở người khoảng 78%.
Sinh chuyển hóa: Chưa có bằng chứng là alendronate được chuyển hóa ở động vật hoặc ở người.
Thải trừ: Sau khi tiêm tĩnh mạch một liều duy nhất [14C] alendronate, khoảng 50% chất đánh dấu được thải qua nước tiểu trong 72 giờ và có ít hoặc không có chất đánh dấu được bài tiết qua phân. Sau khi tiêm tĩnh mạch liều duy nhất 10 mg, độ thanh thải creatinin qua thận của alendronate là 71 mL/phút và độ thanh thải toàn thân không vượt quá 200 mL/phút. Nồng độ trong huyết tương giảm > 95% trong 6 giờ sau khi tiêm tĩnh mạch. Thời gian bán thải cuối ở người dự tính là hơn 10 năm, phản ánh sự giải phóng alendronate ra khỏi xương. Alendronate không đào thải qua các hệ thống vận chuyển acid hoặc bazơ ở thận của chuột cống, và vì vậy không có ảnh hưởng tới sự đào thải của những thuốc khác qua các hệ thống vận chuyển này ở người.
Cholecalciferol (vitamin D3)
Hấp thu: Ở người lớn khỏe mạnh (nam và nữ), sau khi uống Aldenstad plus sau 1 đêm không ăn và 2 giờ trước bữa ăn, diện tích dưới đường cong trung bình nồng độ trong huyết thanh-thời gian (AUC0-120 giờ) với vitamin D3 là 296,4 ng.giờ/mL (không hiệu chỉnh cho vitamin D3 nội sinh). Nồng độ đỉnh trung bình trong huyết thanh (Cmax) của vitamin D3 là 5,9 ng/mL và thời gian trung bình để đạt nồng độ đỉnh trong huyết thanh (Tmax) là 12 giờ. Sinh khả dụng của vitamin D3 trong Aldenstad plus tương đương với liều tương ứng vitamin D3 uống riêng.
Phân bố: Sau khi hấp thu, vitamin D3 vào máu theo vi thể dưỡng trấp. Vitamin D3 phân bố nhanh, hầu hết vào gan, được chuyển hóa thành 25-hydroxyvitamin D3 là dạng dự trữ chính. Lượng nhỏ hơn được phân bố vào mô mỡ, mô cơ và dự trữ dưới dạng vitamin D3, sau đó phóng thích vào tuần hoàn. Vitamin D3 lưu thông được gắn với protein gắn vitamin D.
Chuyển hóa: Vitamin D3 chuyển hóa nhanh qua phản ứng hydroxyl hóa ở gan thành 25-hydroxyvitamin D3, sau đó chuyển hóa ở thận để thành 1,25-dihydroxyvitamin D3 dạng có hoạt tính sinh học. Phản ứng hydroxyl hóa tiếp tục xảy ra trước khi đào thải. Một lượng nhỏ vitamin D3 sẽ trải qua quá trình glucuronid trước khi đào thải.
Thải trừ: Khi cho người khỏe mạnh dùng vitamin D3 đánh dấu, sự đào thải trung bình của chất đánh dấu qua nước tiểu sau 48 giờ là 2,4%, và sau 4 ngày sự đào thải trung bình qua phân của chất đánh dấu là 4,9%. Trong cả hai trường hợp, chất đánh dấu được đào thải hầu hết là các chất chuyển hóa của thuốc gốc. Thời gian bán thải trung bình của vitamin D3 trong huyết thanh sau khi uống một liều Aldenstad plus là khoảng 24 giờ.
Suy thận: Nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy thành phần alendronate không lắng đọng ở xương sẽ bị thải nhanh qua nước tiểu. Không có bằng chứng về sự bão hòa khi nhập xương sau khi dùng dài ngày liều tĩnh mạch tích lũy lên tới 35 mg/kg ở động vật. Mặc dù chưa có thông tin trên lâm sàng, có thể cũng giống như ở động vật, sự đào thải của alendronate qua thận sẽ giảm đi nếu dùng cho người suy chức năng thận. Vì vậy, ở người bệnh bị suy chức năng thận, có thể sự tích lũy alendronate trong xương sẽ lớn hơn một chút.
5.3. Hiệu quả lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Thành phần tá dược: Microcrystalline cellulose, anhydrous lactose, croscarmellose sodium, colloidal anhydrous silica, magnesium stearate.
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Dạng bào chế: Viên nén. Viên nén hình thuôn dài, màu trắng, hai mặt khum, một mặt có khắc hình, một mặt trơn.
6.5 Tài liệu tham khảo:
HDSD Thuốc Aldenstad Plus do Công Ty TNHH Liên Doanh Stellapharm – Chi nhánh 1 sản xuất (2021).
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM