Abacavir + Lamivudine

Thông tin chung của thuốc kết hợp Abacavir + Lamivudine

Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc kết hợp Abacavir + Lamivudine (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Abacavir + Lamivudine

Phân loại: Thuốc kháng virus. Dạng kết hợp.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J05AR02.

Biệt dược gốc:

Thuốc Generic: Abamune-L Baby, Abalam, Kivexa

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén phân tán. Mỗi viên có chứa Abacavir 60mg, Lamivudine 30mg

Viên nén bao phim. Mỗi viên có chứa Abacavir 600mg, Lamivudine 300mg

Thuốc tham khảo:

KIVEXA
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Abacavir …………………………. 600 mg
Lamivudine …………………………. 300 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

Kivexa (Abacavir + Lamivudine)

3. Thông tin dành cho người sử dụng:

Vui lòng tham khảo tờ hướng dẫn của từng sản phẩm.

4. Thông tin dành cho nhân viên y tế:

4.1. Chỉ định:

Abacavir + Lamivudine được chỉ định trong điều trị nhiễm HIV-1, phối hợp với các thuốc chống virus khác.

Theo phác đồ điều trị 3 thuốc, viên nén Abacavir + Lamivudine được khuyến cáo dùng với một thuốc kháng virus thuộc nhóm dược lý khác mà không phải các thuốc ức chế phiên mã ngược nucleosid/nucleotid.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng đường uống.

Liều dùng:

Liệu pháp nên được chỉ định bởi bác sĩ có kinh nghiệm trong việc kiểm soát nhiễm HIV.

Người lớn, thanh thiếu niên và trẻ em ≥ 25 kg

Liều khuyến cáo của Abacavir + Lamivudine là một viên một lần mỗi ngày.

Trẻ em dưới 25 kg

Abacavir + Lamivudine nên dùng 2 lần mỗi ngày, uống thuốc với nước và xa bữa ăn.

Liều khuyến cáo cho trẻ em tính theo cân nặng.

Thể trọng (Kg) Liều dùng lần (dùng 2 lần mỗi ngày)
3-5,9 60mg/30mg
6-9,9 90mg/45mg
10-13,9 120mg/60mg
14-19,9 150mg/75mg
20-24,9 180mg/90mg

Suy thận và suy gan

Vì thuốc là dạng viên phối hợp cố định liều, nên không thể kê đơn Abacavir + Lamivudine cho những bệnh nhân cần điều chỉnh liều như người có thanh thải creatinine <50 mL/min, người bị suy giảm chức năng gan hoặc phải hạn chế liều do các phản ứng bất lợi.

4.3. Chống chỉ định:

Mẫn cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc.

Suy gan vừa và nặng.

Phụ nữ có thai.

4.4 Thận trọng:

Chung: Phải rất thận trọng khi dùng abacavir, nhất là trong 6 tuần đầu, vì nguy cơ phản ứng quá mẫn (4%), đôi khi gây tử vong. Phát hiện phản ứng quá mẫn thường rất khó vì dễ lẫn với một bệnh toàn thân. Phải ngừng ngay abacavir nếu có các triệu chứng quá mẫn và không bao giờ được dùng lại. Người bệnh phải được theo dõi cẩn thận trong 2 tháng đầu điều trị, vì phản ứng quá mẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Người bệnh bắt đầu điều trị lại sau khi ngừng thuốc cũng có nguy cơ, kể cả trưóc đó không có triệu chứng quá mẫn. Do đó, cần khuyên người bệnh phải uống thuốc đều, không được ngắt quãng.

Không được dùng abacavir cho người bị bệnh gan nặng và phải rất thận trọng đối với người có nhiều nguy cơ mắc bệnh gan (phụ nữ béo phì, gan to, viêm gan mạn tính B, C và điều trị kết hợp thuốc kháng virus). Phải ngừng thuốc ngay nếu chức năng gan thay đổi theo hướng xấu đi nhanh hoặc nếu gan to hoặc nhiễm toan chuyển hóa mà không rõ nguyên nhân.

Thận trọng dùng abacavir ở người bị suy thận giai đoạn cuối.

Nguy cơ phản ứng quá mẫn, nhiễm acid lactic và bệnh gan to nặng, cơn bùng phát của viêm gan B.

Phản ứng quá mẫn

Phản ứng quá mẫn trầm trọng, đôi khi tử vong đã thấy có liên quan tới abacavir sunfat.

Phản ứng quá mẫn với abacavir là hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan thường đặc trưng bởi dấu hiệu hoặc triệu chứng ở ≥2 cơ quan thuộc các nhóm sau: (1) sốt, (2) phát ban, (3) tiêu hóa (bao gồm buồn nôn, nôn, tiêu chảy, hoặc đau bụng), (4) Thể trạng (bao gồm khó chịu, mệt mỏi, hoặc đau nhức), và (5) hô hấp (bao gồm khó thở, ho, viêm họng). Ngừng dùng thuốc này càng sớm càng tốt nếu nghi ngờ có phản ứng quá mẫn.

Những bệnh nhân mang gen HLA-B * 5701 có nhiều nguy cơ phản ứng mẫn cảm với Abacavir. Do vậy, cần sàng lọc HLA-B * 5701 trước khi bắt đầu trị liệu với abacavir; Biện pháp này sẽ giúp giảm nguy cơ xảy ra phản ứng quá mẫn. Trước khi bắt đầu dùng lại abacavir, cũng nên sàng lọc với các bệnh nhân trước đây dung nạp thuốc tốt nhưng chưa biết có mang gen HLA-B* 5701 hay không. Người bệnh âm tính với HLA-B* 5701 cũng có thể tăng mẫn cảm với abacavir; Tuy nhiên, ít xảy ra hơn với người bệnh dương tính với HLA-B * 5701.

Không kể đến tình trạng HLA-B* 5701, ngừng dùng thuốc hoặc các thuốc có abacavir vĩnh viễn nếu không thể loại trừ được phản ứng mẫn cảm. ngay cả khi các chẩn đoán khác là có thể.

Sau khi đã bị phản ứng quá mẫn với abacavir, không bao giờ dùng lại Abacavir + Lamivudine vì triệu chứng nặng hơn có thể xẩy ra trong vài giờ, tụt huyết áp, đe dọa tính mạng và có thể tử vong.

Đã thấy báo cáo nhiễm acid lactic và gan to nhiễm mỡ nặng, có trường hợp gây tử vong khi sử dụng các thuốc nucleosid đơn thành phần hoặc phối hợp, như abacavir, lamivudin, và thuốc kháng retrovirus khác.

Cơn bùng phát viêm gan B

Đã thấy báo cáo đợt cấp nặng của bệnh viêm gan B ở những bệnh nhân đồng nhiễm viêm gan B (HBV) và HIV-1 sau khi ngừng lamivudin. Nên theo dõi chặt chẽ chức năng gan bằng xét nghiệm và lâm sàng trong ít nhất vài tháng đối với bệnh nhân ngừng dùng Abacavir + Lamivudine và vẫn đang nhiễm HIV-1 và HBV. Nếu thích hợp, có thể bắt đầu điều trị viêm gan B.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Không có nghiên cứu nào về ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Cần lưu ý đến tình trạng lâm sàng của bệnh nhân khi xem xét khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc của bệnh nhân.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: NA

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

. Nói chung, không dùng viên hỗn hợp abacavir/lamivudin cho phụ nữ mang thai. Trên chuột thí nghiệm, thuốc qua nhau thai và gây độc cho phôi và thai nhi.

Thời kỳ cho con bú:

Các thuốc và chất chuyển hóa của abacavir/lamivudin đều bài tiết qua sữa động vật thí nghiệm và rất có thể cũng có trong sữa mẹ. Bà mẹ dùng các chế phẩm hỗn hợp abacavir/lamivudin thì không nên cho con bú, và nói chung, phụ nữ nhiễm HIV không nên cho con bú vì có thể truyền HIV qua sữa sang con.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Thường gặp, ADR ≥ 1/100

Miễn địch: Quá mẫn cảm

Tiêu hóa: Nôn, buồn nôn, chán ăn, tiêu chảy, đau bụng hoặc chuột rút.

Thần kinh: Đau đầu, mất ngủ, rối loạn giấc ngủ hoặc ngủ ít.

Hô hấp: Ho, triệu chứng mũi

Ngoài da: Phát ban, mề đay, rụng tóc.

Cơ xương: Chứng đau cơ, rối loạn cơ.

Toàn thân: Sốt, mệt mỏi, khó chịu, hôn mê.

Ít gặp, 1/1000 ≤ ADR < 1/100

Toàn thân: Sốt, đau khớp, phù.

Máu và hệ bạch huyết: Sưng hạch, giảm bạch cầu lympho, giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu, tăng triglycerid, giảm tiểu cầu.

Tiêu hóa: Chán ăn, loét miệng, đau bụng, viêm tụy.

Gan: Tăng nhất thời men gan (AST, ALT).

Hô hấp: Khó thở, đau họng, ho.

Tuần hoàn: Hạ huyết áp.

Thần kinh: Dị cảm.

Khác: Viêm kết mạc, rối loạn phân bố mỡ (giảm mỡ ở tay, chân, mặt, tăng mỡ ở cổ, ngực, thân).

Hiếm gặp, ADR ≤ 1/1000

Hô hấp: thở nhanh và/hoặc thở sâu.

Tiêu hóa: Viêm tụy đã thấy báo cáo, nhưng chưa rõ có liên quan tới thuốc nghiên cứu hay không. Các dấu hiệu sớm bao gồm rối loạn tiêu hóa thông thường (buồn nôn, nôn, đau bụng), cảm giác mệt xỉu, ăn không ngon, sụt cân,

Gan: Viêm gan. Nhiễm acid lactic huyết có thể nguy hiểm đến tính mạng, thường xảy ra ở người bị gan rất to, gan xơ hóa mỡ đã thấy thông báo với bệnh nhân dùng các thuốc nucleosid ức chế enzym phiên mã ngược

Da: Phù mạch, rạn da

Rất hiếm gặp, ADR ≤ 1/10000

Thần kinh: Bệnh thần kinh ngoại vi (hoặc chứng dị cảm)

Máu và hệ bạch huyết: Thiếu máu do thiếu hồng cầu.

Da: hồng ban đa dạng, hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử biểu bì đo độc.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Tương tác với abacavir:

Với các thuốc bị chuyển hóa bởi hệ men gan: Do các enzym cytochrom P450 gây chuyển hóa abacavir không đáng kể, nên ít có tương tác với các thuốc chuyển hóa bởi hệ men này.

Với alcohol (rượu): Không có tương tác lâm sàng giữa rượu và abacavir, nhưng rượu làm chậm thải trừ abacavir và do đó làm tăng nồng độ thuốc trong máu. Không thấy có phản ứng kiểu disulfiram.

Với các thuốc kháng virus: In vitro, abacavir có tác dụng kháng virus HIV-1 cộng hợp hoặc hiệp đồng với các thuốc ức chế integrase và protease của HIV (như raltegravir, amprenavir, nelfinavir, tipranavir); Tác dụng cộng hoặc hiệp đồng với các thuốc ức chế phiên mã ngược không thuộc nhóm nucleosid (efavirenz, nevirapin) cũng như với các thuốc ức chế phiên mã ngược nucleosid và nucleotid (didanosin, emtricitabin, lamivudin, stavudin, tenofovir và zidovudin)

Với methadon: Khi dùng đồng thời, abacavir làm tăng tốc độ thanh thải của methadon nhưng dược động học của abacavir không bị ảnh hưởng. Theo dõi bệnh nhân, có thể điều chỉnh liều methadon ở một số bệnh nhân nếu cần.

Tương tác với lamivudin: Nồng độ zidovudin trong huyết tương tăng lên đáng kể (khoảng 39%) khi dùng đồng thời với lamivudin.

Trimethoprim/sulfamethoxazol gây tăng sinh khả dụng của lamivudin (khoảng 44%) và làm giảm độ thanh thải qua thận.

4.9 Quá liều và xử trí:

Chưa có thông báo về triệu chứng ngộ độc đo quá liều. Không có thuốc giải độc đặc hiệu, nên điều trị chủ yếu theo triệu chứng, nếu có. Chưa biết thuốc có thể thải loại bằng thẩm tách màng bụng hay lọc máu không.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Abacavir và lamivudin đều là các chất ức chế enzym phiên mã ngược (NRTIs) có tác dụng chọn lọc với virus HIV-1 và HIV-2. Cả hai thuốc abacavir và lamivudin được chuyển hóa nhờ kinase trong tế bào thành các dẫn chất 5’-triphosphat (TP) có tác dụng. Các chất chuyển hóa triphosphat lamivudin-TP và carbovir-TP là các cơ chất có cấu trúc tương tự deoxyguanosin-5′-triphosphat (dGTP) nên đã cạnh tranh với dGTP – một cơ chất của enzym phiên mã ngược của virus, được gắn vào DNA của virus, gây gián đoạn sự tăng trưởng của virus.

In vitro, chất chuyển hóa có hoạt tính 5’-triphosphat của abacavir có tác dụng trên các retrovirus của người và động vật, bao gồm HIV-1, HIV-2 và FIV (feline immunodeficiency virus), thuốc cũng có tác dụng với virus viêm gan B (HBV) và cytomegalovirus (CMV), nhưng không có tác dụng với các virus Herpes simplex loại 1 và 2 (gây bệnh mụn rộp), virus Varicella zoster (bệnh Zona) và virus cúm A. Thuốc có tác dụng hiệp đồng với nevirapin và zidovudin, tác dụng cộng khi kết hợp với didanosin, zalcitabin, lamivudin và stavudin. Abacavir nói chung không gây độc trên một số tế bào nuôi cấy (bạch cầu, gan), và không ảnh hưởng tới sự sao chép, sinh sản của tế bào.

Đã thấy thông báo xuất hiện các chủng virus HIV-1 giảm nhạy cảm với abacavir khi tăng nồng độ thuốc trong môi trường nuôi cấy in vitro. Bên cạnh đó, nghiên cứu in vitro cũng đã thấy một số chung HIV-1 kháng thuốc khi điều trị với abacavir. Cơ chế kháng thuốc chưa được xác định rõ, nhưng đột biến gen enzym phiên mã ngược của HIV được cho là nguyên nhân chính gây kháng thuốc. Đột biến đơn có thể gây giảm nhạy cảm với abacavir, đột biến đa gây kháng thuốc ở mức độ cao hơn. Tuy nhiên, sự kháng thuốc không tăng nhanh. Đã thấy thông báo có hiện tượng kháng chéo giữa abacavir với các NRTI khác. Các chủng HIV phân lập được (có đột biến Q151M) kháng cao với nhiều nucleosid cũng giảm nhạy cảm với abacavir. Kháng thuốc tăng nhanh khi dùng riêng abacavir, do vậy abacavir luôn được phối hợp với các thuốc kháng retrovirus trong điều trị.

Lamivudin được dung nạp tốt, nhưng không được dùng đơn độc vì dễ gây kháng thuốc. Sự kháng này do đột biến về enzym phiên mã ngược, làm giảm tính nhạy cảm hơn 100 lần và làm mất tác dụng kháng virus trên người bệnh.

Các thuốc này chỉ có tác dụng ức chế mà không diệt virus HIV nên trong thời gian điều trị, người bệnh vẫn cần phải triệt để áp dụng các biện pháp an toàn (tình dục an toàn, không dùng bơm, kim tiêm chung v.v…) để tránh lây nhiễm.

Cơ chế tác dụng:

Abacavir là một thuốc thuộc nhóm nucleosid có tác dụng như một chất ức chế enzym phiên mã ngược (NRTI), có tác dụng kháng chọn lọc retrovirus HIV-1 và HIV-2, kể cả các chủng HIV-1 kém nhạy cảm với zidovudin, lamivudin, zalcitabin, didanosin hoặc nevirapin. Khi vào cơ thể, abacavir được phosphoryl hóa bởi adenosin phosphotransferase và chuyển đổi thành carbovir triphosphat, một chất chuyển hóa có hoạt tính nhờ các enzym có trong tế bào. Do vậy, sự chuyển hóa của abacavir xảy ra trong cả các tế bào bị nhiễm virus và tế bào lành. Chất chuyển hóa carbovir triphosphat có cấu trúc tương tự dGTP (deoxyguanosin-5’- triphosphat) nên đã cạnh tranh với dGTP – một cơ chất của enzym phiên mã ngược của virus, và được gắn vào DNA của virus. Do cấu trúc của chất chuyển hóa thiếu nhóm 3’-OH nên không thể tạo liên kết 3’,5’-phosphodiester, làm mất khả năng kéo dài chuỗi DNA nên gây gián đoạn sự tăng trưởng của virus.

Lamivudin được chuyển hóa nội bào tạo thành dạng triphosphat. Triphosphat này ức chế sự tổng hợp DNA của retrovirus, bao gồm virus HIV, thông qua sự ức chế cạnh tranh với enzym sao chép ngược và sự gắn kết vào DNA của virus. Lamivudin cũng có hoạt tính kháng virus gây viêm gan B.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Theo các dữ liệu dược động học đã công bố của các thuốc thành phần cho thấy abacavir và lamivudin được hấp thu tốt và nhanh qua đường tiêu hóa sau khi uống. Sinh khả dụng tuyệt đối của abacavir và lamivudin sau khi dùng đường uống ở người lớn tương ứng khoảng 83% và 80-85%. Sau khi uống liều đơn, nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) đạt được là 5838 (± 2023) ng/ml, và AUC tương ứng là 15059 (± 2456) ng*h/ml. Thời gian đạt đến nồng độ tối đa (Tmax) là 0,80 (± 0,59) giờ. Thức ăn làm chậm hấp thu và giảm Cmax, nhưng không ảnh hưởng tới AUC. Do vậy, thuốc có thể uống cùng với thức ăn hoặc không.

Các thuốc liên kết với protein thấp đến trung bình, khoảng 36% (lamivudin) và 49% (abacavir). Lamivudin có dược động học tuyến tính theo liều. Thuốc có khả năng thâm nhập vào hệ thần kinh và có trong dịch não tủy với tỷ lệ nồng độ thuốc trong dịch não tủy so với trong huyết tương là 12%, và AUC khoảng 30-44%. Abacavir được chuyển hóa chủ yếu ở gan. Các chất chuyển hóa được bài tiết qua nước tiểu và khoảng 2% liều dưới dạng không đổi, phần còn lại được thải trừ trong phân. Thời gian bán thải trung bình của abacavir khoảng 1,5 giờ, sự tích lũy thuốc không đáng kể. Lamivudin ít chuyển hóa, thải trừ chủ yếu qua thận dưới dạng không đổi, với thời gian bán thải khoảng 5-7 giờ.

5.3. Hiệu quả lâm sàng:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Kivexa 600 mg/300 mg film-coated tablets leaflet: https://www.medicines.org.uk/emc/product/3881/pil

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM