Tobramycin – Tobramedlac

Thuốc Tobramedlac là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Tobramedlac (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Tobramycin

Phân loại: Thuốc kháng sinh nhóm aminoglycosid.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J01GB01, S01AA12.

Biệt dược gốc: Tobrex

Biệt dược: Tobramedlac

Hãng sản xuất : Công ty TNHH sản xuất dược phẩm Medlac Pharma Italy

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch tiêm 80 mg/2 ml.

Thuốc tham khảo:

TOBRAMEDLAC 80mg/2ml
Mỗi 2ml dung dịch tiêm có chứa:
Tobramycin …………………………. 80 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Được chỉ định trong điều trị các nhiễm khuẩn nặng đã xác định hoặc nghi ngờ do vi khuẩn Gram âm và một số vi khuẩn khác nhạy cảm, đặc biệt ở bộ phận tiết niệu.

Tobramycin phối hợp với một kháng sinh khác được chỉ định trong một số nhiễm khuẩn do vi khuẩn nhạy cảm (dựa vào nuôi cấy vi khuẩn) bao gồm:

Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương bao gồm viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn huyết ở trẻ sơ sinh.

Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa bao gồm viêm phúc mạc.

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu biến chứng và tái phát như viêm thận – bể thận, viêm bàng quang.

Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới bao gồm viêm phổi, viêm phế quản phổi, viêm phế quản cấp.

Nhiễm khuẩn da, xương và mô mềm bao gồm cả bỏng.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Thuốc được dùng theo đường tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch trong 20 – 60 phút (pha loãng mỗi liều trong 50 – 100 ml dung dịch tiêm natri clorid 0,9 % hoặc glucose 5 % để có nồng độ không vượt quá 1 mg dạng base cho một ml; đối với trẻ em, cần pha loãng với thể tích nhỏ hơn theo tỷ lệ tương ứng); hoặc tiêm trực tiếp tĩnh mạch chậm. Với dung dịch thu được, tiêm chậm trong vòng 20 – 60 phút để tránh chẹn thần kinh – cơ.

Liều lượng được biểu thị dưới dạng tobramycin: 1,5 g tobramycin sulfat tương đương khoảng 1g tobramycin. Thời gian điều trị thông thường từ 7 đến 10 ngày. Tuy nhiên, trong trường hợp nhiễm trùng nặng và có biến chứng, thời gian điều trị có thể kéo dài hơn nếu cần thiết. Trong trường hợp như vậy nên theo dõi chặt chẽ chức năng thận, khả năng nghe vì độc tính thần kinh thường xảy ra khi điều trị kéo dài hơn 10 ngày. Tránh để nồng độ đỉnh tobramycin huyết tương vượt quá 10 – 12 microgam/ml hoặc nồng độ đáy lớn hơn 2 microgam/ml.

Hiện nay có 2 cách dùng aminoglycosid nói chung và tobramycin nói riêng:

Cách cổ điển: Liều hàng ngày cho 2 – 3 lần/ngày. Hiện nay cách này chỉ còn dùng cho trường hợp bị viêm nội tâm mạc do vi khuẩn Gram âm, viêm nội tâm mạc HACEK, bỏng trên 20% diện tích da hoặc suy thận có Clcr < 20 ml/phút.

Cách thứ 2: Liều hàng ngày cho 1 lần/ngày. Cách dùng này thuận tiện hơn, cho nồng độ huyết thanh thỏa đáng và trong nhiều trường hợp đã thay thế cho cách nhiều lần trong ngày, trừ một số trường hợp kể trên. Riêng đối với phụ nữ mang thai, còn ít kinh nghiệm dùng liều cao một lần trong ngày nên chưa được khuyến cáo. Chế độ dùng liều cách xa nhau ở trẻ sơ sinh đã phản ánh những thay đổi về chức năng thận ở thời kỳ này.

Nồng độ thuốc trong huyết thanh: Giám sát nồng độ thuốc trong huyết thanh tránh được cả hai nồng độ quá mức và dưới mức điều trị, như vậy ngăn được nhiễm độc, đồng thời bảo đảm được hiệu quả tác dụng. Tất cả người bệnh tiêm aminoglycosid, nhất là người cao tuổi phải định lượng nồng độ thuốc trong huyết thanh.

Nếu chức năng thận bình thường, đo nồng độ thuốc sau 3 hoặc 4 liều chế độ nhiều liều trong ngày và sau một thay đổi liều. Nếu suy thận, phải đo nồng độ thuốc sớm hơn và thường xuyên hơn.

Chế độ nhiều liều trong ngày: Lấy máu định lượng khoảng 1 giờ sau khi tiêm bắp hoặc tĩnh mạch (nồng độ đỉnh) và ngay sau liều tiếp theo (nồng độ đáy). Nếu nồng độ đỉnh cao, giảm liều, nếu nồng độ đáy cao, phải tăng khoảng cách giữa 2 liều.

Chế độ 1 liệu trong ngày: Phải tham khảo hướng dẫn của Bộ Y tế về giám sát nồng độ huyết thanh. Không thể dùng nồng độ đáy trong trường hợp này vì nồng độ thường thấp hơn nồng độ trong phòng thí nghiệm có thể phát hiện được nhưng vẫn khá cao để tăng nguy cơ nhiễm độc.

Nếu dùng liệu pháp theo kinh nghiệm: Không cần định lượng thuốc trong huyết thanh, không được dùng thuốc quá 48 giờ.

Liều dùng:

Để tránh dùng liều quá cao đối với người béo phì, phải dùng cân nặng lý tưởng.

Người lớn:

Tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch hoặc truyền tĩnh mạch liều 3 mg/kg/ngày, chia làm 3 liều nhỏ cách nhau 8 giờ/lần hoặc cho 1 lần/ngày. Nếu nhiễm khuẩn nặng: 5 mg/kg/ngày, chia thành liều nhỏ cho cách nhau 6 – 8 giờ/lần, hoặc cho 1 lần/ngày (giảm xuống 3 mg/kg càng sớm càng tốt khi điều kiện lâm sàng cho phép).

Người cao tuổi: Không cần điều chỉnh liều nếu không có suy giảm chức năng thận.

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu: Tiêm bắp 2 – 3 mg/kg/ngày, 1 liều duy nhất.

Trẻ em:

Nhiễm khuẩn huyết trẻ sơ sinh:

Dùng liều cho cách nhau xa (> 24 giờ/lần) tiêm tĩnh mạch trong 3 – 5 phút hoặc truyền tĩnh mạch:

Trẻ sơ sinh < 32 tuần tuổi sau tắt kinh: 4 – 5 mg/kg, cách 36 giờ/lần.

Trẻ sơ sinh > 32 tuần tuổi sau tắt kinh: 4 – 5 mg/kg, cách 24 giờ/lần.

Dùng nhiều lần/ngày, tiêm tĩnh mạch chậm hoặc truyền tĩnh mạch:

Trẻ sơ sinh < 7 ngày tuổi: 2 mg/kg, cách 12 giờ/lần.

Trẻ sơ sinh 7 – 28 ngày tuổi: 2 – 2,5 mg/kg, cách 8 giờ/lần.

Nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não và các nhiễm khuẩn thần kinh trung ương khác, nhiễm khuẩn đường mật, viêm thận bể thận cấp, viêm phổi mắc tại bệnh viện:

Phác đổ nhiều lần/ngày, tiêm tĩnh mạch chậm 3-5 phút:

Trẻ nhỏ 1 tháng tuổi – 12 tuổi: 2 – 2,5 mg/kg, cách 8 giờ/lần.

Trẻ em 12 – 18 tuổi: 1 mg/kg, cách 8 giờ/lần; nhiễm khuẩn nặng: Tối đa 5 mg/kg/ngày, chia làm nhiều liều nhỏ, cách nhau 6 – 8 giờ/lần (giảm xuống 3 mg/kg/ngày ngay khi có thể).

Phác đồ 1 liều/ngày, tiêm truyền tĩnh mạch:

Trẻ 1 tháng tuổi – 18 tuổi: Ban đầu 7 mg/kg, sau đó điều chỉnh tùy theo nồng độ tobramycin huyết thanh.

Nhiễm Ps. Aeruginosa ở phổi ở trẻ em bị xơ nang tuyến tụy:

Phác đồ nhiều lần/ngày, tiêm tĩnh mạch chậm trong 3 – 5 phút:

Trẻ 1 tháng tuổi – 18 tuổi: 8 – 10 mg/kg/ngày, chia làm 3 liều nhỏ.

Phác đồ 1 liều/ngày, tiêm truyền tĩnh mạch trong 30 phút:

Trẻ 1 tháng tuổi – 18 tuổi: Ban đầu 10 mg/kg/ngày (tối đa 660 mg), sau đó điều chỉnh tùy theo nồng độ tobramycin huyết thanh.

Viêm phổi mạn tính do Ps. aeruginosa ở người bị xơ nang tuyến tụy:

Trẻ 6 – 18 tuổi, xem ở trên.

Suy thận: aminoglycosid thải trừ chủ yếu qua thận, tích lũy xảy ra khi suy thận, thường gây nhiễm độc tại và thận. Nếu có suy thận, khoảng cách giữa các liều phải tăng lên; nếu suy thận nặng, liều dùng phải giảm. Phải đo nồng độ tobramycin huyết thanh khi suy thận. Tránh dùng phác đồ 1 lần/ngày (phác đồ liều cao) cho người suy thận có Clcr <20 ml/phút.

Nếu dùng phác đồ thông thường (nhiều lần/ngày)

Clcr> 60 ml/phút: Cho cách 8 giờ/lần.

Clcr 40 – 60 ml/phút: Cho cách 12 giờ/lần.

Clcr 20 – 40 ml/phút: Cho cách 24 giờ/lần.

Clcr10 – 20 ml/phút: Cho cách 48 giờ/lần.

Clcr < 10 ml/phút: Cho cách 72 giờ/lần.

Phác đồ liều cao (1 liều/ngày hoặc trên 1 ngày): Cách 48 giờ/lần cho người suy thận có Clcr 30 – 59 ml/phút và điều chỉnh liều theo nồng độ thuốc huyết thanh.

Suy gan: không cần phải điều chỉnh liều. Giám sát nồng độ thuốc trong huyết thanh.

Cần tham khảo hướng dẫn sử dụng kháng sinh của địa phương nếu có.

4.3. Chống chỉ định:

Quá mẫn với tobramycin hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Với người có tiền sử dị ứng với các kháng sinh loại aminoglycosid, người bị nhược cơ, người nghe kém và có bệnh thận.

4.4 Thận trọng:

Tác dụng phụ của aminoglycosid (bao gồm tobramycin) liên quan đến liều dùng, phải thận trọng dùng đúng liều, điều trị tiêm không nên vượt quá 7 ngày.

Phải đánh giá chức năng thận trước và trong khi điều trị. Nếu có thể, phải điều trị tình trạng mất nước trước khi bắt đầu điều trị bằng tobramycin.

Để tối ưu hóa liều dùng và tránh nhiễm độc, phải giám sát nồng độ tobramycin trong huyết thanh.

Phải dùng thận trọng aminoglycosid ở người cao tuổi vì nhiễm độc tại và thân thường xảy ra nhất. Cần giảm liều.

Phải dùng thận trọng ở người bị bệnh nhược cơ.

Nếu có thể, không dùng aminoglycosid cùng với một thuốc có tiềm năng gây độc cho tại (như cisplatin) hoặc thuốc lợi tiểu mạnh độc cho tai (furosemid). Dùng 2 thuốc cảng xa nhau càng tốt.

Trong quá trình điều trị, cần định kỳ đo nồng độ đỉnh và đáy của thuốc trong huyết thanh. Cần theo dõi thính giác, tiền định và chức năng thận ở người bệnh đã biết hoặc nghi ngờ bị suy giảm chức năng thận. Đã thấy có dị ứng chéo với các aminoglycosid khác.

Tobramycin làm tăng khả năng độc về thính giác trong trường hợp phối hợp với cephalosporin.

Người ta đã chứng minh không phải nồng độ đỉnh cao gây ra độc tính với cơ quan thính giác và với thận. Độc tính có lẽ liên quan đến diện tích dưới đường cong chứ không phải đỉnh đường cong.

Vì vậy dùng 1 liều duy nhất/ngày tiêm tĩnh mạch có thể tốt hơn là dùng liều chia nhỏ.

Trẻ sơ sinh chỉ được dùng tobramycin khi mắc bệnh nặng đe dọa tính mạng. Tobramycin phải dùng thận trọng đối với phụ nữ mang thai, người bệnh bị suy thận, bị rối loạn tiền đình, bị thiểu năng ở ốc tại, giảm calci huyết, nhược cơ năng và các điều kiện khác làm giảm dẫn truyền thần kinh cơ. Thuốc có thể gây phong bế thần kinh cơ và liệt hô hấp; tăng nguy cơ khi dùng đồng thời với gây mê hoặc các thuốc giãn cơ; cần thay đổi liều ở người bệnh suy giảm chức năng thận và ở trẻ sơ sinh đang có oxy hóa màng ngoài thân thể.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Thuốc không dùng cho người đang lái tàu xe hoặc vận hành máy móc và tác dụng không mong muốn có thể gặp phải của thuốc như chóng mặt, nhức đầu, mất định hướng.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: Dạng tiêm: NA; Dạng nhỏ mắt: B

Thời kỳ mang thai:

Tobramycin tập trung ở thận thai nhi và đã được chứng minh gây điếc bẩm sinh cả hai bên tai không hồi phục. Vì vậy phải cân nhắc lợi hại thật cẩn thận khi phải dùng thuốc này trong những tình trạng đe dọa tính mạng hoặc trong những bệnh nặng mà các thuốc khác không dùng được hoặc không có hiệu lực.

Thời kỳ cho con bú:

Tobramycin có tiết vào sữa mẹ, không nên dùng thuốc khi đang cho con bú hoặc không cho con bú khi đang dùng thuốc

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

ADR của tobramycin thường phụ thuộc theo liều, quan trọng nhất là độc tính ở thận và ở cơ quan thính giác. Người có chức năng thận suy yếu có nguy cơ cao và cần phải giảm liều tương ứng với chức năng thận.

Các tác dụng không mong muốn được trình bày theo các hệ cơ quan, và theo tần suất: rất hay gặp (>1/10), thường gặp (>1/100, <1/10), ít gặp (>1/1000, <1/100), hiếm gặp (>1/10000, <1/1000), rất hiếm (<1/10000) và chưa biết (không thể ước tính được từ dữ liệu sẵn có)

 . Thường gặp ít gặp Hiếm gặp Rất hiếm gặp Chưa biết
Nhiễm khuẩn và ký sinh trùng         Bội nhiễm (do vi khuẩn kháng tobramycin), nhiễm nấm miệng, nhiễm nấm sinh dục (đã được báo cáo ở nữ giới)
Máu và hệ bạch huyết Tăng bạch cầu ưa eosin Tăng bạch cầu Thiếu máu, giảm bạch cầu hạt, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu    
Rối loạn hệ miễn dịch     Phản ứng quá mẫn1, phản ứng phản vệ    
Rối loạn hệ thần kinh   Đau đầu Dị cảm Co giật Sững sờ
Rối loạn tâm thần     Trạng thái rối loạn, mất phương hướng    
Rối loạn tai và tiền đình Rối loạn chức năng ốc tai và rối loạn tiền đình (ở bệnh nhân có suy giảm chức năng thận), độc tính trên tai không thể đảo ngược và/hoặc độc tính trên tiền đình (đặc biệt khi điều trị kéo dài hoặc ở liều cao) Tổn thương thần kinh tiền đình, bao gồm: chóng mặt, ù tai, điếc một phần và khiếm thính (ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường)2    
Rối loạn mạch máu Viêm tĩnh mạch huyết khối        
Rối loạn hô hấp   Khó phát âm, ho, khó thở, thở khò khè, sưng yết hầu Tăng tiết đờm, ho ra máu    
Rối loạn tiêu hóa   Buồn nôn, nôn Tiêu chảy    
Rối loạn da và mô dưới da   Phát ban, ngứa, mày đay      
Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết       Nhược cơ hoặc khó thở do chẹn thần kinh cơ. Co giật cơ.  
Rối loạn thận và tiết niệu Tác động đến chức năng thận ở bệnh nhân có suy giảm chức năng thận. Thiểu niệu. Tác động đến chức năng thận ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường.3   Suy thận cấp.  
Rối loạn toàn thân và tại vị trí tiêm Phản ứng tại chỗ tiêm, đau tại chỗ tiêm   Sốt, mệt mỏi    
Xét nghiệm máu Tăng transaminase, tăng ure, tăng Creatinin Tăng phosphatase kiềm, tăng lactat dehydrogenase, tăng bilirubin Giảm calci, giảm magnesi, giảm natri và giảm kali    
Rối loạn tim mạch     Đánh trống ngực    
Rối loạn thị giác     Nhìn mờ    

(1)Các phản ứng quá mẫn xảy ra với mức độ nghiêm trọng khác nhau, như phát ban, ngứa, sốt, nặng hơn có thể là sốc phản vệ hoặc viêm da tróc vảy hoặc hoại tử biểu bì nhiễm độc. Do có thành phần natri metabisulfit, phản ứng quá mẫn cũng có thể xảy ra trong một số trường hợp hiếm gặp, đặc biệt ở bệnh nhân hen phế quản. Các triệu chứng xảy ra có thể là co thắt phế quản, nôn mửa, tiêu chảy, thở khò khè, suyễn, rối loạn nhận thức hoặc sốc.

(2)Những tác dụng không mong muốn tác động lên ốc tại và tiền đình của dây thần kinh số 8 đã được quan sát thấy. Những biểu hiện như chóng mặt, quay, tiếng ầm hoặc tiếng chuông trong tai và giảm độ nhạy của khả năng nghe. Mất thính lực thường không thể đảo ngược và biểu hiện đầu tiên là giảm nhận thức ở tần số cao.

(3)Chức năng thận suy giảm biểu hiện qua sự tăng dần nồng độ trong huyết thanh của creatinin, ure nitơ và nitơ tổn dư cũng như thiểu niệu, trụ niệu và tăng dần protein niệu. Điều này được ghi nhận đặc biệt ở bệnh nhân có tiền sử bệnh thận, người dùng thuốc kéo dài hoặc dùng liều cao bất thường. Thậm chí ở bệnh nhân với chức năng thận bình thường, vẫn có thể xảy ra suy giảm chức năng thận.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ở những trường hợp vừa và nặng, cần bổ sung dịch, chất điện giải và protein.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Giống như gentamicin, nếu sử dụng đồng thời hoặc tiếp theo với các chất khác gây độc cơ quan thính giác và thận, có thể làm tăng tính độc của các aminoglycosid. Sử dụng đồng thời tobramycin với các chất chẹn thần kinh – cơ sẽ phong bế thần kinh – cơ và gây liệt hô hấp.

Tránh dùng đồng thời tobramycin với vắc xin BCG, gali nitrat.

Tăng tác dụng độc tính:

Tăng nồng độ tobramycin trong huyết tương và mô, tăng độc tính ở tại và/hoặc ở thận khi dùng đồng thời với acid ethacrynic, furosemid.

Tăng nồng độ phospho trong huyết tương khi dùng đồng thời với cefotaxim.

Gây độc ở tai và độc ở thận/rối loạn chức năng thận khi dùng đồng thời với indomethacin.

Gây rối loạn chức năng thận hoặc tăng nguy cơ gây độc ở thận khi dùng đồng thời với cidofovir, cisplatin, ciclosporin, lysin.

Gây độc ở tai khi dùng đồng thời với bụmetanid, carboplatin, piretanid.

Hợp lực và tăng thêm suy chức năng thận khi dùng đồng thời với tacrolimus.

Tăng thêm độc tính ở tai, gây độc ở tai, và/hoặc gây độc ở thận khi dùng đồng thời với các aminoglycosid khác (như amikacin, streptomycin, neomycin, kanamycin, gentamicin và paromomycin), amphotericin B, cephaloridin, viomycin, polymyxin B, colistin, capreomycin, vancomycin.

Tăng độc tính của các chất tương tác:

Gây ức chế hô hấp, ngạt, liệt hô hấp khi dùng đồng thời với các chất phong bế thần kinh cơ không khử cực, natri colistimethat, succinylcholin,

Gây yếu thần kinh cơ khi dùng đồng thời với magnesi clorid.

Giảm tác dụng của chất tương tác:

Giảm đáp ứng miễn dịch khi dùng đồng thời với vắc xin thương hàn sống.

Giảm tác dụng điều trị trong bàng quang hoặc tiêm chủng khi dùng đồng thời với BCG.

Giảm hiệu lực của các aminoglycosid khi dùng đồng thời với các penicilin.

4.9 Quá liều và xử trí:

Độc tính liên kết chặt chẽ với nồng độ đáy nhiều hơn là với nồng độ đỉnh, Độc tính thường gặp nhất là tổn hại thận (hoại tử tiểu quản cấp tính, thường có thể hồi phục), độc tính ở tại (không hồi phục) và độc tính ở tiền đình (không hồi phục). Tổn thương ở thận thường có thể không được chủ ý cho đến khi xảy ra tổn thương đáng kể, gây ra thời gian chậm trễ giữa thời điểm xảy ra tổn thương thận và thời điểm tăng creatinin rõ rệt.

Vì không có thuốc giải độc đặc hiệu, việc điều trị quá liều hoặc phản ứng độc của tobramycin nhằm chữa triệu chứng và hỗ trợ.

Cách điều trị như sau:

Truyền dịch tĩnh mạch để duy trì hiệu suất tiết niệu thích hợp (3 – 6 ml/kg/giờ)

Điều trị các phản ứng dị ứng nhẹ bằng thuốc kháng histamin; trường hợp nặng phải cho thông khí (đặt ống nội khí quản và thông khí cơ học), dùng epinephrin, truyền dịch tĩnh mạch, theo dõi điện tâm đồ.

Lọc máu hoặc thẩm tách phúc mạc để loại aminoglycosid ra khỏi máu của người bệnh suy thận.

Dùng các thuốc kháng cholinesterase, muối calci, hoặc hô hấp nhân tạo cơ học để điều trị chẹn thần kinh – cơ gây yếu cơ kéo dài và suy hoặc liệt hô hấp (ngừng thở) có thể xảy ra khi dùng đồng thời hai aminoglycosid.

Theo dõi: Sau khi bị quá liều, cần theo dõi chức năng thận và các chất điện phân trong huyết thanh, theo dõi khả năng mất thính lực.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Kháng sinh nhóm aminoglycosid; Mã ATC: JOIGB01

Tobramycin là kháng sinh diệt khuẩn, hoạt động bằng cách ức chế tổng hợp protein trong tế bào vi khuẩn.

Điểm gãy nồng độ tối thiểu ức chế vi khuẩn (MIC) trên lâm sàng theo EUCAST (Ủy ban Châu Âu vẽ thi nghiệm độ nhạy cảm của kháng sinh)

Các điểm gãy không liên quan đến loài cho chúng nhạy cảm (S) và chủng đề kháng (R) là: S< 2mg/L và R2 4mg/L.

Với Enterobacteriacaea S< 2mg/L và R> 4mg/L

Với Pseudomonas S< 4mg/L và R> 4mg/L

Với Acinetobacter S< 4mg/L và R> 4mg/L

Với Staphylococcus S< 1mg/L và R> 1mg/L

Tỷ lệ kháng thuốc mắc phải có thể thay đổi theo địa lý và theo thời gian với các chủng được lựa chọn và thông tin tại địa phương về kháng thuốc cần được tham khảo, đặc biệt khi điều trị nhiễm khuẩn nghiêm trọng.

Vi khuẩn nhạy cảm

Vi khuẩn Gram dương hiếu khí

Staphylococcus aureus

Staphylococcus coagulase negative

Staphylococcus saprophyticus

Vi khuẩn Gram âm hiếu khí

Citrobacter freundii

Citrobacter koseri

Enterobacter aerogenes

Enterobacter cloacae

Enterobacter sakazakii

Enterobacter spp

Escherichia coli

Klebsiella orytoca

Klebsiella pneumoniae

Klebsiella spp

Morganella morganii

Proteus mirabilis

Proteus spp

Proteus vulgaris

Pseudomonas aeruginosa

Một số loài có thể kháng thuốc

Vi khuẩn Gram dương hiếu khí

Staphylococcus capitis

Staphylococcus epidermidis

Staphylococcus haemolyticus

Staphylococcus hominis

Staphylococcus lugdunensis

Staphylococcus warnerii

Vi khuẩn Gram âm hiếu khí

Citrobacter spp – khác

Klebsiella ozaenae

Serratia liquefaciens

Serratia marcescens

Serratia spp

Vi sinh vật kháng thuốc tự nhiên

Các aminoglycosid có hoạt tính thấp đối với hầu hết các vi khuẩn Gram dương, bao gồm Streptococcus pyogenes, Streptococcus pneumonia và enterococci.

Mặc dù hầu hết các chủng enterococci đều chứng minh được khả năng kháng in vitro, một số chủng vẫn nhạy cảm. Các nghiên cứu in vitro chỉ ra rằng một aminoglycosid kết hợp với một kháng sinh can thiệp vào tổng hợp thành tế bào sẽ có tác dụng hiệp đồng trên một số chủng đường ruột. Kết hợp penicilin G và tobramycin cho tác dụng hiệp đồng diệt khuẩn in vitro đối với chủng Enterococcus faecalis (trước đây gọi là Streptococcus faecalis).

Tuy nhiên, sự phối hợp này không có tác dụng hiệp đồng với một số chủng liên quan gần khác như Enterococcus faecium (trước đây gọi là Streptococcus faecium). Xét nghiệm độ nhạy cảm và các thử nghiệm phối hợp kháng sinh nên được thực hiện.

Sự kháng chéo giữa các aminoglycosid xảy ra và phụ thuộc phần lớn vào sự khử hoạt tính của enzym vi khuẩn.

Kết hợp tobramycin và carbenicilin là hiệp đồng tác dụng in vitro trên hầu hết các chủng Ps.aeruginosa. Các vi khuẩn Gram âm khác có thể bị tác dụng hiệp đồng khi kết hợp tobramycin và một cephalosporin.

Cơ chế tác dụng:

Tobramycin là một kháng sinh nhóm aminoglycosid thu được từ môi trường nuôi cấy Streptomyces tenebrarius. Thuốc có tác dụng diệt khuẩn. Thuốc tác động trên tế bào vi khuẩn chủ yếu thông qua ức chế sự tổng hợp và lắp ghép các chuỗi polypeptid bằng cách gắn không thuận nghịch với các tiểu đơn vị 30S của ribosom.

Cơ chế đề kháng

Đề kháng với tobramycin xảy ra bởi một số cơ chế khác nhau bao gồm (1) thay đổi của các tiểu đơn vị ribosom trong tế bào vi khuẩn; (2) can thiệp tới sự vận chuyển của tobramycin vào tế bào và (3) bất hoạt tobramycin bằng sự tham gia của enzym biến đổi nhóm adenyl, phosphoryl và acetyl. Thông tin di truyền để sản xuất các enzym bất hoạt có thể được thực hiện trên các nhiễm sắc thể của vi khuẩn hoặc trên plasmid. Có thể có đề kháng chéo với các aminoglycosid khác.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Thuốc hấp thu nhanh và hoàn toàn qua đường tiêm bắp. Đạt đỉnh trong huyết thanh sau khi tiêm bắp từ 30 – 90 phút hoặc sau khi truyền tĩnh mạch là 30 phút. Sau khi tiêm bắp 1 mg/kg, một liều duy nhất cho người có chức năng thận bình thường, nồng độ đỉnh tobramycin trong huyết thanh khoảng 4 microgam/ml. Nồng độ thuốc trong huyết tương bằng hoặc dưới 1 microgam/ml, 8 giờ sau khi tiêm bắp. Nồng độ điều trị trong huyết thanh thường nằm trong khoảng 4 – 6 microgam/ml.

Sau khi tiêm tĩnh mạch chậm liều thường dùng, có thể đạt trong thời gian ngắn nồng độ trong huyết tương quá 12 microgam/ml.

Thuốc có thể tích phân bố 0,2 – 0,3 lít/kg; thể tích phân bố ở trẻ em là 0,2 – 0,7 lít/kg. Thuốc phân bố vào dịch ngoài tế bào, bao gồm các dịch huyết thanh, áp xe, cổ trướng, màng ngoài tim, màng phổi, hoạt dịch, bạch huyết và màng bụng. Thuốc thâm nhập rất ít vào dịch não tủy, mắt, xương, tuyến tiền liệt. Tobramycin dễ dàng đi qua nhau thai. Một lượng nhỏ thuốc cũng được phân phối vào mật, nước bọt, mồ hôi, nước mắt, đờm và sữa.

Tobramycin gắn kết dưới 30% với protein,

Tobramycin thải trừ chủ yếu qua thận, gần như hoàn toàn bằng lọc cầu thận. Nửa đời thải trừ của thuốc ở trẻ sơ sinh cân nặng <1200g là 11 giờ và > 1200g là 2 – 9 giờ, Nửa đời của thuốc trong huyết thanh ở người bị suy giảm chức năng thận là 5 – 70 giờ và ở người có chức năng thận bình thường là 2 – 3 giờ, phụ thuộc trực tiếp vào tốc độ lọc cầu thận, có tới 90 – 95% liều được đào thải ra nước tiểu trong vòng 24 giờ dưới dạng không biến đổi

Tobramycin sulfat đặc biệt để điều trị nhiễm khuẩn do Pseudomonas. Thuốc được tiêm bắp hoặc tĩnh mạch, không nên tiêm dưới da vì có thể gây đau.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Thành phần tá dược: Natri metabisulfit, dinatri edetat, nước cất pha tiêm vừa đủ 2,0 ml.

6.2. Tương kỵ :

Trộn đồng thời các kháng sinh beta-lactam ( penicilin và cephalosporin ) với tobramycin có thể gây mất hoạt tính lẫn nhau một cách đáng kể . Nếu dùng đồng thời các thuốc này , phải tiêm ở các vị trí khác nhau. Không trộn những thuốc này trong cùng một bình hoặc túi để tiêm tĩnh mạch.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

HDSD Thuốc Tobramedlac (2019).

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM