Thuốc Suxamethonium chlorid Vuab là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Suxamethonium chlorid Vuab (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Suxamethonium chloride
Phân loại: Thuốc chẹn thần kinh cơ.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): M03AB01.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: Suxamethonium chlorid Vuab
Hãng sản xuất : VUAB Pharma A.S – Czech
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Thuốc tiêm: 100mg/2ml.
Thuốc tham khảo:
| SUXAMETHONIUM CHLORIDE VUAB | ||
| Mỗi ml dung dịch tiêm có chứa: | ||
| Suxamethonium chloride | …………………………. | 100 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Suxamethonium chlorid VUAB được sử dụng làm thuốc giãn cơ sau khi đã gây mê toàn thân.
Thuốc có tác dụng giãn cơ trong gây mê để tạo thuận lợi cho đặt nội khí quản, đặc biệt đặt nội khí quản nhanh, thở máy và nhiều thủ thuật trong phẫu thuật và sản khoa.
Suxamethonium cũng được dùng trong co thắt thanh quản nặng và làm giảm mức độ các cơn co thắt cơ do thuốc hoặc co giật do điện.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Tiêm tĩnh mạch: Hòa tan 100 mg bột pha tiêm và pha loãng với 10 ml nước cất pha tiêm hoặc dung dịch natri clorid đẳng trương để có dung dịch nồng độ 1 %.
Truyền tĩnh mạch. Pha loãng hơn nữa đến nồng độ 0,1% – 0,2% trong dung dịch glucose 5% hoặc dung dịch natri clorid 0,9%. Điều chỉnh tốc độ truyền tùy theo đáp ứng của từng người bệnh. Tốc độ truyền khuyến cáo là 2,5 – 4 mg/phút.
Tổng liều suxamethonium tiêm tĩnh mạch nhắc lại hoặc truyền tĩnh mạch liên tục không được vượt quá 500 mg mỗi giờ.
Suxamethonium thường dùng tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm truyền tĩnh mạch, cũng có thể tiêm bắp sâu, ở phía cao trong cơ delta. Trong trường hợp co thắt thanh quản nặng có thể dùng trong lưỡi hoặc trong xương.
Liều dùng:
Người lớn: Liều dùng tùy thuộc vào thể trọng cơ thể, mức độ qiãn cơ cần thiết, đường dùng, và đáp ứng của từng người bệnh. Liều đơn suxamethonium tiêm tĩnh mạch cho tất cả các nhóm tuổi là 1,0 -1,5 mg/kg thể trọng cơ thể.
Trẻ em: Liều khuyến cáo tiêm tĩnh mạch cho trẻ sơ sinh và trẻ em là 2 mg/kg. Khuyến cáo dùng liều 1 mg/kg ở trẻ lớn hơn và thanh thiếu niên. Suxamethonium có thể tiêm bắp liều 2 – 3 mg/kg.
Người cao tuổi: Liều khuyến cáo ở người cao tuổi tương tự như ở người lớn trẻ tuổi. Người cao tuổi có thể nhạy cảm hơn với loạn nhịp tim, đặc biệt nếu đang dùng thuốc giống digitalis.
Khi sử dụng kéo dài (ngắt quảng hoặc liên tục) nên theo dõi cường độ và tính chất của tác dụng chẹn thần kinh cơ bằng máy kích thích thần kinh, do có nguy cơ phát sinh giai đoạn chẹn II..
4.3. Chống chỉ định:
Suxamethonium không tác động đến mức độ ý thức và không nên dùng trên bệnh nhân chưa được gây mê hoàn toàn.
Quá mẫn với suxamethonium clorid.
Vì suxamethonium có thể tác động như chất kích hoạt rung giật bó sợi cơ kéo dài ở những người nhạy cảm, chống chỉ định dùng thuốc ở người bệnh hoặc gia đình có tiền sử sốt cao ác tính. Nếu tình trạng này xảy ra bất ngờ, phải nqưng ngay lập tức tất cả các thuốc gây mê được biết là có liên quan đến phát triển sốt (kể cả Suxamethonium Chlorid Vuab), và nhanh chóng tiến hành các biện pháp hỗ trợ đầy đủ. Dantrolen natri tiêm tĩnh mạch là thuốc điều trị đặc hiệu và khuyến cáo dùng càng sớm càng tốt sau khi chẩn đoán tình trạng sốt cao.
Chống chỉ định dùng suxamethonium ở bệnh nhân có cholinesterase huyết tương không điển hình do di truyền.
Tăng thoáng qua kali huyết cấp thường xảy ra sau khi tiêm suxamethonium ở người bình thường; mức độ tăng này có thể gặp phải khi dùng liều 0,5 mmol/lit. Trong một số trạng thái bệnh lý hoặc trường hợp nhất định tăng kali huyết sau khi dùng thuốc có thể quá mức và gây loạn nhịp tim nghiêm trọng và ngừng tim. Vì lý do này chống chỉ định dùng suxamethonium trong các trường hợp sau:
ở những bệnh nhân đang hồi phục sau chấn thương nặng hoặc bỏng nặng; thời kỳ nguy cơ cao nhất tăng kali huyết là khoảng từ 5 đến 70 ngày sau khi bị chấn thương và có thể lâu hơn nữa nếu vết thương chậm lành do nhiễm khuẩn dai dẳng.
Bệnh nhân bị tổn thương thần kinh dẫn đến teo cơ lớn cấp tính (tổn thương thần kinh vận động trên và/ hoặc dưới); khả năng phóng thích kali xảỵ ra trong vòng 6 tháng đầu sau khi xuất hiện tổn thương thần kinh cấp và có tương quan với mức độ và vùng liệt cơ. Bệnh nhân bất động trong một thời gian dài có thể gặp nguy cơ tương tự.
Bệnh nhân vốn có tăng kali huyết. Khi không bị tăng kali huyết và không có bệnh lý thần kinh, không chống chỉ định sử dụng một liều duy nhất thường dùng trong trường hợp suy thận, nhưng không nên sử dụng nhiều liều hoặc liều lượng lớn vì có thể gây ra tăng kali huyết đáng kể về mặt lâm sàng.
Suxamethonium gây tăng nhãn áp thoáng qua đáng kể, do đó không nên sử dụng ở người bệnh bị glôcôm mất bù, chấn thương mắt hở hoặc khi có tăng nhãn áp trừ khi cân nhắc lợi ích của việc sử dụng vượt trội nguy cơ tiềm ẩn đối với mắt.
Tránh dùng thuốc ở bệnh nhân có tiền sử cá nhân hoặc gia đình bị rối loạn trương lực cơ bẩm sinh như loạn lực cơ bẩm sinh và loạn dưỡng cứng cơ vì việc dùng thuốc đôi khi có thể gây co cơ và cứng cơ nặng.
Không được dùng thuốc ở bệnh cơ xương ví dụ bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne vì có thể gây sốt cao ác tính, rối loạn nhịp thất và ngừng tim và tiêu cơ vân cấp thứ phát kèm tăng kali huyết.
Không được dùng thuốc ở bệnh nhân phình động mạch nội sọ, tăng huyết áp nội sọ nặng, nhịp tim chậm nghiêm trọng, gãy cột sống do đè ép, chấn thương cột sống và trượt đốt sống, liệt hai chi dưới, mất nước kèm mất cân bằng điện giải và suy chức năng phổi.
4.4 Thận trọng:
Suxamethonium chỉ được sử dụng dưới sự giám sát chặt chẽ của một bác sĩ gây mê quen thuộc với tác động, tính chất và mối nguy hại của thuốc, người có kinh nghiệm trong xử trí hô hấp nhân tạo và chỉ ở nơi có sẵn đầy đủ phương tiện hồi sức ngừng thở cho việc đặt nội khí quản ngay tập tức cùng với sử dụng oxy bằng thông khí nhân tạo với áp lực dương ngắt quãng.
Đã có báo cáo tỷ lệ cao mẫn cảm chéo (lớn hơn 50%) giữa các thuốc chẹn thần kinh cơ. Do đó trước khi sử dụng suxamethonium, phải loại trừ các trường hợp quá mẫn với các tác nhân chẹn thần kinh cơ khác. Chỉ nên dùng suxamethonium khi hết sức cần thiết ở những bệnh nhân nhạy cảm. Nên tiến hành xét nghiệm dị ứng với thuốc chẹn thần kinh cơ khác ở bệnh nhân đã từng bị phản ứng quá mẫn khi gây mê toàn thân.
Không được trộn lẫn suxamethonium trong cùng một bơm tiêm với bất kỳ thuốc nào khác, đặc biệt thiopental.
Khuyến cáo theo dòi bệnh nhân đầy đủ bằng một máy kích thích thần kinh ngoại vi trong khi truyền tĩnh mạch liên tục để tránh quá liều. Suxamethonium được thủy phân nhanh chóng bởi cholinesterase trong huyết tương làm hạn chế mức độ và khoảng thời gian chẹn thần kinh cơ.
Thời gian tác dụng của suxamethonium kéo dài ở người bệnh có hoạt tính cholinesterase trong huyết tương thấp. Khoảng 0,05% dân số có hoạt tính cholinesterase thấp do di truyền. Sau khi dùng thuốc có thể xảy ra tác động thứ phát chẹn thần kinh cơ kéo dài và mạnh ở bệnh nhân có nồng độ cholinesterase huyết tương giảm trong các trường hợp hoặc tình trạng bệnh lý sau: biến đổi sinh lý trong thời kỳ mang thai và một vài ngày sau đẻ; người bị rối loạn di truyền cholinesterase huyết tương; uốn ván tổng quát nặng, bệnh lao, nhiễm khuẩn nặng hoặc mạn tính khác sau bỏng nặng; suy nhược mạn tính, bệnh ác tính, thiếu máu mạn tính và suy dinh dưỡng; suy gan giai đoạn cuối, suy thận cấp tính hoặc mạn tính; các bệnh tự miễn: phù niêm, bệnh collagen; do điều trị: sau thay huyết tương, trích huyết tương, dùng máy tim phổi nhân tạo, và do kết quả của việc điều trị thuốc đồng thời.
Nếu dùng kéo dài, tác động chẹn thần kinh cơ khử cực đặc trưng (hoặc giai đoạn I) có thể thay đổi thành chẹn thần kinh cơ không khử cực (hoặc giai đoạn II). Mặc dù các đặc điểm của chẹn giai đoạn II phát triển giống như tác động chọn không khử cực thật, tác động chẹn thần kinh cơ giai đoạn II này có thể không phải luôn luôn đầy đủ hoặc được đảo ngược bởi các thuốc kháng cholinesterase đối kháng. Khi giai đoạn chẹn II được thiết lập đầy đủ, tác động của thuốc sau đó thường có thể đảo ngược hoàn toàn với liều chuẩn neostigmin kèm theo một chất kháng cholinergic.
Tiêm làm nhiều lần có thể gây giảm nhanh tác động của thuốc.
Đau cơ thường gặp sau khi dùng suxamethonium và thường xảy ra khi đi lại ở những người bệnh vừa trải qua thủ thuật ngắn có gây mê toàn thân. Dường như không có mối liên hệ trực tiếp giữa mức độ giật bó cơ có thể nhìn thấy và tỷ lệ hoặc tinh trầm trọng của cơn đau. Người ta khuyến cáo nên dùng các liều nhỏ thuốc giãn cơ không khử cực vài phút trước khi sử dụng suxamethonium để làm giảm tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của đau cơ do suxamethonium. Kỹ thuật này có thể đòi hỏi việc sử dụng liều suxamethonium vượt quá 1 mg/kg để tạo thuận lợi cho việc đặt nội khí quản.
Cần thận trọng khi sử dụng suxamethonium ở trẻ em, vì bệnh nhi có nhiều khả năng bị một bệnh cơ chưa được chẩn đoán hoặc tố bẩm tăng thân nhiệt ác tính chưa biết và tiêu cơ vân, do đó có nguy cơ cao gặp các tác dụng phụ nghiêm trọng sau khi dùng, ở những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn nặng, khả năng tăng kali huyết dường như có liên quan đến mức độ nghiêm trọng và khoảng thời gian nhiễm.
Không dùng suxamethonium ở bệnh nhân bị nhược cơ tiến triển. Mặc dù những bệnh nhân này có thể không bị ảnh hưởng bởi suxamethonium, họ vẫn có thể phát triển giai đoạn chẹn II dẫn đến phục hồi chậm. Bệnh nhân bị hội chứng nhược cơ Eaton-Lambert nhạy cảm hơn bình thường với suxamethonium nên cần phải giảm liều thuốc, ở người lớn khỏe mạnh, suxamethonium đôi khi gây chậm nhịp tim thoảng qua lúc đầu. Nhịp tim chậm thường gặp hơn ở trẻ em và khi dùng thuốc nhắc lại ở cả trẻ em và người lớn. Dùng trước atropin tiêm tĩnh mạch hoặc glycopyrrolat làm giảm đáng kể tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng chậm nhịp tim liên quan đến suxamethonium.
Hiếm gặp loạn nhịp thất sau khi tiêm suxamethonium khi không bị tăng kali huyết từ trước hoặc có nguy cơ tăng kali. Tuy nhiên, bệnh nhân đang dùng thuốc giống digitalis dễ bị loạn nhịp thất hơn. Tác động của suxamethonium trên tim có thể gây ra những thay đổi về nhịp tim kể cả ngừng tim.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Suxamethonium luôn luôn được sử dụng kết hợp với gây mê toàn thân và do đó thường cần phải thận trọng khi lái xe hoặc vận hành máy sau khi gây mê tổng quát.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: A
US FDA pregnancy category: NA
Thời kỳ mang thai:
Chưa có nghiên cứu về tác dụng của suxamethonium trên thai kỳ. Suxamethonium không tác động trực tiếp trên tử cung hay các cấu trúc cơ trơn khác, ở liều điều trị thông thường thuốc không vượt qua hàng rào nhau thai với số lượng đủ để ảnh hưởng đến hô hấp của trẻ sơ sinh.
Cần xem xét dùng suxamethonium cho phụ nữ mang thai chỉ khi thật cần thiết.
Nồng độ cholinesterase huyết tương giảm trong ba tháng đầu thai kỳ khoảng 70 đến 80% giá trị trước khi mang thai; giảm thêm khoảng 60- 70% mức trước khi mang thai trong vòng 2 đến 4 ngày sau khi đẻ. Nồng độ cholinesterase sau đó tăng lên đạt mức bình thường trong 6 tuần tiếp theo. Do đó, một tỷ lệ cao của bệnh nhân mang thai và hậu sản có thể cho thấy kéo dài tác dụng giản cơ không đáng kể sau khi tiêm.
Khả năng sinh sản: Chưa có nghiên cứu về tác dụng của suxamethonium trên khả năng sinh sản của phụ nữ.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa biết thuốc có tiết vào sữa mẹ hay không, cần thận trọng khi sử dụng cho phụ nữ trong thời kỳ cho con bú.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Tác dụng phụ được liệt kê dưới đây theo hệ thống cơ quan và tần suất gặp phải. Tần suất ước tính được xác định từ dữ liệu công bố như sau: Rất thường gặp (> 1/10); thường gặp (> 1/100 đến <1/10); ít gặp (> 1/1.000 đến <1/100); hiếm gặp (>1/10.000 đến <1/1.000); rất hiếm gặp (<1 /10.000); chưa rõ (không thể ước tính từ dữ liệu có sẵn).
Đang nghiên cứu
Thường gặp: Tăng kali huyết thoáng qua.
Rối loạn tim
Thường gặp: Nhịp tim chậm, nhịp nhanh.
Hiếm gặp: Loạn nhịp tim (kể cả rối loạn nhịp tâm thất), ngừng tim.
Đã có báo cáo ngừng tim do tăng kali huyết sau khi tiêm suxamethonium cho bệnh nhân bại não bẩm sinh, uốn ván, loạn dưỡng cơ Duchenne, và chấn thương đầu kín. Những biến cố này hiếm gặp ở trẻ em bị rối loạn cơ chưa được chẩn đoán.
Rối loạn mắt
Thường gặp: Tăng nhãn áp.
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thầt
Hiếm gặp: Co thắt phế quản, suy hô hấp kéo dài. ngừng thở
Rối loạn tiêu hóa
Rất thường gặp: Tăng áp lực dạ dày, tăng tiết nước bọt.
Rối loạn da và các mô dưới da
Thường gặp: Phát ban.
Chưa rõ: Viêm da tiếp xúc toàn thân.
Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết
Rất thường gặp: Giật bó cơ, đau cơ hậu phẫu.
Thường gặp: Myoglobin huyết, myoglobin niệu (cũng có báo cáo tiêu cơ vân)
Hiếm gặp: Cứng hàm.
Rối loạn mạch máu
Thường gặp: Đỏ bừng da, tăng hoặc giảm huyết áp.
Rối loạn hệ thống miễn dịch
Rất hiếm gặp: Phản ứng phản vệ.
Toàn thân và tại nơi tiêm
Rất hiếm gặp: Cơn sốt cao ác tính.
Rối loạn hệ thần kinh
Chưa rõ: Tăng áp lực nội sọ.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Nói chung, ở người lớn, tiêm một lần < 30 mg suxamethonium clorid hoặc truyền tĩnh mạch 2,5 mg/phút gây ngừng thở thoảng qua, nhưng không gây liệt hô hấp hoàn toàn hoặc kéo dài. Hô hấp thường tự hồi phục sau vài giây hoặc tối đa sau 4 phút. Nếu hô hấp không tự hồi phục nhanh, cần hô hấp hỗ trợ có kiểm soát bằng oxygen. Truyền máu tươi toàn phần, hoặc huyết tương đông lạnh hoặc các nguồn cholinesterase khác, giúp phân hủy suxamethonium. Cần tránh tăng thông khí phổi vì sẽ gây ngừng thở kéo dài.
Tác dụng kiểu muscarin của suxamethonium như làm chậm nhịp tim, tăng tiết nước bọt, có thể ngăn chặn bằng cách dùng chất đối kháng muscarin như atropin trước khi dùng suxamethonium. Một liều nhỏ của một chất giãn cơ có cạnh tranh (với acetylcholin) đã được dùng trước khi tiêm suxamethonium để giảm một vài tác dụng có hại của suxamethonium nhưng kết quả hạn chế. Phản ứng quá mẫn nặng cần được điều trị nhanh chóng bằng các biện pháp hỗ trợ và điều trị triệu chứng.
Nếu có sốt cao ác tính thì cần ngừng dùng tất cả các thuốc gây mê và tiến hành hạ nhiệt nhanh. Hô hấp bằng máy và các biện pháp hỗ trợ khác là cần thiết. Toan chuyển hóa cần phải được điều trị bằng cách tiêm tĩnh mạch nhanh dantrolen natri.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Một số thuốc hoặc hóa chất được biết làm giảm hoạt tính thông thường của cholinesterase trong huyết tương và do dó có thể kéo dài tác động chẹn thần kinh cơ của suxamethonium bao gồm:
thuốc trừ sâu phospho hữu cơ và metriphonat;
thuốc nhỏ mắt ecoihiopat;
trimethaphan;
thuốc kháng cholinesterase: neostigmin, pyridostigmin,
Physostigmin, edrophonium; tacrin hydroclorid;
các hợp chất gây độc tế bào: cyclophosphamid, meclorethamin, triethylen-melamin, và thiotepal
thuốc tâm thần: phenelzin, promazin và clorpromazin;
thuốc gây mê: ketamin, morphin và chất đối kháng morphin, pethidln, pancuronium, propanidid.
Các thuốc khác như aprotinin, diphenhydramin, Promethazin, oestrogen, oxytocin, steroid liều cao, thuốc tránh thai uống, terbutalin và metoclopramid làm giảm nồng độ cholinesterase và có thể tăng cường tác dụng của suxamethonium.
Một số thuốc hoặc các chất có thể làm tăng hoặc kéo dài tác dụng thần kinh cơ của suxamethonium bởi các cơ chế không liên quan đến hoạt tính cholinesterase trong huyết tương bao gồm: muối magiê; lithium Carbonat; azathioprin; quinin và cloroquin; các thuốc kháng khuẩn như aminoglycosid, clindamycin và polymyxin; thuốc chống loạn nhịp: quinidin, procainamid, verapamil, thuốc chẹn beta, lidocain và procain; thuốc gây mê dường hô hấp: halothan, enfluran, desflurane, isofluran, diethyl ether và methoxyfluran có ít ảnh hưởng đến giai đoạn chẹn I nhưng sẽ đẩy nhanh sự xuất hiện và tăng cường mức độ của giai đoạn chẹn II.
Bệnh nhân dùng thuốc giống digitalis nhạy cảm hơn với tác động tăng kali huyết trầm trọng do suxamethonium.
Nồng độ cholinesterase trong huyết tương có thể bị ảnh hưởng bởi chứng loãng máu, suy dinh dưỡng, thiếu máu, ung thư và bỏng.
4.9 Quá liều và xử trí:
Ngừng thở và liệt cơ kéo dài là những tác động nghiêm trọng chủ yếu khi quá liều. Do đó điều thiết yếu là duy trí hô hấp đầy đủ và làm hô hấp nhân tạo hoặc cho thở máy cho đến khi bảo đảm phục hồi hô hấp bình thường.
Quyết định sử dụng neostigmin để đảo ngược giai đoạn chạn II do suxamethonium phụ thuộc vào đánh giá của bác sĩ trong từng trường hợp. Những thông tin quan trọng từ việc theo dõi chức năng thần kinh cơ sẽ giúp bác sỹ đưa ra quyết định. Nếu sử dụng neostigmin phải kèm theo liều thích hợp của một tác nhân kháng cholinergic như atropin.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Nhóm dược trị liệu: Giãn cơ, giãn cơ tác động ngoại biên, dẫn xuất cholin
Mã ATC: M03AB01
Suxamethonium là thuốc giãn cơ khử cực, thời gian tác dụng ngắn. Suxamethonium chiếm chỗ acetylcholin ở các thụ thể cholinergic tại bản vận động và ngăn chặn sự dẫn truyền thần kinh cơ bằng cách khử cực. Trạng thái khử cực cũng được duy tri trực tiếp bằng cách ngản chặn tiến trình tái phân cực, vì vậy acetylcholin phóng thích liên tục không gắn kết vào bản vận động đã khử cực và vẫn bị bất hoạt.
Cơ chế tác dụng:
Suxamethonium là thuốc chẹn thần kinh – cơ khử cực được sử dụng để làm giãn cơ. Các thuốc chẹn thần kinh – cơ khử cực cạnh tranh với acetylcholin ở thụ thể cholinergic tại bản vận động và cũng như acetylcholin, chúng gắn vào các thụ thể đó gây nên khử cực. Tuy nhiên, do ái lực cao với thụ thể cholinergic và tính kháng acetylcholinesterase, thuốc gây khử cực kéo dài hơn acetylcholin.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Cho đến nay tính chất của suxamethonium được biết còn hạn chế, đặc biệt vì thuốc chuyển hóa vô cùng nhanh chóng, ở người bình thường suxamethonium được chuyển hóa nhanh và mức độ lớn bởi cholinesterase trong huyết tương, chủ yếu thành monosuccinylcholin, có tác dụng giãn cơ nhẹ, sau đó monosuccinylcholin được tách ra thành acid sucinic và chọlin riêng biệt ở thận. 80% chất có hoạt tính bị thủy phân trước khi đến vùng tiếp hợp thần kinh. Khoảng 10% suxamethonium bài tiết ở dạng không đổi trong nước tiểu. Tác dụng giãn cơ thường xuất hiện trong vòng 60 giây. Hiệu quả sẽ giảm trong 3-6 phút.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược. Không có
6.2. Tương kỵ :
Trong môi trường kiềm suxamethonium nhanh chóng bị thủy phân và có thể kết tủa, do đó không được trộn lẫn thuốc với các dung dịch barbiturat tác dụng ngắn (như thiopental) hoặc trong các dung dịch kiềm như Ringer-lactat và dung dịch Hartmann..
6.3. Bảo quản:
Bảo quản ở nơi khô, nhiệt độ không quá 30°c trong bao bì gốc để tránh ánh sáng.
Sau khi mở nắp: Thuốc phải được dùng ngay sau khi mở nắp.
Sau khi pha loãng: Dung dịch ổn định về mặt hóa lý trong 24 giờ ở 2-8 độ C. Phải kiểm tra bằng mắt dung dịch thuốc trước khi tiêm. Không được sử dụng nếu có vật lạ hoặc thay đổi màu sắc.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM