Oxcarbazepine – Kusapin

Thuốc Kusapin là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Kusapin (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Oxcarbazepine

Phân loại: Thuốc chống co giật, chống động kinh

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N03AF02.

Biệt dược gốc: Trileptal

Biệt dược: Kusapin

Hãng sản xuất : Kusum Healthcare Pvt. Ltd.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén: 300 mg.

Thuốc tham khảo:

KUSAPIN
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Oxcarbazepine …………………………. 300 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Kusapin được chỉ định trong việc điều trị các cơn động kinh cục bộ có hoặc không có động kinh co cứng – giật rung toàn thể thứ phát.

Kusapin được chỉ định trong đơn trị liệu hoặc đa trị liệu cho người lớn và trẻ em > 6 tuổi.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Kusapin có thể dùng cùng hoặc không cùng với thức ăn.

Liều dùng:

Oxcarbazepin thích hợp cho việc dùng đơn trị hay khi phối hợp với các thuốc chống động kinh khác. Trong đơn trị cũng như đa trị, điều trị với Oxcarbazepine được bắt đầu dần dần với một liều có hiệu quả trên lâm sàng chia làm 2 lần. Liều có thể tăng phụ thuộc vào đáp ứng lâm sàng cho bệnh nhân. Khi Kusapin thay thế cho các thuốc chống động kinh khác, liều các thuốc chống động kinh sử dụng kết hợp nên giảm từ từ trong thời gian khởi đầu điều trị với Kusapin. Trong đa trị liệu, bởi vì tổng số thuốc chống động kinh cho bệnh nhân tăng lên và liều của các thuốc chống động kinh dùng kết hợp có thể cần phải giảm và/hoặc liều của Kusapin tăng chậm hơn.

Kusapin có thể dùng cùng hoặc không cùng với thức ăn.

Liều đề nghị sau được đưa cho những bệnh nhân; khi không bị suy thận. Kiểm soát nồng độ thuốc trong huyết thanh là không cần thiết để tối ưu hóa liệu pháp Kusapin.

Người lớn:

Đơn và đa trị liệu: Kusapin nên khởi đầu với liều 600mg/ ngày (8-10mg/kg/ngày) chia làm 2 lần.

Nếu được chỉ định trên lâm sàng, liều có thể tăng tối đa là 600mg/ngày theo khoảng thời gian hàng tuần từ liều khởi đầu dùng thuốc đến khi đạt được đáp ứng lâm sàng. Hiệu quả điều trị được quan sát ở những liều trong khoảng giữa 600mg/ngày và 2400 mg/ngày.

Liều dùng hàng ngày từ 600 đến 2400mg/ngày đã được thấy là có hiệu quả trên ca lâm sàng đa trị liệu có kiểm soát, mặc dù hầu hết các bệnh nhân không thể dung nạp liều 2400mg/ngày mà không có sự giảm các thuốc chống động kinh điều trị đồng thời, chủ yếu do tác dụng phụ có liên quan đến hệ thần kinh trung ương. Liều hàng ngày trên 2400mg/ngày chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống trên các ca lâm sàng.

Người già

Điều chỉnh liều được khuyến cáo ở người lớn tuổi có suy chức năng thận.

Trẻ em

Trong đơn hay đa trị liệu: Kusapin nên được khởi đầu với liều 8-10mg/kg/ngày được chia 2 lần.

Trong đa trị liệu, hiệu quả điều trị được thấy ở liều điều trị duy trì trung bình khoảng 30mg/kg/ngày. Nếu được chỉ định lâm sàng, liều có thể tăng thêm một lượng tối đa là 10mg/kg/ngày theo các khoảng cách hàng tuần kể từ liều khởi đầu đến liều tối đa 46mg/kg/ngày, để đạt được đáp ứng lâm sàng mong muốn.

Khi không thể đạt được một liều chính xác (mg/kg) với các dạng viên nén có sẵn cho trẻ em và nhất thiết phải điều trị với Kusapin, nên quyết định dùng liều ước lượng theo từng trường hợp.

Kusapin được khuyến cáo sử dụng cho trẻ > 6 tuổi. Tính an toàn và hiệu quả đã được đánh giá trên các ca lâm sàng có kiểm soát liên quan đến khoảng 230 trẻ em< 6 tuổi. Tuy nhiên, Kusapin không được khuyến cáo cho những trẻ em < 6 tuổi bởi vì tính an toàn và hiệu quả vẫn chưa được thiết lập đầy đủ.

Tất cả liều được để nghị ở trên (người lớn, người già và trẻ em) được dựa trên liều nghiên cứu trên các ca lâm sàng ở tất cả các nhóm tuổi. Tuy nhiên, liều khởi đầu thấp có thể được xem xét khi thích hợp.

Bệnh nhân suy gan

Không đòi hỏi phải điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy gan từ nhẹ đến trung bình. Kusapin chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân suy gan nặng: bởi vậy, phải thận trong khi đưa liều cho bệnh nhân suy gan nặng.

Bệnh nhân suy thận

O bệnh nhân suy thận (Độ thanh thải creatinin < 30ml/ phút), Kusapin nên khởi đầu với 1⁄2 liều khởi đầu thông thường (300mg/ngày) và tăng dân ít nhất trong khoảng thời gian mỗi tuần, để đạt được đáp ứng lâm sàng mong muốn.

Cần phải theo đối chặt chẽ khi tăng từ từ liều cho bệnh nhân suy thận.

4.3. Chống chỉ định:

Quá mẫn cảm với hoạt chât hoặc bât kỳ các tá dược nào của thuôc

4.4 Thận trọng:

Quá mẫn cảm: Phản ứng quá mẫn (tức thì) nhóm I bao gồm phát ban, ngứa, mày đay, phù mạch và báo cáo quá mẫn đã nhận được trong giai đoạn nghiên cứu hồi cứu. Các trường hợp quá mẫn và phù mạch liên quan đến thanh quản, thanh môn, môi và mí mắt đã được báo cáo ở các bệnh nhân dùng liều đầu tiên và liều tiếp theo của Kusapin. Nếu bệnh nhân có phản ứng dị ứng sau khi điều trị với Kusapin, thuốc nên được ngưng và điều trị thay thế. Bệnh nhân có phản ứng quá mẫn đối với carbamazepine được thông báo có khoảng 25-30% những bệnh nhân này có thể có phản ứng quá mẫn (như phản ứng da nặng) với Kusapin. Phản ứng quá mẫn, bao gồm phản ứng quá mẫn xảy ra trên nhiều bộ phận cũng có thể xãy ra trên những bệnh nhân có tiền sử mẫn cảm với Carbamazepine. Phản ứng như vậy có thể ảnh hưởng đến da, gan, máu và hệ thống bạch huyết hoặc các tổ chức khác, hoặc theo từng cá thể hoặc kết hợp trong các trường hợp dị ứng hệ thống. Nói chung, nếu có dấu hiệu và triệu chứng gợi ý về sự quá mẫn xảy ra, nên ngừng Kusapin ngay lập tức.

Tác dụng trên da: phản ứng quá mẫn trên da nặng, bao gồm hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bì do nhiễm độc (hội chứng Luella) và ban đa dạng, đã được báo cáo hiếm khi xảy ra khi kết hợp với việc sử dụng Kusapin. Bệnh nhân có dị ứng da nặng phải được nhập viện, bởi vì những trường hợp này có thể đe dọa tính mạng và rất hiếm khi dẫn đến tử vong. Kusapin liên quan đến những trường hợp xảy ra trên cả trẻ em và người lớn. Thời gian trung bình cho sự bộc phát các triệu chứng là 19 ngày. Một vải trường hợp cá biệt có tái phát phản ứng dị ứng da trầm trọng khi dùng thử lại với Kusapin đã được báo cáo. Bệnh nhân phát triển dị ứng da với Kusapin cần phải được đánh giá ngay và phải ngưng ngay lập tức Kusapin trừ khi ban đỏ xảy ra liên quan đến thuốc không rõ ràng. Trong trường hợp ngưng điều trị, xem xét thay thế Kusapin bằng các thuốc chống động kinh khác để tránh cơn co giật rút, Kusapin không nên tái sử dụng ở những bệnh ce ngưng điều trị do phản ứng quá mẫn xảy ra.

Giảm natri huyết: nồng độ natri huyết thanh dưới 125mmol/1, thông thường không có triệu chứng bệnh và không đòi hỏi phải điều chỉnh liều điều trị đã được quan sát ở 2,7% bệnh nhân điều trị với Kusapin. Kinh nghiệm điều trị lâm sàng cho thấy nồng độ natri huyết thanh trở về bình thường khi giảm liều Kusapin, ngưng hoặc bệnh nhân được điều trị một cách dè dặt (như hạn chế bổ sung dịch). Bệnh nhân đã bị suy thận từ trướckết hợp với nồng độ natrI thấp hoặc ở những bệnh nhân điều trị kết hợp với các thuốc làm giảm nồng độ natri (như thuốc lợi tiểu, desmopressin) cũng như các thuốc NSAID (như Indometacin), cần phải đo nồng độ natri huyết thanh trước khi bắt đầu điều trị. Sau đó, khoảng 2 tuần sau khi điều trị và hàng tháng trong 3 tháng điều trị đầu tiên sau đó, hoặc theo nhu cầu điễu trị, nồng độ natri huyết thanh phải được đo. Những yếu tổ nguy cơ này có thể đặc biệt xảy ra trên bệnh nhân lớn tuổi. Đối với những bệnh nhân điều trị với Kusapin khi bắt đầu điều trị với các thuốc làm giảm natri huyết, phương pháp tương tự đề kiểm soát natri phải được theo dõi chặt chẽ. Nói chung, nếu có triệu chứng lâm sàng gợi ý về sự giảm natri huyết xảy ra trong việc điều trị với Kusapin, phải cân nhắc việc đo natri huyết. Các bệnh nhân khác có thể đánh giá natri huyết giống như một phần của các xét nghiệm thông thường. Tất cả các bệnh nhân có suy tim và đau tim thứ phát được đo cân nặng thường xuyên để xác định sự giữ nước. Trong trường hợp giữ nước hoặc tình trạng tim trở lên xấu đi, phải kiểm tra natri huyết. Nếu có giảm natri huyết, hạn chế nước đưa vào là một biện pháp làm giảm nước rất quan trọng. Bởi vì oxcarbazepin có thể, rất hiếm khi, dẫn tới suy giảm sự dẫn truyền của tim, bệnh nhân rối loạn sự dẫn truyền trước đó (như nghẽn nhĩ thất, loạn nhịp tim) phải được theo dõi cần thận.

Chức năng gan: Rất hiếm các trường hợp viêm gan được báo cáo, mà trong hầu hết các trường hợp đều hết bệnh. Khi bị nghi ngờ bệnh về gan, phải đánh giá chức năng gan và xem xét ngưng dùng Kusapin.

Tác dụng trên máu: rất hiếm các trường hợp bị mất bạch cầu hạt, thiếu máu không tái tạo và thiếu máu toàn phần đã được thấy ở các bệnh nhân điều trị với Kusapin trong khi dùng thuốc. Xem xét ngưng dùng thuốc nếu có bằng chứng về sự suy tủy xương đang phát triển.

Hành vi tự sát:

Y nghĩ và hành vi tự sát đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị bằng các thuốc chống động kinh trong một vài trường hợp. Một nghiên cứu tổng thể của ca có kiểm soát so với nhóm chứng ngẫu nhiên dùng thuốc chống động kinh cũng đã cho thấy làm tăng nhẹ nguy cơ của ý nghĩ và hành vi tự sát. Cơ chế của những nguy cơ này vẫn chưa được biết. Số liệu có sẵn không loại trừ khả năng sự tăng nguy cơ này xảy ra đối với Oxcarbazepine.

Bởi vậy bệnh nhân nên được kiểm soát dấu hiệu của hành vi và ý nghĩa tự tử và xem xét việc điều trị thích hợp. Bệnh nhân (và người chăm sóc bệnh nhân) được khuyên tư vấn bác sĩ về sự phát triển dấu hiệu của ý nghĩ hoặc hành vi tự tử phát triển.

Thuốc hormone chống thụ thai: bệnh nhân nữ ở tuổi mang thai nên được cảnh báo về việc sử dụng đồng thời Kusapin cùng với các thuốc hormone chống thụ thai làm mất tác dụng chống thụ thai của thuốc. Khi điều trị với Kusapin, khuyến cáo nên sử dụng các thuốc chống thụ thai không bổ sung hormone.

Rượu: Phải thận trọng khi sử dụng rượu cùng với Kusapin do tác dụng gây ngủ cộng dồn có thể Xây ra.

Ngưng dùng: Cũng như các thuốc chống động kinh khác, Kusapin nên ngưng từ từ để làm giảm thiểu nguy cơ làm tăng tần suất động kinh.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Sử dụng Kusapin liên quan đến tác dụng không mong muốn như chóng mặt, ngủ gà ngủ gật. Bởi vậy, bệnh nhân phải được khuyên rằng năng lực về thể chất và tâm thần cho việc vận hành máy móc hoặc lái xe có thể bị suy giảm.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Nguy cơ liên quan đến chứng động kinh và các thuốc chống động kinh nói chung:

Người ta thấy rằng con của phụ nữ mắc chứng động kinh thường thấy tỉ lệ bị dị tật lớn hơn 2-3 lần so với tỉ lệ của khoảng 3% dân số chung.

Ở người được điều trị, sự tăng về đị tật đã được thấy ở trường hợp đa trị liệu; tuy nhiên, mức độ mà việc điều trị và/hoặc bệnh gây ra vẫn chưa được đánh giá.

Hơn nữa, Việc điều trị với các thuốc chống động kinh hiệu quả là không được ngắt quãng, bởi vậy bệnh sẽ trở lên xấu hơn cho cả bào thai và người mẹ.

Nguy cơ liên quan đến Oxcarbqzepine:

Dữ liệu lâm sàng về thông số động học trong thời gian mang thai vẫn chưa đầy đủ để đánh giá nguy cơ gây quái thai của Oxcarbazepine. Trên nghiên cứu động vật, tỉ lệ chết ở bào thai tăng, làm chậm sự phát triển và quái thai được quan sát ở mức độ liều gây độc cho mẹ.

Xem xét những dữ liệu này:

Nếu phụ nữ dùng Kusapin mang thai hoặc lên kế hoạch mang thai, cần phải đánh giá lại cần thận việc sử dụng thuốc này. Nên đưa liều có hiệu quả tối thiêu và điều trị đơn độc bất cứ lúc nào phải được ưu tiên ít nhất trong 3 tháng đầu thời kỳ mang thai.

Bệnh nhân nên được tư vấn về khả năng của nguy cơ tăng dị tật và tạo cơ hội cho tầm soát tiền sản.

Trong thời gian mang thai, việc điều trị Oxcarbazepine chống động kinh có hiệu quả không được ngưng tạm thời, bởi vì sự trầm trọng của bệnh làm nguy hại cho cả người mẹ và thai nhi.

Kiểm soát và phòng bệnh:

Thuốc chống động kinh có thể gây ra sự thiếu acid folic, góp phần vào nguy cơ cho dị tật của thai nhi. Bổ sung acid folic được để nghị trước và trong khi mang thai. Bởi vì hiệu quả của việc bổ sung này vẫn chưa được chứng minh, phải chẩn đoán tiền sản cụ thể thậm chí cả ở những phụ nữ được bổ sung acid folic. Các số liệu từ một số hạn chế phụ nữ chỉ ra rằng nồng độ huyết thanh của chất chuyển hóa có hoạt tính Oxcarbazepine., dẫn chất 10-monohydroxy (MHD), có thể giảm từ từ trong thời gian mang thai.Đáp ứng lâm sàng được đề nghị phải kiểm soát chặt chẽ ở phụ nữ điều trị với Kusapin trong thời gian mang thai để đảm bảo duy trì được sự kiểm soát đối với các cơn tai biến.

Phải xem xét sự thay đổi nồng độ MHD trong huyết thanh. Nếu liều tăng trong thời gian mang thai, nồng độ MHD sau sinh cũng có thể được xem xét cho việc kiểm soát.

Trẻ mới sinh:

Rồi loạn máu ở trẻ mới sinh gây ra bởi các thuốc chống động kinh đã được báo cáo. Do thận trọng, vitamin K1 nên được đưa giống như là một biện pháp phòng bệnh trong vài tuần cuối của phụ nữ mang thai và cho đến khi sinh.

Thời kỳ cho con bú:

Oxcarbazepine và chất chuyển hóa có hoạt tính (MHD) được bài tiết qua sữa mẹ. Tỉ lệ nồng độ thuốc trong sữa và máu là 0,5 được tìm thấy cho cả 2 chất. Tác dụng trên trẻ em phơi nhiễm với Kusapin bởi con đường này vẫn chưa được biết. Bởi vậy, Kusapin không nên sử dụng cho phụ nữ đang cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Các tác dụng không mong muốn chung nhất được báo cáo là buồn ngủ, đau đầu, chóng mặt, chứng nhìn đôi, nôn, buồn nôn và mệt mỏi xảy ra >10% bệnh nhân.

Các tác dụng không mong muốn xảy ra đối với hệ thống cơ thể dya trên các tác dụng không mong muốỗn từ các ca lâm sàng được đánh giá liên quan đến Kusapin. Hơn nữa, những báo cáo có ý nghĩa lâm sàng dựa trên những kinh nghiệm về tác dụng phụ từ các bệnh nhân đã được xác định chỉ rõ và xem xét từ kinh nghiệm trong các nghiên cứu hồi cứu.

Dự đoán về tần suất *: – Rất thường xuyên: 1/10; thường xuyên: 1/100 – < 1/10; Không thường xuyên: 1/1000 – < 1/100; Hiểm: 1/10.000 – <1/1.000; Rất hiếm: <1/10.000; chưa biết: không thế dự đoán từ số liệu sẵn có.

Trong mỗi nhóm tần suất, tác dụng không mong muốn trình bày theo mức độ giảm dần của mức độ trầm trọng

Rối loạn hệ thống máu và bạch huyết
Không thường xuyên Giảm bạch cầu
Rất hiếm Giảm tiểu cầu
Không được biết Suy giảm tủy xương, thiếu máu trầm trọng, mất bạch cầu hạt, thiếu máu toàn bộ, giảm tế bào trung tính
Rối loạn hệ miễn dịch
Rất hiếm Quá mẫn đặc trưng bởi đặc điểm như phát ban, sốt. Các tổ chức khác hoặc hệ thảng khác có thể bị ảnh hường như máu, hệ tế bào bạch huyết, gan, cơ và khớp, hệ thần kỉnh, thận, phổi, phù mạch.
Chưa được biết Phản ứng quá mẫn
Rối loạn chuyển hóa và dinh duỡng
Thường xuyên Giảm natri huyết
Rất hiếm Giảm natri huyết liên quan đến dấu hiệu và triệu chứng như tai biến mạch máu, rối loạn, mức độ tỉnh táo bị giảm sút, bệnh não, roi loạn tầm nhìn, buồn nôn, nôn
Chưa được biết Giảm hoạt động của tuyến giáp
Rối loạn về tâm thần
Thường xuyên Trạng thái rối loạn, trầm cảm, lãnh cảm, bối rối (như căng thẳng)
Hệ thần kinh trung ương
Rất thường xuyên Buồn ngủ, đau đầu, chóng mặt
Thường xuyên Mất điều hòa vận động, rùng mình, chứng giật cầu mắt, rối loạn sự tập trung, hay quên
Rối loạn về mắt
Rất thường xuyên Chứng nhìn đôi
Thường xuyên Nhìn mờ, rối loạn tầm nhìn
Rối loạn tai và tai trong
Thường xuyên Chỏng mặt
Rối loạn tim mạch
Rất hiếm Chứng loạn nhịp tim, nghẽn nhĩ thất
Rối loạn mạch
Chưa được biết Tăng huyết áp
Rối loạn tiêu hóa
Rất thường xuyên Chóng mặt, buồn nôn
Thường xuyên Tiêu chảy, táo bón, đau bụng
Rất hiếm Viêm tụy và/hoặc lipase và hoặc tăng amylase.
Rối loạn gan mật
Thường xuyên Phát ban, sự rụng tóc, trứng cá
Không thường xuyên Mày đay
Rất hiếm Phù mạch, hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bì (hội chứng Lyell), ban đỏ nhiều dạng.
Rối loạn cơ xương khớp, mô liên kết và xương
Rất hiếm Ban đỏ lupus hệ thống
Rối loạn chung và tình trạng tại vị trí dùng thuốc
Rất thường xuyên Mệt mỏi
Thường xuyên Chứng ban đỏ.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Cảm ứng enzim:

Oxcarbazepine và chất chuyển hóa có hoạt tính dược học (dẫn chất monhohydroxy, MHD) là chất cảm ứng yếu trên in vitro và in vivo của các enzyme CYP3A4 và CYP3A5 của cytochrom P450 chịu trách nhiệm chuyển hóa một số lớn các thuốc như các thuốc ức chế miễn dịch (như ciclosporin, tacrolimus), chống thụ thai đường uống (xem dưới đây), và một số các thuốc chống động kinh khác (như carbazepine) kết quả làm giảm nồng độ huyết thanh của các thuốc này (xem bảng dưới đây tổng hợp các tương tác xây ra giữa thuốc và với các thuốc kháng chống động kinh khác).

Trên In vitro, Oxcarbazepine và MHD là chất cảm ứng yếu của UDP-glucuronyl transferase (tác dụng trên các enzyme đặc trưng trong nhóm này vẫn chưa được biết). Do vậy, trên in vivo Oxcarbazepine và MHD có thể có tác dụng thúc đẩy nhỏ đối với chuyển hóa của những thuốc chuyển hoát chủ yếu bởi sự liên kết qua UDP-glucuronyl transferase. Khi khởi đầu với Kusapin hoặc thay đổi liều, có thể mắt 2-3 tuần đề đạt được nồng độ cảm ứng mới.

Trong trường hợp ngưng điều trị với Kusapin, giảm liều dùng kết hợp có thể là cần thiết và nên được quyết định phụ thuốc vào lâm sàng và/hoặc sự kiểm soát nồng độ huyết thanh. Sự giảm liều có lẽ phải làm từ từ trong vòng 2-3 tuần sau khi ngưng thuốc.

Chống thụ thai kiểu hormone.

Kusapin được cho thấy có ảnh hưởng đến 2 thành phần Ethinylestradiol (EE) và levonorgestrel (LNG), của thuốc chống thụ thai đường uống. Giá trị AUC trung bình của EE và LNG giảm khoảng 48- 52% và 32-52% tương ứng. Bởi vậy, sử dụng đống thời Kusapin với thuốc chống thụ thai kiểu hormone có thể làm bất hoạt các thuốc chống thụ thai này. Phải sử dụng các phương pháp chống thụ thai đáng tin cậy khác.

ức chế enzyme.

Oxcarbazepine và MHD ức chế CYP2C19. Bởi vậy, sự tương tác có thể tăng khi sử dụng kết hợp liều cao Kusapin với các thuốc khác mà chủ yếu chuyển hóa bởi CYP2C19 (như phenytoin). Nồng độ Phenytotin tăng lên tới 40% khi Kusapin được đưa ở liều > 1200 mg/ngày (xem bảng dưới đây tổng hợp các tương tác xảy ra giữa thuốc và với các thuốc kháng chống động kinh khác).

Trong những trường hợp này, phải đòi hỏi giảm liều kết hợp của phenytoin.

Các thuốc chống động kinh.

Nguy cơ xảy ra tương tác giữa Kusapin và các thuốc chống động kinh khác được đánh giá trên lâm sàng. Ảnh hưởng của những tương tác này đối với AUC và Cmin được tổng hợp ở bảng dưới đây.

Tổng hợp sự tương tác giữa Kusapin và các thuốc chống động kinh khác.

Thuốc chống động kinh Ảnh hường của Kusapin lên các thuốc chống động kinh Ảnh hưởng của thuốc chống động kinh lên MHD
Sử dụng kết họp Nồng độ Nồng độ
Carbamazepine Giảm 0-22 % Giảm 40%
Clobazam Chưa nghiên cứu Không ảnh hưởng
Felbamate Chưa nghiên cứu Không ảnh hưởng
Lamotrigine Giảm nhẹ * Không ảnh hưởng
Phenobarbitone Tăng 14-15% Giảm 30-31%
Phenytoin Tăng 0-40% Giảm 29-35%
Acid Valproic Không ảnh hưởng Giảm 0-18%

Kết quả ban đầu chỉ ra rằng Oxcarbazepine có thể làm giảm nồng độ Lamotrigine, có thể có ý nghĩa ở trẻ em, nhưng nguy cơ xảy ra tương tác của Oxcarbazepine xuất hiện ở thấp hơn so với quan sát khi dùng cùng với các thuốc cảm ứng enzyme (carbazepine, phenobarbitone, và phenytoin).

Chất cảm ứng mạnh enzyme cytochrome P450 (như carbazepine, phenytoin và phenobarbitone) đã được thấy làm giảm nồng độ huyết thanh của MHD (29-40%) ở người lớn; trẻ em 4-12 tuổi, độ thanh thải MHD tăng khoảng 35% khi đưa 1 trong 3 các thuốc chống động kinh cảm ứng enzyme so với đơn trị liệu. Sử dụng đồng thời Kusapin và Lamotrigine làm cộng hợp nguy cơ tăng tác dụng phụ (nôn, buồn ngủ, chóng mặt và đau đầu). Khi 1 hoặc một vài thuốc chống động kinh được sử dụng đồng thời cùng với Kusapin, điều chỉnh liều cẩn thận và/hoặc kiểm soát nồng độ huyết thanh có thế phải xem xét trong mỗi trường hợp, đặc biệt ở bệnh nhân nhi điều trị kết hợp với Lamotrigine.

Không quan sát thấy sự tự cảm ứng xảy ra với Kusapin.

Tương tác với các thuốc khác

Cimitidine, erythromycin, viloxazine, wayfaring và đextropropoxyphene không ảnh hưởng đến dược động học của MHD.

Tương tác giữa Oxearbazepine và thuốc ức chế MAO là về mặt lí thuyết dựa trên mối liên quan về cấu trúc của Oxcarbazepine với các thuốc chống trầm cảm 3 vòng.

Bệnh nhân được điều trị với thuốc chống trầm cảm 3 vòng đã được xem xét trong các ca lâm sàng và không thấy có tương tác liên quan về lâm sàng nào được quan sát.

Sự kết hợp của Lithium và oxcarbazepine có thể thúc đẩy độc tính đối với thần kinh.

4.9 Quá liều và xử trí:

Trường hợp cá biệt của quá liều đã được báo cáo. Liều tối đa được đưa khoảng 24.000mg. Tất cả các bệnh nhân đều hồi phục với việc điều trị triệu chứng. Triệu chứng quá liều bao gồm buồn ngủ, chóng mặt, nôn, buồn nôn, chứng tăng động, giảm natri huyết, chứng mất điều hòa, chứng giật cầu mắt. Không có thuốc giải độc đặc hiệu. Điều trị hỗ trợ và điều trị triệu chứng nên được chỉ định khi thích hợp. Loại bỏ thuốc khỏi dạ dầy bằng cách rửa dạ dày và/hoặc bất hoạt bằng thai hoạt tính nên được cân nhắc.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Trong những nghiên cứu dược lý trên súc vật, oxcarbazepine và chất chuyển hóa dẫn xuất monohydroxy (MHD) biểu hiện tác dụng chống co giật mạnh và hữu hiệu, cho thấy răng thuốc trị liệu hữu hiệu chủ yếu trên động kinh dạng co cứng cơn lớn hoặc cơn nhỏ.

Mặc dù cơ chế chính xác của tác động của hầu hết các thuốc chống động kinh chưa được hiểu biết một cách chỉ tiết, người ta cho răng các thuốc trong nhóm này tác động bằng cách thay đổi hoạt tính của chất trung gian cơ bản của kích thích thần kinh, cụ thể là kênh ion của điện thế và của dẫn truyền thần kinh trong não. Theo những khám phá gần đây, oxcarbazepine và MHD có thể có tác động chống co giật bằng cách phong bế kênh natri phụ thuộc điện thế trong não.

Ở nồng độ điều trị, cả hai hợp chất làm giới hạn đòng chảy lặp đi lặp lại với tần suất cao kéo dài của hoạt động phụ thuộc natri trên tế bào thần kinh chuột trong mẫu cấy tế bào, tác động này có thể góp phần vào ức chế sự lan truyền hoạt động động kinh từ ổ gây động kinh. Thêm vào đó, bằng chứng từ một nghiên cứu in vitro ở những lát cắt của hồi hải mã chuột cho thấy rằng hoạt động chống động kinh của đồng phân racemic MHD, và cả hai cấu hình của nó cũng được cân bằng bởi kênh kali.

Cơ chế tác dụng:

Trong những nghiên cứu dược lý trên súc vật, oxcarbazepine và chất chuyển hóa dẫn xuất monohydroxy (MHD) biểu hiện tác dụng chống co giật mạnh và hữu hiệu, cho thấy rằng thuốc trị liệu hữu hiệu chủ yếu trên động kinh dạng co cứng cơn lớn hoặc cơn nhỏ. Mặc dù cơ chế chính xác của tác động của hầu hết các thuốc chống động kinh chưa được hiểu biết một cách chi tiết, người ta cho rằng các thuốc trong nhóm này tác động bằng cách thay đổi hoạt tính của chất trung gian cơ bản của kích thích thần kinh, cụ thể là kênh ion của điện thế và của dẫn truyền thần kinh trong não. Theo những khám phá gần đây, oxcarbazepine và MHD có thể có tác động chống co giật bằng cách phong bế kênh natri phụ thuộc điện thế trong não. Ở nồng độ điều trị, cả hai hợp chất làm giới hạn dòng chảy lặp đi lặp lại với tần suất cao kéo dài của hoạt động phụ thuộc natri trên tế bào thần kinh chuột trong mẫu cấy tế bào, tác động này có thể góp phần vào ức chế sự lan truyền hoạt động động kinh từ ổ gây động kinh. Thêm vào đó, bằng chứng từ một nghiên cứu in vitro ở những lát cắt của hồi hải mã chuột cho thấy rằng hoạt động chống động kinh của đồng phân racemic MHD, và cả hai cấu hình của nó cũng được cân bằng bởi kênh kali.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu

Oxcarbazepine được hấp thu nhanh chóng và hoàn toàn qua đường tiêu hóa. Thuốc được khử nhanh chóng và hầu như hoàn toàn thành chất chuyển hóa có hoạt tính dược lý 10, 11-dihydro-10 hydroxy-carbamazepine (dẫn xuất monohydroxy, MHD), chất này đạt đến các nồng độ cao hơn vài lần trong huyết tương so với thuốc dưới dạng không đổi. Khả dụng toàn thân của MHD tăng nhẹ nhưng chỉ có ý nghĩa khi oxcarbazepine được dùng chung với thức ăn.

Phân bố

Chỉ một phần rất nhỏ (40%) chất chuyển hóa có hoạt tính MHD gắn với protein huyết thanh, chủ yếu với albumin. Thể tích phân phối là 0,7-0,8 1⁄kg (MHD).

Do bị khử nhanh chóng, nồng độ trong huyết thanh của oxcarbazepine có thể được bỏ qua và chủ yếu xét đến chất chuyển hóa MHD. Dùng các liều duy nhất 150 đến 600 mg oxcarbazepine, diện tích dưới đường cong nồng độ trung bình trong huyết tương của MHD có tương quan tuyến tính với liều lượng: nồng độ tối đa trung bình trong huyết tương sau các liều 300 và 600 mg ở dạng viên nén tương ứng là 13,9 và 23,6 mmol/l. Nồng độ tối đa trong huyết tương đạt được trong vòng 4 giờ

Chuyển hóa

Oxcarbazepine được chuyển hóa rộng rãi ở người, dưới 1% liều dùng được đảo thải trong nước tiểu dưới dạng không đổi. Thuốc bị khử nhanh chóng thành MHD có hoạt tính dược lý như là chất chuyển hóa chủ yếu. Các chất chuyển hóa phụ là các chất liên hợp glucuronic và sulfate trực tiếp của oxcarbazepine và chất chuyển hóa 10, 11-dihydro-10, 11-dihydroxy

Thải trừ

Thời gian bán hủy đào thải của MHD trong huyết tương người trung bình là 9 giờ, sau khi dùng các liều duy nhất oxcarbazepine ; thanh thải toàn phần trong huyết tương là 3,6 l/giờ. Khi uống nhiều liều liên tiếp oxcarbazepine, dược động của thuốc dạng nguyên vẹn và chất chuyển hóa có hoạt tính của nó không thay đổi, cho thấy không có tích tụ thuốc. Oxcarbazepine được đào thải hoàn toản ; hơn 95% liều dùng, chủ yếu dưới dạng các chất chuyển hóa, xuất hiện trong nước tiểu trong vòng 10 ngày. Các dạng tự do và liên hợp của MHD chiếm 60% lượng được đào thải qua thận và phần chất chuyển hóa liên hợp phụ chiếm khoảng 5-15% cho mỗi chất

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản nơi khô ráo, dưới 30°C

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM