Thông tin cơ bản về dược liệu, vị thuốc Ngải cứu
Dưới đây là nội dung cơ bản về dược liệu, vị thuốc Ngải cứu (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên dược liệu/vị thuốc:
Tên thường gọi: Ngải cứu.
Tên dân gian, tên khác: Thuốc cứu, Ngải diệp, Nhả ngải (Tày), cỏ Linh ly (Thái), Quá sú (H’Mông), Ngỏi (Dao), Mugwort (Anh), Ai Ye (Trung) …
Tên khoa học vị thuốc: Herba Artemisiae vulgaris
Tên khoa học của nguồn gốc chế biến ra vị thuốc: Artemisia vulgaris L. , Artemisia argyi Levl.et Vant
Họ: Họ Cúc, còn gọi là họ Hướng dương, họ Cúc tây (Asteraceae)
Phân nhóm: Nhóm thuốc chỉ huyết.
Nhóm pháp lý, nguồn gốc: Dược liệu trong nước (Nam).
Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất thu hái khi cây có hoa, dùng tươi hay phơi khô trong râm. Nếu tán nhỏ rồi rây lấy phần lông trắng thì được ngải nhung.
2. Mô tả – Thành phần hóa học – Dạng bào chế:
2.1. Mô tả dược liệu/vị thuốc:
Ngãi cứu hay ngải diệp là lá phơi hay sấy khô của cây Ngãi cứu (Artemisia Vulgaris L) cũng thường dùng cả loài Artemisia argyi Levl.et Vant thuộc họ Cúc (Asteraceae).
Ngọn thân dài không quá 30 cm, có khía dọc, màu vàng nâu hay nâu xám, có lông tơ. Lá mọc so le, có cuống hoặc không, thường nhăn nheo, cuộn vào nhau. Lá trên ngọn nguyên, hình mác; lá phía dưới xẻ một hoặc hai lần hình lông chim. Mặt trên lá màu xám đến xanh đen, nhẵn hay có rất ít lông tơ, mặt dưới lá màu tro trắng, có rất nhiều lông tơ trắng như mạng nhện nằm dẹp, cụm hoa đầu, gồm nhiều hoa hình ống. Dược liệu có vị ngăm đắng.
Hình ảnh tham khảo:

Ngải cứu tươi, Ngải cứu sấy khô (Herba Artemisiae vulgaris).
2.2. Thành phần hóa học và hàm lượng:
Toàn cây Ngải cứu chứa tinh dầu có hàm lượng 0,20 – 0,34%. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là các monoterpenes, sesquiterpenes, triterpenes và flavones. Hơn 200 thành phần đã được phát hiện trong tinh dầu gồm 1,8‑cineol, camphor, terpinen 4‑O‑l, β‑pinen, (-)‑borneol, mycren và vulgarin (là những thành phần ít thay đổi) còn thujon (α hoặc β) thường có mặt với hàm lượng thấp hoặc đôi khi không có. Ngoài ra còn dehydromatricaria ester, tetradecatrilin, tricosanol, aracholalcol….
Các flavonoid hầu hết là 3-0- flavonol luterosid, một triterpene là fermenol. Đáng chú ý là hợp chất sesquiterpenlacton rất phổ biến trong chi artemisia, nhưng hiếm thấy trong Ngải cứu.
Eupatilin là một flavone có hoạt tính dược lý được tìm thấy trong ngải cứu Trung Quốc (loài Artemisia argyi Levl.et Vant).
Trong Ngải cứu Việt Nam, có nhiều chất màu indigo – base, gần 50 hợp chất đã phân tích và xác định có trong lá chủ yếu là β caryophylen 24% và β cubedene 12%.
Ngoài các tinh dầu, một số chất đã được phân lập từ cây ngải cứu có tác dụng dược lý có thể kể đến như : Eupatilin, Caryophyllene oxide, (E)-Phytol, Camphor, Rhamnocitrin (Kaempferol)…

Cấu trúc hóa học một số hoạt chất có trong Ngải cứu (Artemisia vulgaris L. , Artemisia argyi Levl.et Vant).
2.3. Các dạng bào chế hoặc thuốc dạng thành phẩm:
Theo nhân dân, Ngải cứu là cây quen thuộc trong nhân dân bởi ngoài làm rau ăn, ngải cứu còn được sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Thường sử dụng ngải cứu tươi, chế biến ngải cứu trong bữa ăn gia đình để chữa đau đầu (Bài thuốc chữa đau đầu: Lá ngải cứu non, tươi 150g, trứng gà 2 quả. Lá ngải cứu rửa sạch để ráo thái nhỏ. Cho trứng vào đánh tan cùng với lá ngải cứu đã thái nhỏ, thêm gia vị đem rán với dầu ăn), ngoài ra ngải cứu còn được dùng nhiều để chữa đau xương khớp do thoái hóa (Ngải cứu tươi 250g, dấm gạo 150ml, miếng vải mỏng, mềm. Ngải cứu rửa sạch, giã nát. Dấm đun cho nóng. Dùng mảnh vải gói ngải cứu giã nát trộn với dấm đã đun nóng đem xoa vùng đau 15 phút). Một số bài thuốc có sử dụng ngải cứu: bài thuốc Ngải cứu trị cảm cúm, ho do lạnh (Lấy 300g ngải cứu, 100g lá khuynh diệp, 100g lá bưởi đun sôi 20 phút với nước, xông 15 phút); bài thuốc ngải cứu trị mụn trứng cá (Lá ngải cứu tươi giã nát đắp lên mặt, để khoảng 20 phút rồi rửa lại mặt); bài Ngải cứu chữa kinh nguyệt không đều (ngải cứu, ích mẫu, hương phụ mỗi vị 8g, sắc uống, Cả hai đơn thuốc trên nên uống trước kỳ kinh khoảng 1 tuần)…
Trong y học hiện đại, Ngải cứu cũng được sản xuất ở dạng thành phẩm phối hợp với các vị thuốc khác dưới dạng viên nang, viên nén, viên hoàn, cao lỏng trong các thuốc điều kinh, bổ máu, bổ huyết, giải cảm (dưới dạng hỗn hợp cao đặc dược liệu). Hiện nay dạng thành phẩm có các thuốc sau: A.T ích mẫu điều kinh, A.T Ichmau, Cao ích mẫu, Cao ích mẫu – BVP, Cao ích mẫu TW3, Cao lỏng ích mẫu, Điều Kinh Ích Mẫu, Dưỡng cốt V.A, Hoàn an thai, Hoàn an thai Foripharrm, Hoàn Điều kinh bổ huyết, Ích mẫu hoàn, Ích mẫu PV, Ích mẫu TW3, Ích ngải hương, Ích nữ P/H, Kimazen bổ huyết điều kinh, Leucova, Phusacim, Thuốc dùng ngoài B/P,Viêm da Bảo Phương, Viên ích mẫu OP.CIM, Viên nang ích mẫu, Xuân nữ dưỡng huyết, …
Hình ảnh sản phẩm tham khảo:
| HOÀN ĐIỀU KINH BỔ HUYẾT | ||
| Mỗi viên hoàn cứng có chứa: | ||
| Thục địa | …………………………. | 1,2 g |
| Đương qui | …………………………. | 1,2 g |
| Bạch thược | …………………………. | 0,3 g |
| Xuyên khung | …………………………. | 0,3 g |
| Cao đặc Ích mẫu | …………………………. | 0,3 g |
| Cao đặc Ngải cứu | …………………………. | 0,15 g |
| Hương phụ chế | …………………………. | 1,2 g |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

Thuốc Hoàn Điều kinh bổ huyết của Traphaco có chứa thành phần Ngải cứu.
3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Công dụng, chủ trị:
Ngải cứu thường được dùng đơn độc hoặc dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác trong các trường hợp sau:
Trị kinh nguyệt ra nhiều, xuất huyết tử cung, đau bụng kinh, rong kinh.
Trị suy nhược cơ thể.
Trị lị trực khuẩn, đau bụng đi ngoài ra máu.
Chữa vết thương tụ máu. Dùng ngoài chườm nóng trị đau do sang chấn.
Ngoài công dụng điều kinh, ngải cứu còn được dùng làm thuốc cứu trong châm cứu, giúp sự tiêu hóa, chữa đau bụng, nôn mửa, thuốc giun, sốt rét.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng dạng sắc: Cần sắc theo hướng dẫn trước khi uống.
Dạng bột, tán nhỏ làm hoàn: tán bột, thường phối hợp với các dược liệu khác, dùng trực tiếp hoặc trộn với nước hoặc mật ong rồi nặn thành viên bằng hạt đậu xanh.
Dùng ngoài trong da liễu: Chế biến thành nước ngải cứu để dùng ngoài dưỡng da, chữa ngứa da, chàm và mụn nước. Đối với trẻ nhỏ và những người da dễ dị ứng, có thể pha loãng để làm giảm bớt sự kích ứng đối với da.
Dùng ngoài lượng tùy theo yêu cầu: giã đắp, bó, rửa và dùng Ngãi nhung trong khoa châm cứu.
Chế thành Ngãi nhung: làm thuốc cứu dùng trong khoa Châm cứu trị các chứng hàn và dương hư. Lá Ngãi cứu rửa sạch phơi khô trong râm, giã kỹ lại phơi, giã cho mịn nhung là được, sàng bỏ xơ, cuộn thành điếu ngãi mà dùng.
Liều dùng:
Dùng đường uống:
Dùng tươi, rửa sạch giã, lọc lấy nước uống.
Dùng loại khô: Dùng 4-15g một ngày bằng cách nấu, sắc theo hướng dẫn.
Dạng bào chế thành phẩm: Dùng theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất.
Dùng ngoài để dưỡng da, trị mụn: Cho 25-50g Ngải cứu tươi nấu với 1000ml nước hoặc 5g ngải cứu khô với 200ml nước.
4.3. Chống chỉ định:
Mẫn cảm với thành phần hoạt chất của vị thuốc/dược liệu.
4.4 Thận trọng, cảnh báo:
Lưu ý: tuy ngải cứu có nhiều tác dụng trong điều trị bệnh nhưng không nên dùng nhiều. Khi dùng lá ngải cứu sắc uống thay trà thì chỉ nên sử dụng khoảng 3-5g khô (9-15g tươi) và dùng theo từng đợt, khỏi bệnh thì ngừng.
Với phụ nữ cần dùng các món có ngải cứu để tẩm bổ hoặc an thai thì chỉ nên dùng 3-5 ngọn nhỏ (9-15g tươi), tránh dùng quá liều.
Không dùng cho những người âm hư huyết nhiệt.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:
Không ảnh hưởng.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Thời kỳ mang thai:
Chưa có nghiên cứu nào trên phụ nữ mang thai. Tránh dùng cho phụ nữ mang thai.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa có nghiên cứu nào trên phụ nữ cho con bú. Tránh dùng cho phụ nữ cho con bú.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Có thể gây dị ứng ngoài da ở những người quá mẫn cảm. Chưa ghi nhận được báo cáo về phản ứng có hại của thuốc.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Trong thời gian được điều trị, nếu nhận thấy có bất cứ tác dụng phụ nào xấu xảy ra hoặc các triệu chứng bệnh vẫn tiếp tục tăng nặng thì nên ngưng dùng ngay và tìm kiếm phương pháp chữa trị khác phù hợp hơn.
4.8 Tương tác, tương kỵ:
Dựa trên dữ liệu in vitro, flavon eupatilin có thể ức chế mạnh các thuốc được chuyển hóa bởi CYP1A2 và CYP2C9.
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
4.9 Quá liều và độc tính:
Chưa có nghiên cứu quá liều trên người.
Độc tính: LD50 của dầu Ngãi diệp thụt vào dạ dày chuột nhắt là 2,47ml/kg, chích ổ bụng là 1,12ml/kg của nước sắc Ngãi diệp chích ổ bụng là 23g/kg. Dầu Ngãi diệp phun sương, mỗi ngày 2 lần trong 30 ngày có thể gây viêm phổi kẽ cho thỏ.
5. Tính vị, quy kinh, tác dụng dược lý, cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Tính vị – Quy kinh – Công năng:
Tính vị: Ngải cứu có vị đắng, mùi thơm, tính ấm.
Quy kinh: Quy vào 3 kinh can, tỳ, thận
Công năng: có tác dụng điều hòa khí huyết, trừ hàn thấp, ôn kinh, an thai, giảm đau, cầm máu, sát trùng.
5.2. Tác dụng dược lý:
Tác dụng trị suy nhược, chống mệt mỏi: Dữ liệu trên động vật thí nghiệm cho thấy Ngải cứu có tác dụng chống mệt mỏi, giảm suy nhược cơ thể. Những con chuột được sử dụng tinh dầu Ngải cứu trong 30 ngày cho thấy axit lactic trong máu giảm, tăng đào thải axit lactic, mức tiêu thụ glycogen giảm và nồng độ nitơ urê trong huyết thanh tăng lên.
Tác dụng kháng viêm: Trong các thí nghiệm in vitro, tinh dầu từ ngải cứu ức chế sự giải phóng các chất trung gian gây viêm (oxit nitric, prostaglandin E 2 và các loại phản ứng oxy) và các cytokine (yếu tố hoại tử khối u alpha, interleukin 6, interferon-beta và protein hóa học đơn nhân). Ngải cứu có thể bảo vệ chuột khỏi tổn thương niêm mạc dạ dày do ethanol gây ra bằng cách ức chế phản ứng viêm và cải thiện tình trạng stress oxy hóa, do đó có thể dùng làm chất bổ sung trong chế độ ăn uống cho những người bị tổn thương niêm mạc dạ dày. Trong các thí nghiệm in vitro, sesquiterpenoids từ lá ngải cho thấy khả năng ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2 (COX-2).
Tác dụng kháng khuẩn: Trong thí nghiệm, tinh dầu ngải cứu cho thấy hoạt động kháng khuẩn chống lại cả vi khuẩn gram dương và gram âm. Nồng độ ức chế tối thiểu của tinh dầu đối với Staphylococcus aureus, Bacillus cereus, Bacillus subtilis, Listeria monocytogenes, Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa và Salmonella typhimurium lần lượt là 16 mcg/mL, 16 mcg/mL, 32 mcg/mL, 32 mcg/mL, 32 mcg/mL, 64 mcg/mL và 32 mcg/mL. Cơ chế có liên quan tới màng tế bào của vi khuẩn.
Tác dụng chống ung thư: Hoạt tính ức chế tăng trưởng được ghi nhận đối với nhiều dòng tế bào ung thư ở người, bao gồm cả các mô vú, phổi, tuyến tụy và tuyến tiền liệt. Tác dụng gây độc tế bào liên quan đến các enzyme chống oxy hóa đã được ghi nhận trong dòng tế bào ung thư bạch cầu. Chiết xuất từ lá ngải cũng cho thấy một số khả năng ức chế chống lại dòng u nguyên bào thần kinh.
Cơ chế một số tác dụng chính:
Eupatilin có đặc tính chống viêm và chống khối u, nó ức chế sự tăng sinh tế bào ung thư dạ dày MKN-1 nhờ kích hoạt caspase-3 và ức chế khả năng di căn của tế bào ung thư dạ dày thông qua việc giảm hoạt động của NF-κB và giảm các cytokine tiền viêm. Eupatilin ức chế tín hiệu của MAPK, IKK, NF-κB và eotaxin-1 trong tế bào biểu mô phế quản, dẫn đến ức chế sự di chuyển của bạch cầu ái toan. Tác dụng chống viêm của Eupatilin cũng được ứng dụng và nghiên cứu trong các bệnh viêm khớp. Eupatilin chống lại tổn thương thận cấp tính do thiếu máu cục bộ, cơ chế do làm tăng nồng độ heat shock protein 70 (HSP-70) và protein lymphoma tế bào B, đồng thời làm suy giảm nitric oxide synthase, Bcl-2 và caspase -3. Eupatilin còn có tác dụng ức chế hồi tràng và ruột kết, hữu ích trong việc điều trị các bệnh tăng nhu động ruột.
(E)-phytol có thể gây ức chế trên một số dòng tế bào ung thư khác nhau như MCF-7, PC-3, HeLa, HT-29, A-549, Hs294T … Nó là một chất kích hoạt cụ thể của PPARα, có tương tác với thụ thể GABAA. Phytol làm giảm phản ứng viêm bằng cách ức chế sự di chuyển của bạch cầu trung tính, nguyên nhân một phần là do giảm nồng độ IL-1β và TNF-α và làm mất cân bằng oxy hóa.
Caryophyllene oxide, một terpenoid oxy hóa tồn tại trong nhiều loại tinh dầu thực vật, được biết đến như một chất bảo quản trong thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm với đặc tính kháng nấm, chống viêm, chống ung thư, giảm đau… Caryophyllene Oxide và Lupenone có tác dụng hiệp đồng chống lại kí sinh trùng “Trypanosoma cruzi”. Nó ức chế sự tăng trưởng và gây ra quá trình tự hủy tế bào theo chương trình thông qua việc ngăn chặn các con đường PI3K/AKT/mTOR/S6K1, kích hoạt MAPK qua trung gian ROS và điều chỉnh 15-LOX.
Rhamnocitrin và kaempferol có thể tăng cường khả năng chống oxy hóa của tế bào, thông qua việc điều chỉnh biểu hiện của HO-1 và việc truyền tín hiệu MAPK. Rhamnocitrin và kaempferol không chỉ bảo vệ lipoprotein mật độ thấp khỏi quá trình oxy hóa mà còn ngăn ngừa sự hình thành xơ vữa thông qua việc ngăn chặn sự hấp thu của đại thực bào đối với lipoprotein mật độ thấp LDL đã bị oxy hóa.
Chưa rõ cơ chế tác dụng của các hoạt chất trong Ngải cứu.
5.3. Dược động học:
Chưa có nghiên cứu.
5.4. Các nghiên cứu lâm sàng và tiền lâm sàng:
(1) Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Viện dược liệu):
Cao ngải cứu có hoạt tính diệt và đuổi côn trùng, kháng đột biến và trừ giun. Hiệu lực của một thuốc gel chứa cao ngải cứu đã được nghiên cứu ở Nhật Bản trên 56 người có bệnh ngứa da. Kết quả rất tốt ở 67% bệnh nhân viêm ngứa da, 56% người viêm da dị ứng và 73% trường hợp khô da ở người già. Kết quả kém hơn ở một số trưòng hợp viêm da do tiếp xúc. Không thấy có tác dụng phụ. Cao nước ngải cứu có tác dụng ức chế rõ rệt sự phát triển của vi khuẩn gram – dương và gram – âm in vitro. Nó ức chế đáng kể sự phát triển của vi khuẩn gây sâu răng Streptococcus mutans. Tinh dầu từ lá ngải cứu tươi thử ở 5000 ppm đối với nấm Aspergillus flavus ức chế phát triển nấm 67%.
Ngải cứu có thể gây viêm da tiếp xúc. Nước sắc ngải cứu có tác dụng lợi tiểu. Tác dụng này một phần do hàm lượng kali khá cao trong cây. Ngải cứu có tác dụng ức chế co thắt cơ trơn ruột chuột lang gây bởi histamin và acetylcholin, và ức chế co thắt phế quản chuột lang đặt trong bình khí dung histamin. Ngải cứu với liều tương ứng liều điều trị trên người không gây tổn thương cho nhiễm sắc thể; liều gấp 50 – 100 lần liều điều trị trên người không gây tổn thương đáng kể, ngoài hiện tượng nhoè nhạt và mở xoắn nhiễm sắc thể.
Tinh dầu ngải cứu có tác dụng kháng khuẩn đối với Proteus vulgaris, Síaphylococcus aureus, Diplococcus pneumoniae, Bacillus mycoìdes, Bacillus subtilis, Mycobacterium tuberculosis (giảm độc), Streptococcus hemolyticus, Salmonelia typhi, Shigella dysenteriae; không tác dụng với Bacterium pyocyaneum. Tinh dầu còn có tác dụng diệt Entamoeba moshkowskii với nồng độ ức chế tối thiểu 1:160. Một bài thuốc điều kinh trong có ngải cứu và 5 dược liệu khác đã được thử tác dụng trên tử cung cô lập chuột lang và thấy nước sắc của bài thuốc này (nồng độ 1/ 1.000 – 1/ 500) có tác dụng đặc hiệu gây co cơ trơn tử cung mà không làm co cơ trơn ruột của cùng con chuột lang. Ngải cứu khi thử riêng rẽ cũng có tác dụng đặc hiệu như vậy.
Ngải cứu cho động vật uống với liều gấp 10 lần liều bình thường trong một tuần không gây biểu hiện độc và không làm biến đổi các thành phần của huyết thanh. Tinh dầu ngải cứu có tính chất kích thích làm cho say, alpha – thuyon có trong tinh dầu có tác dụng hưng phấn, nhưng dùng nhiều có thể gây điên cuồng. Nước cất lá ngải cứu làm điện phân đã điều trị cho 77 bệnh nhân mắc các bệnh khớp và chấn thương phần mềm. Kết quả tốt trên 60 bệnh nhân (hết sưng, hết đau). Kết quả khá và vừa trên 15 bệnh nhân. So sánh với điện phân bằng novocain, natri salicylat và pyramidon, thì thấy tác dụng điều trị điện phân bằng ngải cứu nhanh hơn, giảm đau tốt và không gây dị ứng. Điện phân novocain có thể gây dị ứng mẫn cảm ở bệnh nhân.
Siro ngải cứu dùng cho 20 bệnh nhi viêm cầu thận cấp, được theo dõi lâm sàng và cận lâm sàng, thấy thuốc có các tác dụng: giảm protein niệu rõ rệt, rút phù, giảm urê máu, tăng hệ số thanh thải và tăng đạm toàn phần trong máu. Sau 2 năm theo dõi chưa thấy tái phát, các cháu vẫn khoẻ, ăn mặn, protein niệu âm tính. Bài thuốc Lục vị hoàn phối hợp với ngải cứu, câu kỷ tử, trứng gà được áp dụng trên 13 bệnh nhân đục thuỷ tinh thể và theo dõi trong một năm, có kết quả tốt trong đục thuỷ tinh thể nhẹ được phát hiện sớm, hạn chế được bệnh tiến triển, tránh phải can thiệp bằng phẫu thuật.
Một loại cao dán từ một số tinh dầu trong có tinh dầu ngải cứu đã được bào chế để chữa sai khớp, bong gân, chấn thương. Hai bài thuốc trong có ngải cứu và một số dược liệu khác đã được nghiên cứu sản xuất để điều trị bệnh cao huyết áp và điều kinh có kết quả tốt. Bài thuốc trong có ngải diệp và 7 dược liệu khác dã dược điều trị cho 31 thai phụ sẩy thai liên tiếp, trong đó 26 người chưa có con và 5 người đã có 1 con. Thời gian điều trị trung bình 45 ngày. Kết quả là 31 người đã giữ được thai, tỷ lệ 93,7%. Nếu có triệu chứng doạ sẩy ra huyết hay động thai nhiều lần, kết quả điều trị không được tốt.
(2) Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS.TS. Đỗ Tất Lợi (2004):
Tinh dầu ngải cứu có tính chất kích thích làm cho say, alpha – thuyon có trong tinh dầu có tác dụng hưng phấn nhưng dùng nhiều có thể gây điên cuồng.
Nói chung, tác dụng dược lý của ngải cứu ít thấy tài liệu nghiên cứu mặc dù ngải cứu được đưa vào Dược điển của nhiều nước trên thế giới, chủ yếu làm thuốc điều kinh.
(3) Nghiên cứu khác:
Theo tài liệu nước ngoài các chất herniarin và umbelliferon tồn tại trong than, lá ngải chân vịt có tác dụng an thần, lợi mật, kháng khuẩn, diệt giun sán, cầm máu. Chất herniarin còn có tác dụng bảo vệ gan để điều trị viêm gan. Chất lactiflorenol trong tinh dầu có tác dụng bình suyễn, kháng khuẩn.
Theo kinh nghiệm dân gian, Ngải cứu được dùng chữa bế kinh, đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, đại tiểu tiện ra máu, ho, vết thương dồn dập.
Tại Châu âu Ngải cứu được sử dụng kích thích tiết dịch dạ dày ở bệnh nhân chán ăn, chống đầy hơi, chướng bụng, đau bụng, tiêu chảy, táo bón, chuột rút, nhiễm giun sán, động kinh, nôn, các vấn đề về kinh nguyệt, kinh nguyệt không đều.
Hiệu lực của một thuốc gel chứa cao ngải cứu đã được nghiên cứu ở Nhật Bản trên 56 người bị bệnh ngứa da. Kết quả rất tốt ở 67% bệnh nhân viêm ngứa da, 56% người viêm da dị ứng và 73% trường hợp khô da ở người già. Không thấy tác dụng phụ.
Kết quả kháng khuẩn ở 4 chủng vi khuẩn: Escherichia coli, Salmonella typhimurium, Staphylococcus aureus, Shigella boydii cho thấy tinh dầu ngải cứu thu được bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước trực tiếp có khả năng kháng phổ rộng, kháng được các chủng vi khuẩn gram (+) và gram (-). Tinh dầu nguyên chất có khả năng kháng vi sinh vật mạnh nhất và có hoạt lực kháng khuẩn mạnh hơn cả kháng sinh Ampicillin đối chứng. Khả năng kháng khuẩn của tinh dầu ngải cứu giảm dần theo độ pha loãng tinh dầu. Kết quả cho thấy khi pha loãng tinh dầu ngải cứu 10-4 (rất loãng) nhưng vẫn cho kết quả nhạy đối với các chủng Salmonella typhimurium, Escherichia coli. (Nghiên cứu trích ly tinh dầu ngải cứu, xác định các chỉ số hóa lý và khảo sát hoạt tính kháng khuẩn – Trịnh Thị Như Quỳnh 2021)
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Đặc điểm, nguồn gốc, phân bố dược liệu, vị thuốc:
Đặc điểm nguồn gốc:
Ngải cứu là một loại cây thảo đa niên, cao 50- 100 cm, thân có rãnh dọc và lông mịn. Lá mọc so le, không có cuống (nhưng lá phía dưới thường có cuống), phiến lá rộng xẻ 5 thùy, 2-3 lần, mặt trên nhẵn màu lục sẫm, mặt dưới màu trắng tro do có nhiều lông trắng mịn (màu lá ở hai mặt khác nhau). Hoa mọc thành chùm kép gồm nhiều cụm hoa đầu; mang hoa cái hoặc hoa lưỡng tính, thường là hoa cái; hoa cái tràng hình ống, cụt hoặc có răng cưa ở đầu, hoa lưỡng tính tràng hình phễu, 5 thùy, uốn cong ra phía ngoài; nhị 5. Quả bế, thuôn nhỏ không có túm lông. Toàn cây có mùi thơm hắc. Mùa hoa quả vào tháng 10-12.
Phân bố:
Ngải cứu có nguồn gốc từ vùng ôn đới ấm châu Âu hoặc châu Á, hiện nay cây được trồng và trở nên hoang dại hóa ở vùng nhiệt đới Nam Á, Đông – Nam Á và Ấn Độ, Pakistan, Srilanca, Bangladesh, Lào, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc … Ở Việt Nam, cây được trồng từ lâu đời trong nhân dân từ nam đến bắc. Ở độ cao từ khoảng 800m trở lên, có cây ngải dại mọc tự nhiên rất nhiều ở tỉnh Lào Cai( Sa Pa, Bắc Hà, Bát Xát, Mường Khương, Than Uyên); Lai Châu ( Phong Thổ, Sìn Hồ, Tuần Giáo, Tủa Chùa); Yên Bái (Mù Cang Chải); Cao Bằng (Trùng Khánh, Bảo Lạc); Lạng Sơn (Vùng Mẫu Sơn); Hòa Bình (Mai Châu) và Hà Giang…chính ngải dại nguồn dược liệu được khai thác thường xuyên, mỗi năm phải đến 1000 tấn để sản xuất thuốc. Còn Ngải cứu trồng chỉ được sử dụng tại chỗ, trong phạm vi nhân dân.

Cây Ngải cứu (Artemisia vulgaris L).
6.2. Thu hái – Sơ chế:
Thường hái Phần trên mặt đất (Herba Artemisiae vulgaris) vào tháng 6 khi cây có hoa (gần tương ứng vớ tết mồng 5 tháng 5 âm lịch). Khi hái, có thể cắt cả cây hoặc cành lớn, rửa sạch đất cát, buộc lại từng bó, treo phơi khô trong bóng mát (tránh nắng gắt), khi khô kiệt lá sẽ rụng xuống, gom lại, cho vào túi, cất ở nơi khô ráo, dùng dần.
Ngải nhung: Lá được sao qua, để cho mềm, cho vào cối giã kỹ đến khi mịn như nhung là được, bỏ xơ và bột vụn. Dùng để châm cứu.
Trong phương pháp chữa bệnh bằng châm cứu, người ta có thể kích thích những huyệt hoặc bằng kim châm sâu vào da thịt, hoặc bằng cách đặt lên những huyệt một miếng gừng tươi mỏng có châm vài lỗ để tránh cho da thịt khỏi bị cháy bỏng nhưng hơi hóng vẫn ngấm tới da thịt rồi vê một nắm ngải nhung bằng một mồi thuốc lào đặt trên miếng gừng mà đốt; sức nóng kích thích huyệt (gọi là cứu). Sở dĩ người ta dùng lông ngải cứu vì nó có nhiều tinh dầu, cháy lâu không tắt.
6.3. Bảo quản:
Không bảo quản ở nhiệt độ trên 30°C.
6.4. Thông tin khác:
Không có thông tin.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS.TS. Đỗ Tất Lợi (2004).
Theo Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam của Viện dược liệu (Tái bản lần 1).
Theo Dược thư Quốc Gia Việt Nam.
Nguồn tổng hợp khác.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM