Theo namudinsider
Một nghiên cứu mới được công bố tại Hội nghị thường niên của hiệp hội ung thư lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO) 2017 đã đem lại “một niềm vui nhỏ” cho các bệnh nhân ung thư vú. Đó là kết quả của một nghiên cứu dài hạn trên những phụ nữ có thai sau khi được chẩn đoán sớm ung thư vú. Nghiên cứu viên chính, Tiến sĩ Matteo Lambertini, nhà nghiên cứu ung thư tại Học viện Jules Bordet, Brussels, Bỉ, cho biết: với thời gian theo dõi trung bình khoảng 12 năm trên 1200 phụ nữ tham gia nghiên cứu trong đó có nhóm các bệnh nhân có thai sau khi được chẩn đoán ung thư, không có sự khác biệt về tỷ lệ sống còn không bệnh giữa hai nhóm: nhóm bệnh và nhóm chứng. Nói cách khác, việc mang thai không làm tăng nguy cơ tái phát ung thư vú hoặc tử vong, “mang thai sau ung thư vú là an toàn, và không nên phản đối”, Tiến sĩ Lambertini trả lời phỏng vấn.
Điều quan trọng là nghiên cứu đã đạt được mục tiêu chính: việc mang thai không ảnh hưởng đến nguy cơ tái phát ung thư và tử vong ở các bệnh nhân ung thư vú dương tính với thụ thể estrogen (estrogen-receptor (ER)-positive), dạng ung thư chiếm phần lớn các trường hợp ung thư vú hiện tại.

Nghiên cứu này là một sự cập nhật hoàn chỉnh dựa trên một nghiên cứu đa trung tâm, bệnh chứng, thuần tập hồi cứu ở Châu Âu trước đó. Các bệnh nhân được chia thành hai nhóm: Nhóm mang thai bao gồm các bệnh nhân có thai sau khi điều trị ung thư vú, được phân loại tỷ lệ 1:3 tùy theo đặc điểm ung thư và điều trị; và nhóm chứng gồm các bệnh nhân không có thai sau điều trị ung thư vú. Trong đó có tổng cộng 57% bệnh nhân ung thư vú dương tính với thụ thể estrogen. Trong các phân tích thứ phát, các kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt giữa tỷ lệ sống còn không bệnh giữa các nhóm, không phân biệt phụ nữ đã hoàn thành thai kỳ hay sảy thai, mang thai dưới 2 năm hoặc hơn 2 năm sau khi được chẩn đoán ung thư vú, hay đã cho con bú.
Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng, đối với kết cục thứ cấp của tỷ lệ sống còn chung, không có sự khác biệt giữa các nhóm bệnh nhân ung thư vú dương tính với thụ thể estrogen. Tuy nhiên, có sự cải thiện đáng kể về tỷ lệ sống còn ở các bệnh nhân âm tính với thụ thể estrogen trong nhóm mang thai, kết cục giảm nguy cơ tử vong lên tới 42%. Mặc dù phát hiện này hết sức bất ngờ, song Tiến sĩ Lambertini đã không đề cập nhiều đến nó trong cuộc họp báo. Tuy nhiên, trong một tuyên bố, ông cho rằng: “Thai kỳ có thể là một yếu tố bảo vệ cho các bệnh nhân ung thư vú âm tính với thụ thể estrogen, thông qua hệ thống miễn dịch hoặc các cơ chế hoocmon, nhưng chúng tôi cần nhiều nghiên cứu hơn về vấn đề này.”
Tiến sĩ Claudine Isaacs, nhà nghiên cứu ung thư học tại Trung tâm Ung thư Tổng quát Georgetown Lombardi ở Washington, Hoa Kỳ, không tham gia nghiên cứu đã bày tỏ những quan điểm khách quan: “Đây là những dữ liệu tuyệt vời”. Bà phân tích: Nghiên cứu mới này khác với các nghiên cứu tương tự gần đây bởi quy mô lớn hơn, thời gian theo dõi dài hơn và thông tin chi tiết hơn về đặc điểm thụ thể của bệnh nhân. Theo bà, đặc điểm về thụ thể là rất quan trọng bởi vì ung thư vú dương tính với thụ thể estrogen được thúc đẩy bởi estrogen. Các nhà khoa học vẫn lo ngại rằng nồng độ hoocmon estrogen tăng cao khi mang thai có thể kích hoạt sự phát triển của các tế bào ung thư còn sót lại trong cơ thể sau khi điều trị, điều này là rào cản lớn cản trở hy vọng mang thai ở các bệnh nhân ung thư vú. Và những kết quả từ nghiên cứu này đã xóa bỏ được những lo ngại đó.
Tiến sĩ Richard Schilsky, giám đốc điều hành y khoa của hiệp hội ung thư lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO), người điều hành cuộc họp báo, đã làm rõ rằng: Kết luận về “sự an toàn” chỉ đề cập đến sự tái phát của bệnh ung thư chứ không phải các biến chứng của thai nghén, chẳng hạn như dị tật.
Tiến sĩ Laura Spring, chuyên gia nghiên cứu ung thư vú ở Trung tâm Ung thư, Bệnh viện đa khoa Massachusetts, Boston, Hoa Kỳ cho biết: “Nghiên cứu này chưa cung cấp dữ liệu về thời gian tối ưu của việc mang thai sau khi điều trị ung thư vú”. Nghiên cứu cũng chưa đưa ra được hướng dẫn về việc quản lý những bệnh nhân ung thư vú ở giai đoạn sớm. Các nhận xét của Tiến sĩ Spring liên quan đến những tranh luận hiện nay xung quanh mâu thuẫn ở những phụ nữ sau điều trị ung thư muốn mang thai nhưng cũng cần duy trì liệu trình điều trị nội tiết trong 5 đến 10 năm để giảm nguy cơ tái phát của bệnh ung thư vú dương tính với thụ thể estrogen. Cho tới nay, các nhà nghiên cứu và bác sĩ điều trị ung thư vẫn gặp khó khăn khi tư vấn có nên mang thai hay không với các bệnh nhân sau điều trị ung thư vú. Về vấn đề này, Tiến sĩ Spring bật mí với báo chí rằng câu trả lời có thể đến từ nghiên cứu lâm sàng đang được tiến hành: “Kết cục mang thai và sự an toàn khi liệu pháp điều trị nội tiết bị gián đoạn ở bệnh nhân ung thư vú- POSITIVE” với các kết quả ban đầu đầy hứa hẹn. Mục đích của nghiên cứu này là để điều tra liệu tạm thời dừng liệu pháp nội tiết bổ trợ, với mục tiêu mang thai, có ảnh hưởng đến nguy cơ tái phát ung thư vú hay không.
Nguồn: medscape.com